“Đi, đi đâu mà tới nơi”

Trần Ngọc Mười Hai

Nếu cứ gọi bài hát đây là bài “Lữ Hành” thôi, thì cũng chẳng có chuyện gì để nói, cho đáng nói. Thế nhưng, giả như bạn và tôi, ta chú ý vào câu hát “rất tự nhiên” mà hỏi rằng “Đi, đi đâu mà tới nơi, thấy lòng lên phơi phới”, thì có lẽ tôi và bạn sẽ phải hỏi và nói thêm nhiều điều nữa, như:

“Người đi trên dương gian

Thở hơi gió từ ngàn năm

Gió lung lay Hoành Sơn

Gió dâng cao Biển Đông

Người đi trong thanh xuân

Sưởi hương nắng như lửa sống

Máu sôi như sắc trời

Bước nhanh vượt chân đời.

Đi, đi đâu mà tới nơi

Thấy lòng lên phơi phới

Đi phương nao mà tới đây

Chỉ thấy lòng còn say.”

Hôm nay tình đầy

Thương yêu tràn đầy

Thiên thu trong lòng này

Tương lai trong bàn tay.”

(Phạm Duy – bđd)

Quả là như thế. Khi đã có quyết định “lữ hành” rồi, hẳn là bạn và tôi, ta lại sẽ có rất nhiều điều để kể dù chẳng có gì; hay còn gọi là “Chuyện chẳng ra chi”, chẳng có gì mới mẻ như người viết rất thân ở đời thường từng kể câu truyện ở bên dưới:

“Thật vậy, chuyện đây chẳng có gì hết. Nhưng sao nó cứ đeo theo ám ảnh tôi từ mấy hôm nay. Tôi cứ nghĩ đến nó, nhớ rõ từng chi tiết, hình ảnh, từng xúc động trong lòng mình lúc đó. Để rồi, trăn trở băn khoăn, không biết người khác – những người Việt Nam lưu vong như tôi – có cùng một tâm trạng hay không, nếu họ chứng kiến câu chuyện chẳng có gì ở bên dưới. Đó là lý do tôi muốn kể lại những gì tôi đã nghe thấy cách đây mấy hôm. Và tôi nghĩ : kể lại, chắc sẽ làm nhẹ bớt những gì từ bao lâu nay tôi chất chứa trong lòng…

…Hôm đó, tôi đi mua đồ ở siêu thị. Sau khi kiểm điểm lại những gì mà vợ tôi dặn mua – một danh sách mười mấy món – tôi đẩy xe caddie lại xếp hàng để ra két. Vì đông người nên hàng thật dài, kéo sâu vào hành lang giữa hai dải kệ đầy bánh kẹo. Tôi đứng ở cuối cái đuôi, kiên nhẫn đợi, bởi vì người xếp hàng đã đông mà caddie của người nào cũng đầy ăm ắp.

Phía trước tôi, cách hai người, có ba con đầm tuổi choai choai chắc đi chung nên thấy xô đẩy nhau cười nói. Chúng nó nói chuyện với nhau, nói lớn tiếng như chúng đang ở ngoài đồng và như đứa này cách đứa kia hàng trăm thước! Một đứa bỗng lấy ra một điện thoại di động bấm nút rồi nói chuyện. Vì hai đứa kia đang nói lớn tiếng nên nó phải la lớn hơn để người đối thoại mới nghe. Đại khái, nó hỏi: “Hôm qua mày đi với thằng nào? … Super… Ừ! Ừ!… Thằng Alex hả?… Génial! … Ừm!

Ừm! … Génial! … Rồi mày làm sao?…Ừm! Ừm!…”. Bỗng nó rú lên vừa nhảy cẫng vừa hét vào máy: “Ố! Ố!…Super! Super! Génial!… Ờ… Thôi! Mày gọi lại tao há ! Bye ! “ Nó đóng máy lại mà mắt môi vẫn còn đầy kích động ! Có vài người nhìn nó, nhưng cái nhìn dửng dưng. Chẳng thấy có ai cau mày hay lắc đầu nhè nhẹ để thấy họ có phản ứng, dù là gián tiếp ! Coi như chuyện bình thường…

Tôi thì tôi không chịu được! Thật là mất dạy. Mà ở xứ Pháp này, cái thứ mất dạy như vậy, đầy! Chẳng còn nề nếp gì hết, chẳng còn lễ độ gì hết, chẳng còn kiêng nể gì hết. Loạn!

Chính trong lúc đó tôi nghe phía sau tôi giọng đàn bà nói tiếng Việt Nam: “Sophie! Đừng làm như vậy! Mẹ nói đừng làm như vậy!” Ngạc nhiên, tôi nhìn lại: đứng ngay sau tôi là một thiếu phụ Việt Nam tuổi độ ba mươi và một đứa bé gái tóc vàng mắt xanh cỡ chừng bảy tám tuổi. Thấy tôi nhìn, cô ta mỉm cười gật đầu chào, rồi tiếp tục nói với đứa con: “Mẹ dạy con làm sao? Muốn cái gì cũng phải hỏi ý mẹ trước. Thứ này ở nhà con còn tới hai hộp lận, ăn chưa hết mà con lấy nữa làm gì?” Đứa bé đứng cúi đầu. Cô ta nói tiếp, giọng hơi gằn: “Sophie! Nhìn vào mắt mẹ nè!” Đứa bé ngước lên nhìn mẹ, đôi mắt xanh chớp chớp. Người mẹ vừa nói vừa chỉ hộp bánh nằm trong caddie: “Con đem hộp bánh trả lại trên kệ hàng cho mẹ! Đừng làm cho mẹ giận, Sophie!” Đứa bé làm theo lời mẹ, rồi trở về nắm ống tay áo mẹ giựt giựt nhẹ, giọng như sắp ướt nước mắt: “Mẹ đừng giận con, nghe mẹ. Mẹ đừng giận con…” Ngạc nhiên, tôi nói:

-Cháu nói tiếng Việt giỏi quá, há cô!” Mẹ nó cười tươi:

-Dạ, lúc nào nó nói chuyện với cháu nó cũng nói bằng tiếng Việt. Còn nói với ba nó thì nó nói tiếng Pháp.

Rồi cô ta quay qua nói với con:

-Chào ông đi con. Con bé khoanh tay cúi đầu:

-Dạ chào ông”.

Tôi đưa tay xoa đầu nó, nói được có một tiếng “Giỏi” rồi nghẹn ngang. Tôi vội nhắm mắt quay mặt đi để che giấu niềm xúc động.

Nhắm mắt mà tôi vẫn thấy đứa bé khoanh tay cúi đầu chào, một cử chỉ rất tầm thường nhưng sao nó bật lên cho tôi hình ảnh quê hương, cái quê hương ngàn trùng xa cách? Từ lâu, rất lâu – có lẽ cũng gần ba mươi năm – tôi không còn thấy cái cung cách lễ độ đó. Ở Việt Nam, phần lớn các bà mẹ đều dạy con như vậy.

Bây giờ, trên xứ Pháp xa xôi này, một người mẹ Việt Nam trẻ tuổi chẳng những dạy đứa con lai nói rành rọt tiếng Việt mà còn dạy cả cung cách Việt Nam nữa. Người mẹ đó bỏ xứ ra đi, đã biết mang theo những gì quí nhất của quê hương. Hình ảnh Việt Nam bỗng ngời lên trước mắt… Trả tiền xong, tôi quay lại nói:

-Thôi! Chào cô nghen! Thấy cô dạy cháu bé như vậy, tôi thật cảm phục. Ở đây, hiếm lắm, cô biết không?”. Cô ta cười:

-Dạ! Có gì đâu? Mình là người Việt Nam mà bác. Dạ! Chào bác”.

Bé gái đang phụ mẹ chất đồ lên quầy cũng ngừng tay nhìn tôi cúi đầu chào… Thấy thương quá !

Trên đường về tôi miên man nghĩ tới người thiếu phụ trẻ tuổi đó và thấy quí những người như vậy vô cùng. Không phải tại vì hiếm mà quí. Mà tại vì nhờ có những người như vậy cái gốc Việt Nam vẫn còn, vẫn có trên khắp các nẻo đường lưu vong.

Rồi liên tưởng nhắc tôi một thằng bạn. Tụi tôi quen thân nhau từ nhỏ. Lớn lên, nó làm trong nhà nước, tôi làm hãng tư, nhưng vẫn thường gặp nhau. Nó di tản trước tháng tư 75 rồi định cư ở Pháp. Tôi bị kẹt lại, sống mấy năm trời lận đận. Sau đó tôi vượt biên. Rồi cũng định cư ở Pháp. Chúng tôi lại gặp nhau ở Paris. Nó làm việc cho nhà nước Pháp, cuộc đời ổn định từ lâu. Tôi lêu bêu một dạo rồi trôi qua Phi Châu mới có công ăn việc làm. Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau…

Phải hai mươi năm sau, về Paris tôi mới lại gặp nó. Nó có nhà ở dưới tỉnh, cách Paris cả ngàn cây số. Nhân dịp lên Paris ở hai ngày để dự đám cưới thằng cháu, nó tìm gặp lại tôi ở nhà một người bạn chung. Nói chuyện suốt cả buổi chiều vẫn chưa thấy đã.

Sau đó, nó biên cho tôi địa chỉ của nó trên một tờ giấy nhỏ, tôi nhìn mà nhớ lại thuở thiếu thời. Hồi đó, nó là một trong vài thằng viết chữ đẹp nhứt lớp, cho nên ông thầy chỉ định nó mỗi buổi sáng vào lớp trước giờ học để viết trên đầu tấm bảng đen cái thứ trong tuần và ngày tháng năm. Hồi thời đó, được chỉ định như vậy, “hách” ghê lắm ! Bây giờ, tuồng chữ của nó vẫn còn đẹp như xưa nhưng cứng rắn hơn.

Mấy hôm sau, tôi viết cho nó một bức thư dài, nhắc lại những kỷ niệm cũ mà hôm gặp lại nhau còn quên chưa kịp nhắc. Thằng con tôi bảo tôi viết xong đưa nó đánh vào máy vi tính rồi in ra cho tôi. Máy của nó có hệ VNI nên đánh chữ Việt Nam được.

Tôi nói:

-Không! Ba muốn gởi thư viết tay, nó trang trọng hơn. Ngoài ra, khi bạn của ba cầm lá thư trên tay, chưa đọc, chỉ nhìn tuồng chữ thôi, ông ta cũng sẽ thấy được ba trong từng nét bút. Còn thư đánh máy, nó không mang một bản sắc nào hết, nó cứng ngắt, vô hồn…

Mươi ngày sau, tôi nhận được lá thư hồi âm của nó. Thư đánh máy và bằng tiếng Pháp.. Tôi cảm thấy thật hụt hẫng. Tôi đâu có dè nó “mất gốc” đến độ như vậy! Tôi chỉ còn nhìn ra được thằng bạn tôi ở cái chữ ký, còn lại là một thằng tây nào đó chớ không phải một thằng Việt Nam! Tôi chua xót, nhưng cũng ráng đọc cho hết bức thư trước khi thả nó rơi vào sọt rác. Tình bạn mà tôi đã dành cho nó từ thời tuổi nhỏ chắc cũng đã rơi theo vào sọt rác, nghe nhẹ như hơi thở dài…

Đó! Câu chuyện không có gì hết mà tôi muốn kể lại. Suy cho cùng, chắc nó có mang một “cái gì đó” chớ không phải “không có gì hết”. Tại vì tôi không thấy. Chớ nếu nó không “nói” lên cái gì hết thì tại sao tôi cứ phải nghĩ ngợi băn khoăn?

Có lẽ tại vì lâu nay tôi thường nghe người Việt lưu vong than đã mất quê hương, mà tôi thì cứ cho là chuyện bình thường, chẳng có gì phải suy nghĩ. Chính cái cung cách khoanh tay cuối đầu chào của cô bé tóc vàng mắt xanh đã bắt tôi phải suy nghĩ. Nếu người Việt lưu vong giống thằng bạn của tôi thì đúng là họ đã để mất quê hương thật. Còn như họ giống mẹ con người thiếu phụ trẻ tuổi mà tôi gặp trong siêu thị thì làm sao nói mất quê hương?

Quê hương còn nguyên đó chớ, thể hiện bằng tư duy, bằng ngôn ngữ, bằng phong cách đặc thù Việt Nam. Đó là cái gốc mà mình đã mang theo, chỉ cần một quyết tâm gìn giữ, vun bồi là nó sẽ đâm chồi nẩy lộc… Còn hay hơn nữa : mình nên bắt chước người mẹ trẻ tuổi đó, coi chuyện gìn giữ cái gốc là chuyện tự nhiên, ai ai cũng phải làm. Tôi nhớ hoài câu nói của cô ta : “Dạ ! Có gì đâu ? Mình là người Việt Nam mà bác !”. Và tôi tin chắc : một người như cô ta chẳng bao giờ than rằng đã mất quê hương!

Bây giờ thì tôi thấy “câu chuyện không có gì hết” thật sự không phải không có gì hết!” (Tiểu Tử)

Kể truyện như nhà văn nổi tiếng có tên là Tiểu Tử ở trên mà lại bảo “Chẳng có gì hết” thì cũng hết biết! Chẳng có gì, tức muốn nói: chẳng chuyện gì ra hồn khiến ta phải suy nghĩ. Chẳng có chuyện gì ra hồn, tức: chỉ có một ý tưởng nhỏ bé về con người và cuộc đời người, ở đây đó rất đầy tính người và tình người, mà thôi.

Đọc truyện trên xong, bầy tôi đây thấy cần nói thêm đôi ba chuyện hoặc hát thêm đôi ba câu ở bài hát trên cho nó bõ, như sau:

“Người đi trong không gian.

Nhịp xe uốn vòng tử sinh .

Bánh xe tang ngoại ô.

Chiếc nôi trong vòng hoa.

Người đi trong nhân gian.

Tà áo rách cô hàng quán.

Sức tuôn trên cánh đồng.

Lúa thương vạt nâu sồng.

Người đi nghe xa xăm.

Mà chưa thấy bồn chồn chân.

Bước đi trong thời gian.

Vướng bao nhiêu lòng thương .

Người đi trong thiên nhiên.

Từ khi biết nhen lửa chiến.

Máu xương chôn lấp rồi.

Cỏ hoa mọc kín đồi.

Đi, đi mau rồi tới nơi .

Đất trời còn đen tối .

Theo tâm tư tìm gió khơi.

Đã thấy mặt trời soi.

Anh ơi ! Chuyện này .

Đây câu ruộng cầy.

Anh em trong một ngày.

Chung vai vơi thù ai.

Người đi sâu muôn nơi.

Tình trinh tiết làm thành đôi.

Áo chăn che tổ uyên.

Miếng cơm vui tình duyên.

Người đi, đi không thôi.

Ngày thế giới lên nguồn vui.

Ngát như hương lúa mùa.

Sẽ lên đường trở về.

Đường trở về…”

(Phạm Duy – bđd)

Mấy lúc sau này, bần đạo đây hoặc trích dẫn sách vở hay bài viết nhiều hơn là lý luận và tự mình viết và lách. Bởi, có viết cho nhiều, cũng “chẳng cho ra thứ gì hết”, tức: chẳng có gì lôi cuốn, hấp dẫn người đọc là người chỉ muốn xem và đọc những gì mới mẻ. Chứ, có ai buồn đọc đi đọc lại ba chuyện thần học khô khan, nhàm chán, đôi khi cũng nhức đầu nữa. Quyết thế rồi, nay bần đạo bầy tôi đây lại cậy nhờ đấng bậc ở đây đó, ban cho đôi ba tư tưởng nhỏ để có hứng mà viết tiếp.

Và hôm nay, nhớ lại chuyện đấng bậc nọ cứ là hay nói về đặc thù trừ ma đuổi quỷ ra khỏi con người, bần đạo đây bắt chộp được một đoạn thắc mắc “hỏi/đáp” đăng trên báo đạo ở Úc, bèn trích dịch và giới thiệu với bầu bạn như sau:

“Năm 2014, các Giám mục Hoa kỳ đã chấp thuận bản dịch cuốn “Trừ quỉ ma và những chuyện có hệ luỵ”. Mãi đến mùa xuân năm 2017, toà thánh cũng đã phê chuẩn bản dịch được trích dẫn này. Trong tiến trình cứu xét và chuẩn thuận, Giám mục đoàn Hoa kỳ đã triển khai một loạt các câu hỏi mà nhiều người đưa ra về “Trừ quỉ” với trừ tà. Do bởi truyền thông đại chúng vẫn hay tạo quan điểm về bản chất và cách áp dụng trong đời sống, nên các Uỷ ban Giám mục Hoa kỳ phụ trách Phụng tự đã chuẩn thuận bản hỏi đáp căn bản với hy vọng cung cấp cho người đọc một số thông tin rõ rệt về đề tài này.

Dưới đây là một loạt các câu như thế được đăng trên mạng theo cách ngắn gọn và sáng sủa, nên hôm nay xin mạn phép trích đăng cho rộng đường dư luận. Tuy nhiên, người đọc cũng nên biết rằng các câu hỏi đáp này chỉ thích hợp với họ đạo Churchin bên Hoa Kỳ, chứ không nhất thiết phải đưa vào áp dụng ở Úc Châu.

Hỏi: Trừ tà có nghĩa gì?

Đáp: Trừ tà là hình thức nguyện cầu đặc trưng Giáo hội sử dụng hầu chống lại quyền lực ma quỉ.

H: Có gì khác biệt giữa việc Trừ tà và Bí tích Xá giải hay không?

Đ: Trừ tà là phạm trù nguyện cầu trở thành một loại hình bí tích mà Giáo hội lập nên nhằm ‘thánh hoá các tình cảnh khác biệt trong đời người (X. Giáo lý Hội thánh Công giáo đoạn 351). Xem như thế, đặc trưng quyền phép đây khác hẳn bảy phép Bí tích do Đức Kitô truyền dạy giáo hội thi hành. Trong khi đó, Bí tích Xá giải là để thứ tha mọi lỗi tội và cũng để hoà giải những người vướng mắc loại hình tội lỗi như thế hầu đưa họ về lại với Giáo hội , tái tạo ơn thanh tẩy và tặng ban nhiều ơn lành để họ có khả năng chiến đấu chống ác thần sự dữ để tăng trưởng trong nhân đức. Vốn dĩ là Bí tích, phép trừ tà sửa soạn người trong cuộc về lại với ân huệ của Bí tích.

H: Tại sao Giáo hội lại cần đến phép trừ ta?

Đ: Nhiều trường hợp, trong đó người trong cuộc cần được bảo vệ để chống lại quyền lực của ác thần sự dữ; hoặc kéo ra khỏi sự áp chế tinh thần do ác thần sự dữ vây bủa. Lúc đó, Giáo hội mới công khai yêu cầu một cách có thẩm quyền nhân danh Đức Giêsu để bảo vệ hoặc giải thoát người vướng mắc, ngang qua phép trừ tà.

H: Có chương đoạn nào trong Kinh thánh được dùng làm nền tảng cho phép trừ tà không?

Đ: Một mặt, nền tảng của phép trừ tà đặt nơi công cuộc thừa tác của Đức Giêsu, nhưng nghi thức trừ tà cách công khai lại không có nền tảng Kinh thánh nào hết ngoại trừ các câu thánh vịnh và câu trích từ Phúc Âm trong đó có kể đến nghi tiết trừ tà dính dự vào. Tuy nhiên, điều rõ ràng là Đức Giêsu từng kéo các tông đồ của Ngài vào sứ vụ Ngài thực thi và ngang qua việc uỷ thác tiếp tục công việc như thế do chính Ngài khởi xướng như ta thấy ở các đoạn Tin Mừng Mát thêu 10: 8; Mác cô 3: 14-15; Luca 9: 1; 10: 17). Đó không là công tác các vị ấy làm nhân danh chính Mình, nhưng nhờ vào danh tánh Đức Giêsu là Đấng cho phép các vị làm như thế. Thế nên, công tác trừ tà được tiếp tục trong Giáo hội được coi đó như công tác mục vụ chăm nom các linh hồn.

H: Có chăng loại hình trừ tà rất khác biệt?

Đ: Có hai loại, hoặc hình thức trừ tà thật đơn giản hoặc hình thức thấp gặp thấy ở hai nơi: thứ nhất, là cho những người chuẩn bị đón nhận ơn thanh tẩy, còn được gọi là buổi Khai tâm Người Lớn Đi vào Đạo và Thanh tẩy trẻ nhỏ gọi là loại hình trừ tà nho nhỏ. Thứ hai, là phần phụ lục của sự việc “Trừ tà và công cuộc khẩn nài có liên quan như thế”, việc nào cũng bao gồm một loại các câu kinh vốn được người đi Đạo sử dụng. Việc thứ hai là việc trừ tà long trọng hoặc lớn lao vốn dĩ là nghi tiết chỉ được thực hiện do vị Giám mục hoặc linh mục được Giáo hội địa phương ban phép đặc biệt. Loại hình này trực tiếp đánh đuổi ma quỉ hoặc giải thoát đương dự bị bệnh ra khỏi vòng cương toả của quỉ ma.” (X. sách GLHTCG đoạn 1673)

H: Khi nào thì thành viên gia đình bị quỉ ám được đem đến với đấng bậc trừ tà Và các đấng bậc hành xử ra sao?

Đ: Cũng nên biết rằng: mỗi địa phận thiết lập nghị định thư để đáp ứng các câu hỏi của người nào đó cho rằng họ bị ma quỉ ám ảnh. Một phần trong nghị định thư có thẩm định phải đạt được để định vị tình trạng đích thực của đương sự. Chỉ sau khi xem xét cách xuyên suốt cả về y khoa, tâm lý lẫn xét nghiệm về tâm bệnh mới có thể đưa người bệnh đến đấng trừ tà làm xét định cuối cùng về chuyện người ấy có bị quỉ ám hay không. Nói rõ hơn, việc định đoạt xem người tín hữu nọ có thực sự bị tà ma ám hại hay không phải do Giáo hội quyết định, cả khi cá nhân người nào nghĩ rằng mình bị quỉ ám bằng việc chính mình tự chẩn đoán xem có bị rối loạn tâm thần không.

H: Việc trừ tà lớn có thường xuyên xảy ra không?

Đ: Việc thường xuyên tổ chức công cuộc trừ tà tuỳ thuộc nhu cầu thực tế có nghi tiết trừ tà. Điều đó có nghĩa tại sao phải có nghị định thư của giáo phận mới nên thực hiện, đó là tầm mức quan trọng của sự việc. Qua nhiều thế kỷ, Giáo hội cũng đã cẩn thận xem xét nguyên nhân gây nên trường hợp người bị quỉ ám. Lý do để làm thế, là vì Giáo hội không muốn bác bỏ việc tiếp cận nghi tiết này với những ai có nhu cầu thực thụ. Tuy thế, Giáo hội cũng quan ngại không kém rằng cá nhân các trường hợp quỉ ám tiêm nhiễm tâm não gây chấn động, co giật vì thế mới tạo ra hành động quái ác như thế. Dù các trường hợp thực sự bị quỉ ám được đặt ra theo cung cách quân bình với mức cẩn thận tối đa đối với đương sự mới phải lẽ.

H: Ai là người có thể thực hiện các việc trừ tà khác nhau?

Đ: Thừa tác viên thực thi việc trừ tà nho nhỏ được thừa tác viên có thẩm quyền của bí tích Khai tâm người lớn và rửa tội tẻ nhỏ, cử hành có chúc lành. Các câu kinh ở Phụ lục II của bản dịch có thể được bất cứ thành viên nào thuộc hàng giáo sĩ hoặc giáo dân có chức năng. Tuy nhiên, Nghi tiết Trừ tà Lớn phải được Vị Giám mục hoặc linh mục từng được phép đặc biệt và Giám mục địa phận phải rõ ràng định hình vị thừa tác viên ấy mới được. Trong trường hợp nào cũng vậy, đấng bậc trừ tà phải hoạt động chặt chẽ với và có sự hướng dẫn của một giám mục.

H: Linh mục bình thường có được chỉ định vai trò của vị trừ tà không?

Đ: Linh mục có thể được chỉ định làm đấng bậc trừ tà trên căn bản cố định hoặc đôi lúc cũng được Giám mục địa phận cho phép làm thế. Trường hợp nào cũng vậy, đấng bậc trừ tà phải kết hợp chặt chẽ với Giám mục và đặt mình dưới sự chỉ dẫn của Giám mục ấy, mới được.

H: Có buộc phải có giáo dân có mặt ở đó khi đấng bậc thực hiện việc trừ tà không?

Đ: Người đáp ở đây, có đề nghị rất mạnh là đấng bậc trừ tà đừng nên làm việc lẻ tẻ hoặc riêng rẽ. Cả những trường hợp hi hữu khó tránh, cũng không nên thực hiện trừ tà một mình.

H: Nên thực hiện việc trừ tà ở nơi nào?

Đ: Luật chung là, nên cử hành việc trừ tà ở nhà nguyện hoặc nơi nào phải phép như nguyện đường nhỏ, kín đáo tránh tầm nhìn của mọi người. Hay nhất là, đấng bậc trừ tà mỗi khi làm được, cũng nên sử dụng nơi trang nghiêm tỏ lòng tôn kính Chúa, chứ nhất quyết đừng làm tại nhà của bệnh nhân.” (X. CNS, The Catholic Weekly, Q & A on Exorcism, 05/11/2017 tr.17)

Trừ tà và trừ quỉ, chỉ là một trong các trường hợp hãn hữu xảy ra ở thời đại bây giờ. Nói cách khác, nhiều trường, có vị cứ tưởng là bị quỉ ma ám hại, nhưng kỳ thực chỉ là cơn bệnh của người bị tâm thần phân liệt, hay sao đó mà chỉ có các nhà phân tâm hoặc ý sĩ chuyên môn mới định vị được.

Dù sao, tưởng cũng nên nhớ lại câu truyện trừ tà ở Tin Mừng Luca với nhận định của Đấng thánh hiền, rằng:

“Có người đàn ông từ trong đám đông kêu lên: “Thưa Thầy, tôi xin Thầy đoái nhìn đứa con trai tôi, vì tôi chỉ có một mình cháu. Thế mà quỷ nhập vào cháu, khiến cháu bỗng dưng la lên, vật mình vật mẩy, sùi cả bọt mép, và khó lắm nó mới chịu rời cháu, bỏ cháu lại đó mệt nhừ. Tôi có xin các môn đệ Thầy trừ tên quỷ đó, nhưng các ông trừ không được.”

“Đức Giêsu đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi phải ở cùng các người và chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa?

Ông đem cháu lại đây!”

Đứa trẻ tiến lại, thì quỷ vật nó xuống và lay nó thật mạnh. Đức Giêsu quát mắng tên quỷ ô uế, chữa đứa trẻ, và trao lại cho cha nó. Mọi người đều kinh ngạc trước quyền năng cao cả của Thiên Chúa.”(Lc 9: 37 40)

Nhận định thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta về lại với bài hát được trích dẫn mà hát những câu ca rất đời thường, làm kết luận:

“Người đi nghe xa xăm.

Mà chưa thấy bồn chồn chân. Bước đi trong thời gian.

Vướng bao nhiêu lòng thương .

Người đi trong thiên nhiên. Từ khi biết nhen lửa chiến.

Máu xương chôn lấp rồi.

Cỏ hoa mọc kín đồi.

Đi, đi mau rồi tới nơi .

Đất trời còn đen tối .

Theo tâm tư tìm gió khơi.

Đã thấy mặt trời soi.

Anh ơi ! Chuyện này .

Đây câu ruộng cầy.

Anh em trong một ngày.

Chung vai vơi thù ai.

Người đi sâu muôn nơi.

Tình trinh tiết làm thành đôi.

Áo chăn che tổ uyên.

Miếng cơm vui tình duyên.

Người đi, đi không thôi.

Ngày thế giới lên nguồn vui.

Ngát như hương lúa mùa.

Sẽ lên đường trở về.

Đường trở về…”

(Phạm Duy – bđd)

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng đã đi và vẫn đi

Trong cuộc đời

Có đủ chuyện hiền lành tử tế

Lẫn ác thần, rất sự dữ.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.