Bệnh Viêm Gan C

1- Viêm Gan C (VGC) được truyền bằng cách nào?

VGC có thể truyền qua người khác do:

viem-gan-c1

 a- Truyền máu( khi máu không được kiễm chứng những bệnh truyền qua máu ví dụ như VGB, VGC, HIV

b- Khi mỗ dùng những dụng cụ không được khử trùng sạch

c- Những người chích thuốc phiện dùng chung kim với những người chích khác

d- Người xâm mình ở những nơi không hợp pháp

e- Truyền từ người mẹ sang trẻ sơ sanh( khoảng 6%)

d- Needlestick ịnjury

Số người bị truyền bệnh qua đường tình dục rất thấp. Tuy nhiên, người ta biết rằng một số siêu vi khuẩn VGC có thể hiện diện trong genital secretions. Do vậy nên VGC có thể được truyền từ đường tình dục. Nhưng những trường hợp này rất là ít khoảng 2%.. Một trường hợp ngoại lệ khác là làm tình trong khi người phụ nữ đang có kinh ( period) vì siêu vi khuẩn VGC có thể truyền qua máu của kinh?

2- Làm sao để thử nghiệm VGC?

Trước khi bàn luận về đề tài này, tôi xin nhấn mạnh một vài điễm quan trọng

a- Lúc mới bị nhiễm VGC, phương pháp thử nghiệm không thể phát hiện được(detect) chất kháng thể VGC(HCV Antibodies). Cần 2-3 tháng sau( phương pháp thử nghiệm mới nhất có thể phát hiện được VGC sau hai tháng) mới phát hiện được. Thời gian này gọi là WINDOW PERIOD.

Vd khi một người vừa bị nhiễm bệnh VGC đi thử máu liền, thì kết quả thử nghiệm sẻ là âm tính ( mặc dù người này vẫn bị bệnh VGC ). Người ta gọi cái này là false negative

Vì thế nên dợi khoảng 2-3 tháng sau khi bị nhiễm VGC mới đi thử máu

b- 80-85% những người bị nhiễm VGC sẽ mang siêu vi khuẫn VGC trong máu. Người ta gọi những người này làCARRIER. Còn 15-20% còn lại sẻ diệt được siêu vi khuẩn VGC( nghỉa là người ta đã tự chữa khỏi bệnh VGC và không còn có thể truyền bệnh cho người khác va sẽ được miễn nhiễm VGC).

viem-gan-c2

c- Có hai cách thử VGC. Cách thứ nhất là thử Anti-HCV( thử chất kháng thể của siêu vi khuẩn HCV – tiếng Anh gọi là HCV Antibodies). Cách thử nghiệm này chỉ nói cho người ta biết la người thử đã bị nhiễm bệnh VGC ( Thường thì nếu Anti-HCV dương tính nghĩa là positive, thì phòng thử nghiệm sẻ thử lại bằng một phương pháp thử nghiệm thứ hai khác để tránh bị false positive). Thử Anti-HCV không nói cho mình biết là người thử có bị Carrier hay không. Muốn biết mình có là carrier hay không phải dùng HCV RNA PCR( nghĩa là dùng phương pháp PCR để phát giác RNA của VGC). Phương pháp này có thể cho mình biết số lượng VGC( Viral load) trong máu và loại nào( subtype) vì nó rất quan trọng trong việc chữa trị

Kết quả Anti-HCV âm tính có nghĩa là mình thử quá sớm nên cần thử lại sau 6 tháng. Nếu kết quả sau 6 tháng âm tính nghỉa là mình không bị nhiễm VGC

Kết quả Anti-HCV và HCV RNA đêù dương tình nghĩa là người bệnh đã bị VGC và đang mang siêu vi khuẩn VGC trong máu.

 

Kết quả Anti-HCV dương tính nhưng HCV RNA âm tính có 2 nghĩa:

1- Có thể là mình đã bị nhiễm VGC nhưng bây giờ khỏi rồi.

2- Có thể là mình bị nhiễm VGC nhưng bây giờ trong máu vẫn còn HCV nhưng lượng HCV quá thấp nên phương pháp thử nghiệm không phát hiện được. Nếu mà người bệnh không có thuộc về những trường hợp dễ bị lây bệnh VGC kể trên thì người ta sẻ thữ lại trong vòng 1 năm. Nếu sau 1 năm mà HCV RNA vẫn âm tính thì co nghĩa là người bệnh đã không còn bị VGC nữa và những người này sẽ được miễn nhiễm lâu dài

Những em bé mới sinh bỡi những người mẹ bị nhiễm VGC phải đợi khoãng một năm sau mới thử Anti-HCV( vì chất kháng thể của người mẹ sẽ còn trong máu của em trong vòng một năm)

Người ta còn có thể dùng HCV PCR để xem coi thuốc chữa có hiệu quả không

Ngoài ra người bệnh cũng cần thử :

1- Những bệnh khác có thể truyền qua máu vd VGB,VGG( VIÊM GAN G), HIV vì những bệnh này thường hay bị truyền chung với VGC. Đặt biệt là HIV vì thường những người bị những bệnh này chung với VGC, bệnh sẽ phát nhanh hơn và thường sẽ bị xơ gan sớm hơn.

2- FBE

3- LFT (Liver function test)

4- TFT (Thyroid function test)

Trong những trường hợp bị bệnh gan nặng, người ta cũng thử AFP( ALPHA FETO PROTEIN) và siêu âm gan( ultrasound) để xem coi người bệnh có bị ung thư gan không.

 

Phương pháp chữa bệnh VGC

Trước khi quyết định có nên chữa VGC, người ta thường chú ý tới những yếu tố sau đây:

1- Vấn đề tài chánh vì thuốc chữa VGC rất tốn kém.

2- Tình trạng sức khoẻ chung của người bệnh vd người bệnh có uống thuốc, uống rượu, tuổi và giới tính( dưới 40 tuổi và nữ giới thì kết quả chữa tốt hơn).

viem-gan-c3

3- Loại VBC nào( genotype). Genotype 1&4 thường khó chữa hơn những loại genotype khác. Vì vậy thời gian chữa cũng lâu hơn và không có hiệu quả bằng vd genotype 1&4 phải chữa 48 tuần trong khi genotype 2&3 chỉ chữa trong vòng 24 tuần. Xác suất chữa khỏi bệnh genotype là 45-60% trong khi của genotype 2&3 là 80%.

4- Viral load( lượng VGC trong máu). Bệnh nhân nào mà viral load thấp ( dưới 2 triệu copies/ml hay là <800000IU/ml khi dùng phương pháp thử PCR) thì chữa bệnh sẽ có hiệu quả hơn.

5- ALT cao nghĩa là gan bị VGC phá hoại.

6- Kết quả thử nghiệm gan(Liver biopsy) bị hepatic fibrosis hay là xơ gan cần nên chữa.

Nói tóm lại là những người nào sức khoẻ tốt, không uống thuốc hay uống rượu, ALT cao và thử nghiệm gan bị fibrosis hay là xơ gan, hay là bị HIV +VGC cần chữa nếu có khả năng.

 

Sau đây là cách chữa được Quốc Tế công nhận.

Peginterferon alfa-2a( hay còn gọi là Pegasys)+ ribavirin( hay còn gọi là RBV). BS ở VN có thể giới thiệu chích thêm một loại thuốc khác nhưng điều này không cần thiết vì tốn tiền nhiều hơn , nhiều phản ứng phụ khác nhưng không được hiệu quả gì thêm.

a- Genotype 1&4 PEGAYS (180 micrograms)

– Chích 1 tuần 1 lần.

– Và uống RBV( mỗi viên nặng 200 mg)- nếu nặng dưới 75 kg uống 2 viên buổi sáng và 3 viên buổi tối; còn nếu nặng trên 75 kg uống 3 viên buổi sáng và 3 viên buổi tối. Thừi gian chữa trị cho genotypes
1&4 là 48 tuần.

– Thường thì sau 12 tuần chữa trị người ta thử lại HCV RNA PCR. Nếu viral load giảm dưới 2log hay là không phát hiện được sau 12 tuần chữa trị thì sẻ tiếp tục chữa trị. Còn nếu viral load không giảm nhiều thì BS sẽ ngưng chữa trị. Theo tin tức mới nhất gần đây, người ta có thễ thữ nghiệm HCV PCR sau 4 tuần chữa trị

b- Genotype 2&3 PEGAYS (180 micrograms)

– Chích 1 tuần 1 lần.

– Và uống RBV( mỗi viên nặng 200 mg)- 2 viên buổi sáng và 2 viên buổi tối (không cần phải tùy thuộc vào cân ký).

– Thời gian chữa trị là 24 tuầnkhông cần phải thử máu lại sau 4 hay là 12 tuần.

 viem-gan-c4

Triệu chứng phụ của:

1-Pegasys

-Những triệu chứng thường của Pegasys là triệu chứng giống như bệnh influenza( mệt mỏi,sốt ( fever), nhức đầu, đau nhức bắp thịt ( myalgia). Thường những triệu chứng phụ này sẽ giãm sau khi bệnh nhân đã chữa trị được vài tuần. Người bệnh có thể uống thuốc Paracetamol 500mg 1-2 viên 2 giờ trước khi chích và 2 giờ sau khi chích.

bệnh trầm cảm( depression) , anxiety và tâm thần thay đổi. Nếu bị depression nặng, BS có thể dùng thuốc trầm cảm như SSRI ( VD Aropax,zoloft, prozac).

2-RBV

– Có thể làm giảm Hồng huyết cầu( Hb) và platelets

– Da nổi sổi( rash), ho, đau cổ

– Bệnh nhân nữ dùng thuốc RBV phải dùng những phương pháp ngừa thai vì RVB có thể làm cho bào thai bi khuyết tật( congenital malformation). Sau khi ngưng thuốc RBV, nữ bệnh nhân không được thụ thai trong 6 tháng tới.

Trong thời gian chữa bệnh, phải thử LFT,FBE mỗi tháng và thử TFT mỗi 3-6 tháng và phải thường xuyên khám BS. Phải báo cáo với BS nếu có triệu chứng gì mới.

 

BS Nguyễn Chí Thiện

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.