Bóng tối và ánh sáng

Thuỵ Miên.

Nó dạo này có chút tuổi, nên thường ngủ hay mơ. Nó mơ về những vấn đề chân lý của cuộc sống con người. Xin mời mọi người cùng mơ với nó nhé, dù biết đời không như là mơ, nhưng để cảm tạ Chúa đã giữ gìn nó qua một đêm được bằng an, và giật mình nó thức giậy thấy mình hãy còn được sống.

Đêm về mang bóng tối đến với thế gian, người ta tìm đủ mọi cách thắp sáng màn đêm, để có thể làm thêm việc gì đó của ban ngày, còn đang dang dở làm chưa xong. Ánh sáng đã giúp nó nhìn thấy cảnh vật, thấy chính nó, thấy cái bóng của nó.

Nó so sánh sự sáng của ban ngày do mặt trời chiếu soi với cái ánh sáng của loài người phát minh ra đèn điện, thì thấy sự khác biệt to lớn biết là chừng nào. Hay nói khác đi sự sáng của Thiên Chúa thì rực rỡ, trong khi sự sáng của loài người thì thật là ít oi và giới hạn. Nhưng ánh sáng của loài người thì người ta thích thú khi có được ánh sáng để làm thêm việc. Còn ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô, lại ít có ai thấy được và thích được nhìn ngắm. Vì ánh sáng ấy, không phát xuất tự bên ngoài như bóng đèn điện, như ngọn đèn dầu, nhưng nó phát xuất tự bên trong của con người chúng ta, do ơn Thần khí của Thiên Chúa. Điển hình như ông thánh Phê-rô đã thưa với Chúa Giêsu, khi Người hỏi các môn đệ rằng: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Ông Si-môn Phê-rô thưa: Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Đức Giê-su nói với ông: Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”. (Mt. 16.15-17).

Hay do chính Chúa Giêsu đã nói với người Do Thái: “Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng của sự sống” (Gioan 8. 12).

Khi mặt trời lặn, màn đêm buông xuống, kèm theo bóng tối thì chính lúc ấy cũng là lúc Chúa muốn thân xác của chúng ta phải được nghỉ ngơi, để phục hồi sức khoẻ. Ngày xưa, khi chưa có đèn dầu, đèn điện thì các cụ làm việc theo ánh sáng của mặt trời. Cuộc sống của họ đơn giản để chu toàn bổn phận làm người, để lo sinh tồn. Mọi người sống trong làng đều có cuộc sống an bình trong tình thương của loài người, của thiên nhiên và của Thiên Chúa.

Đồng hồ của họ là “cái bóng” của những cây đa, của chính họ do bởi ánh sáng chiếu ra từ mặt trời rọi xuống mặt đất, nơi họ đang sinh sống. Họ thường đoán giờ giấc, qua kinh nghiệm khi căn cứ vào cái bóng của cây đa, của chính mình. Bóng ngả về phía bên trái, bên phải, hay đàng trước mặt, đằng sau lung hoặc đứng bóng mà biết thời gian sáng, trưa, chiều và tối.

Người Công giáo căn cứ theo tiếng chuông của nhà thờ, để biết về giờ giấc, thí dụ như: Chuông lễ ban sáng thì có chuông nhất là bốn giờ mười lăm, chuông lần thứ hai là bốn giờ rưỡi. Chuông ban trưa vào lúc 12 giờ, để mọi người ngưng làm việc, đọc kinh Truyền Tin, ăn cơm trưa và nghỉ ngơi. Chuông ban chiều thường kêu vang vào lúc sáu giờ chiều, và tối đến mọi nhà đều đọc kinh tạ ơn Chúa: “Lạy Chúa, lúc chúng con còn thức, xin Chúa cứu vớt cho. Khi chúng con đã ngủ, xin Chúa cũng giữ gìn, để cùng thức tỉnh với Đức Ki-tô, và nghỉ ngơi an bình. Amen”. (Trích trong Kinh Tối của trang Web của Nhóm phiên dịch các giờ kinh Phụng Vụ).

Khi còn trong độ tuổi làm việc, nó đã thường ước ao được trở lại cuộc sống an bình của thời ấu thơ, nhưng chẳng được. Bây giờ là lúc nó quyết định thay đổi cuộc sống, quẳng gánh lo đi để vui mà sống.

Trước hết, nó làm việc tuỳ theo sức khoẻ. Khi nó cảm thấy khoan khoái, khoẻ mạnh thì làm việc hăng say, ăn uống tuỳ theo cơn đói, và món nó thích, hay nhà có sẵn, thí dụ như: cơm nguội ăn với chao, dưa, hay cà ghém thịt ngon nhất đời; Mì gói thêm quả trứng gà thì đầy đủ chất dinh dưỡng. Còn khi nó yếu người thì nằm nghỉ, suy nghĩ sự đời, hay có thể ngồi viết hồi ký.

Hàng tuần ngoài việc đi lễ, nó thường đi thăm viếng thân nhân, bạn bè và những người già yếu. Chúa cũng ban cho nó cái bệnh quên như mọi người già: quên giờ giấc, quên hẹn hò, quên chuyện mới, và nhớ chuyện xa xưa. Điện thoại trở thành một thứ xa sỉ phẩm đối với nó, nó không còn thích dùng như hồi còn đi làm việc nữa. Khi nó gặp số điện thoại lạ thì tuyệt nhiên không trả lời, hơn nữa nó có nhớ số điện thoại của ai đâu, mà chẳng thấy lạ. Nó ngủ nhiều khi không được khoẻ, thức nhiều khi có việc phải lo.

Không gian của nó bây giờ giống như các cụ thường nói rằng: “Gà già quanh quẩn cối xay lúa mà thôi”. Không gian ấy gói gọn trong nhà của nó, hay nói đúng hơn là trong căn phòng của nó. Sở thích đi du lịch của nó ngày xưa, thì nay biến thành thời gian nằm trên giường đi du lịch bằng cách xem các phim ký sự trên “you tube”.

Thật vậy, nó thấy đi đâu cũng chẳng bằng ở nhà mình. Đỡ mệt và đỡ tốn tiền vì nó tuổi già, thất nghiệp thì lấy đâu mà ăn chơi phung phí như thiên hạ. Con cháu còn lận đận, bận rộn với cuộc sống hằng ngày, thì nó mơ ước làm chi cái chuyện xa tầm tay với ấy.

Cái tuổi thuộc loại bóng xế chiều của nó, đã khiến nó cảm thấy đầu óc mình u tối hơn thời còn trai trẻ rất nhiều. Bản tính năng động ngày còn trẻ của nó, tay chân, đầu óc làm việc ngày đêm không biết mệt, đã làm cho nó bây giờ ngày càng thêm tủi phận, vì sức khoẻ, đầu óc không còn ăn rơ với chân tay nữa. Mắt, tai cũng kém tinh nhuệ hơn xưa. Ôi cảnh sống tuổi xế chiều là thế đấy. Bóng tối bao trùm đời nó bằng những giới hạn thể lực, bằng những cơn bệnh đột nhập vào cơ thể của nó mà chẳng cần xin phép nó.

Lịch sử đã ghi chép về bóng tối bao trùm đất nước Việt Nam đã nhiều phen, khi bị Tàu xâm lăng, và khi bị người Pháp đô hộ, và gần nhất là tháng Tư đen, năm 1975. Cả đất nước nhuộm màu u tối, toàn dân miền Nam đeo tang cho sự mất quyền chính thể; Nhiều người mất cha mẹ, con cháu; Nhiều gia đình mất vợ, mất chồng; Nhiều tướng lĩnh, binh sĩ mất cả mạng sống vì kẻ thù là chính người đồng loại từ miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng sản. Dân chúng thì mất nhà, mất của, mất quyền làm người, mất tự do đi lại, mất tự do tín ngưỡng, và bị cưỡng bức đi đến những nơi rừng thiêng nước độc, để khai phá và sống với những thiếu thốn về mọi phương tiện. Bóng tối đã bao trùm trên văn hoá, đạo đức, luân lý của con dân miền Nam nước Việt. Cho dù mặt trời vẫn chiếu soi ánh sáng hàng ngày trên khắp quê hương, nhưng con người vẫn vô cảm trước những sự sống lầm than, khổ nghèo của nhau. Chủ nghĩa xã hội đang phá nát lòng hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ bằng các cuộc đấu tố, các cuộc vu oan, gán tội cho những người đã dạy dỗ, làm ơn cho họ. Thiên Chúa đã bị gạt bỏ ra ngoài giáo dục tại các trường học, các nhà thờ bị đập phá, sự truyền giáo bị cản ngăn… Mặt trời vẫn đen quá, đen như hòn than. Hy vọng đã tắt ngủm cho dù đã 44 năm trôi qua, bài hát du ca về hy vọng, mặc dù người ta vẫn còn hát, nhưng biết bao nhiêu người đã từng hát bài ca “Hy vọng” ấy, đã chết trong rừng, đã nằm trong lòng đất mẹ, trong lòng đất lạ quê người, hay đã nằm trong lòng cá mập, trong lòng biển của đại dương.

Ngày nay, bóng tối vẫn bao trùm thế gian như thời xưa dân Do Thái bị làm nô lệ. Loài người vẫn biết rằng mình đang là kẻ làm nô lệ cho công ăn việc làm để có của nuôi thân. Họ cũng biết mình xa lầy trong bóng tối của tội lỗi, của những cảm giác vô cảm, của những lần phạm lỗi mất đức công bằng, bác ác, tình yêu của người thân trong gia đình, của vợ chồng và nhất là của tình yêu Thiên Chúa.

Loài người vẫn chưa tìm ra được nguồn sống cho đời mình, đó là cuộc sống được ánh sáng Chúa Kitô soi đường chỉ lối, và ngày nay được Hội Thánh tiếp tục hướng dẫn chúng ta. Nó tuy là người Công giáo, nhưng cũng như mọi người giáo dân, nó vẫn thường vào nhà thờ đọc kinh và cầu nguyện xin ơn Chúa, xin đủ mọi loại ơn, nhưng ít có khi nào nó biết cảm tạ hay ngợi khen Thiên Chúa.

Nó thường xin các ơn cho con cái, cho cha mẹ cho người thân và cho bạn bè. Đủ mọi loại ơn: ơn bình an, ơn như ý, ơn tìm được việc làm… Nhưng có hai điều nó thường quên khi xin ơn đó là nó quên nhân danh Chúa Giêsu mà xin ơn, và khi xin ơn thì nó quên xin được theo ý Chúa. Hơn thế nữa nó đã quên ý nghĩa lời cầu nguyện của Kinh Lạy Cha. Trước hết là phải chúc tụng danh Chúa, cầu xin cho Nước Chúa được lan rộng khắp thế gian, và vâng ý Cha ở mọi nơi, mọi lúc.

Trích bài diễn giải thánh vịnh của thánh Âutinh, giám mục:

“Trong cuộc đời hiện tại của chúng ta, suy ngắm phải là ngợi khen Thiên Chúa, bởi vì niềm hoan lạc vĩnh cửu của chúng ta trong cuộc đời mai sau sẽ là ngợi khen Thiên Chúa. Không ai có thể thích hợp với cuộc đời mai sau, nếu bây giờ không luyện tập cho quen trước. Vậy hiện nay chúng ta ngợi khen Thiên Chúa, nhưng chúng ta cũng cầu xin Thiên Chúa nữa. Lời ngợi khen của chúng ta vang tiếng reo vui, còn lời cầu nguyện lại vọng tiếng than thở. Chúng ta được hứa cho điều chúng ta chưa có. Mà Đấng đã hứa là Đấng trung thực, nên chúng ta vui mừng vì hy vọng. Nhưng bởi chưa có, nên chúng ta than thở vì ước mong. Đối với chúng ta, kiên trì ước mong quả là điều tốt, cho tới khi nhận được điều Chúa hứa. Khi ấy, tiếng than thở qua đi, chỉ còn lời ngợi khen liên lỉ.

Vì có hai giai đoạn: một là hiện nay, trong cõi đời này, chúng ta phải thử thách gian lao; hai là chúng ta sẽ được yên hàn vui vẻ mãi, nên hai mùa ‘trước Phục Sinh’ và ‘sau Phục Sinh’, đã được lập ra cho chúng ta cử hành. Mùa trước Phục Sinh chỉ sự gian lao hiện nay chúng ta đang sống; Còn mùa sau Phục Sinh, chúng ta đang mừng thì chỉ sự hạnh phúc sau này chúng ta sẽ được hưởng. Vậy mùa trước Phục Sinh chúng ta cử hành là hoàn cảnh chúng ta đang sống đây, còn mùa sau Phục Sinh chúng ta cử hành, thì chúng ta ám chỉ điều chúng ta chưa nắm được. Vì thế, trong mùa đó, chúng ta ăn chay cầu nguyện để thao luyện, còn trong mùa này, chúng ta bỏ ăn chay để ca tụng ngợi khen Chúa. Đó là ý nghĩa tiếng reo mừng Ha-lê-lui-a chúng ta ca hát.

Quả thật, nơi Đức Ki-tô là Đầu chúng ta, cả hai điều trên đã được phác hoạ, cả hai đã được trình bày. Cuộc Thương Khó của Chúa tỏ cho chúng ta thấy đời sống khó khăn hiện tại, vì phải vất vả gian lao và cuối cùng phải chết; còn sự sống lại hiển vinh của Chúa lại tỏ cho chúng ta thấy đời sống chúng ta sẽ được lãnh nhận.

Vậy giờ đây, chúng tôi khuyên anh em hãy ngợi khen Thiên Chúa. Đó là điều mọi người chúng ta đang nói với nhau khi chúng ta tung hô Ha-lê-lui-a. Bạn nói với người khác ca tụng Chúa đi là bạn nói với chính bạn. Khi mọi người khuyên nhủ nhau là mọi người làm điều mình khuyên nhủ. Nhưng hãy ca ngợi bằng cả con người anh em, nghĩa là không phải chỉ có miệng lưỡi và tiếng nói, mà còn cả lương tâm của anh em, đời sống của anh em, hành động của anh em cũng ca tụng Thiên Chúa”.

Qua lời dẫn giải về thánh Vịnh của Thánh Âu Tinh ở trên. Chúng ta cần phải ca tụng Thiên Chúa trong nhà thờ, trong gia đình, và phải sống công chính ở ngoài xã hội để xứng đáng là con cái của Thiên Chúa.

Hãy làm chứng nhân sự Phục sinh của Chúa Giêsu, qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Hãy đi rao giảng Phúc âm bằng chính lời nói, việc làm, gương sáng, để mời gọi mọi người đến với Chúa.

Thiên đàng ở đâu nhỉ?

Nó nhiều lần đã suy ngắm thứ Hai, Mùa Mừng của kinh Mân Côi: “Đức Chúa Giêsu lên Trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Nó thắc mắc thiên đàng ở đâu, và thiên đàng gồm có những ai?

Ngày còn bé nó thường hát bài vè về thiên đàng:

“Thiên đàng. Hỏa ngục hai bên.

Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn.

Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha.

Đọc kinh cầu nguyện giỗ Cha linh hồn.

Linh hồn phải nhớ linh hồn.

Đến khi gần chết được lên thiên đàng”.

Qua cái sự suy nghĩ ấu thơ của nó thì thiên đàng ở trên trời, vì thân xác của Chúa Giêsu đã được cất lên trời trước mắt các môn đệ. Thiên đàng là nơi thưởng công cho các thánh nhân nên được đặt ‘ở trên’ và chết thì lên thiên đàng.Thiên đàng rất rộng, có nhiều chỗ cho tất cả mọi người tính từ khi Chúa tạo dựng lên ông Adong và bà Eva cho đến ngày tận thế. Thiên đàng có hàng rào hay hố vách rất rộng chung quanh, để ngăn chận dân nhập cư lậu vào thiên đàng, giống như tổng thống Trump của nước Mỹ xây dựng tường rào ở biên giới giữa nước Mỹ và nước Mexico. Hàng rào ấy chỉ có một cái cổng duy nhất, có ổ khoá, và ông Thánh Phêrô là người canh cổng, có chìa khoá ấy. Bên trong thiên đàng thì có ngai tòa Thiên Chúa tràn ngập ánh sáng hào quang, hương khói tỏa bay ngạt ngào, có các thiên thần bay lượn hát ca, có các thánh nhân nam nữ đi ra, đi vào, hay quỳ lạy và ca tụng Thiên Chúa suốt ngày đêm.

Và rồi cũng từ những hình dung theo kiểu những con số như thế, nên khi nói về Chúa Ba Ngôi thì người ta lại gợi ra hình ảnh Chúa Cha là một ông cụ già phúc hậu, vì Chúa Giêsu gọi Ngài là “Cha”. Tay Ngài cầm trái đất  và vui vẻ với sản phẩm mình tạo ra; Có một trung niên ngồi ‘bên hữu’ tay cầm cây thập tự là dấu hiệu của ơn cứu độ; Phía trên là con chim bồ câu tỏa sáng như câu chuyện ngày Chúa Giêsu chịu phép Rửa Tội bên bờ sông Gióc-đan.

Ở thiên đàng chỉ có toàn là hạnh phúc, và niềm vui bất tận, thanh bình và hoan lạc. Đau khổ, chiến tranh, hận thù, ghen ghét, không còn sinh sản và sự chết không còn hiện diện ở cõi thiên đàng.

Theo cuốn Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedicto soạn thảo ra (28/6/2005. Số 209) :

 “Thiên đàng” là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh. Như vậy các ngài tạo thành Hội thánh thiên quốc, nơi các ngài được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12); các ngài sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta.

Sự sống thật và theo bản chất cốt tại điều này: Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần, đổ tràn hồng ân thiên quốc trên tất cả không trừ ai. Nhờ lòng nhân hậu của Ngài, cả chúng ta nữa, chúng ta đã lãnh nhận lời hứa không thể mai một là được sống đời đời” (thánh Cyrillô thành Giêrusalem).

Sự sống toàn hảo như thế với Ba Ngôi cực thánh, sự hiệp thông về sự sống và tình yêu với Chúa Ba Ngôi, với Trinh Nữ Maria, các thiên thần và tất cả các thánh, được gọi là “thiên đàng”. Thiên đàng là cùng đích tối hậu và là sự thực hiện những khát vọng sâu xa nhất của con người, đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh viễn. Sống trên thiên đàng là “ở với Chúa Kitô” (Ga 14,3; Pl 1,23; 1 Tx 4,17).

Những người được chọn thì sống “trong Ngài”, nhưng họ vẫn giữ được, hay nói đúng hơn, họ tìm thấy ở đó bản sắc đích thực của mình, tên gọi riêng của mình (Kh 2,17). GLCG 1025.

Bởi vì sống là ở với Chúa Kitô: đâu có Chúa Kitô thì ở đó có sự sống, có Nước Trời (Th. Ambrôsiô, Luc. 10,121). Đó là giáo lý của giáo hội và là tín điều mọi Kitô hữu tuyên xưng.

Thiên đàng ở trong tôi.

Cứ theo định nghĩa của giáo hội thì thiên đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn, để các thánh nhân được chiêm ngắm Thiên Chúa. Mỗi khi đi tham dự Thánh lễ hay chầu Thánh Thể, tự nhiên nó cảm thấy mình đang ở thiên đàng rồi. Vì trong thánh lễ, vị chủ tế thường chào mọi người: “Chúa ở cùng anh chị em” là ý tưởng từ cái tên của Đấng Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta), thì quả tình là chúng ta đang ở thiên đàng rồi. Hơn thế nữa, vì ơn cứu độ đã được thực hiện bởi Đức Kitô, cho nên Người đã giao hòa đất trời, để mang trời vào đất và đưa đất vào trời.

Đặc biệt trong thời gian trước khi về với Chúa Cha, những tâm tư của Chúa Giêsu càng lộ rõ một tình yêu siêu việt hơn qua Bí Tích Thánh Thể, để Người sẽ “ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận cùng thế giới”. Không chỉ là Chúa Giêsu ở cùng mà còn trở nên sự sống, nên huyết mạch cho mỗi con người, khi chúng ta tiếp nhận Thánh Thể là mình máu Người như lương thực nuôi sống bản thân.

Cuộc sống con người quyện lấy cuộc sống Thiên Chúa như hồn với xác, như đất với cây cỏ, như nước với giòng sông, như cành với thân cây. Nếu như thiên đàng là nơi có Chúa, thì xung quanh nó với những giao tiếp, va chạm hằng ngày, thì đâu đâu cũng lộ ra hình ảnh một Thiên Chúa yêu thương hiện diện. Ngay cả trong những lúc nó thất vọng não nề hay khổ đau cùng cực, thì lời Chúa, tức là sự hiện diện của Chúa cũng kề bên: “Hãy đến với Tôi, hỡi những anh em đang mang ách nặng nề, Tôi sẽ nâng đỡ bổ sức cho” (Mt.11, 29). Tình yêu đó không giới hạn trong một không gian nhỏ bé, sự hiện diện đó không ràng buộc trong một yếu tố vật lý, nhưng chan hòa trong từng ngóc ngách của kiếp nhân sinh, bởi Thiên Chúa vui thích ở giữa con cái loài người.

Thiên đàng đã ở trong nó, vì Thiên Chúa ở cùng nó. Cảm nghiệm được điều này thì hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại của nó biết bao. Nó sẽ sống như Chúa sống; Nó sẽ cư xử với mọi người như với Chúa; Nó sẽ làm việc cùng với Chúa: Nó sẽ buồn phiền đau khổ cùng với Chúa; Nó thờ phượng và tin yêu Thiên Chúa cùng với các thánh nhân. Nó biết mình không lạc lõng khi gắn bó đời mình với một thiên đàng ngay tại trần thế, vì còn có nhiều tín hữu của hội thánh trần thế này cũng đang sống như thế.

Nhưng đường vào thiên đàng chắc không phải đường xa lộ rộng thêng thang. Vì Chúa Giêsu đã tâm sự rằng: phải đi qua cửa hẹp, phải vác thập giá, phải từ bỏ mình, phải tuân giữ và thực thi các giới răn của Thiên Chúa Ba Ngôi. Yêu Chúa thì dễ quá, nhưng trong ta vẫn còn nhiều bóng tối tội lỗi. Liệu chúng ta có thể bằng lòng, để ánh sáng của Thiên Chúa chiếu rọi khắp mọi nơi, mọi lúc trong cơ thể, trong tâm trí, tâm hồn và linh hồn của chúng ta hay không. Liệu chúng ta có thể mở cửa lòng chúng ta, mở cửa sổ tâm hồn của chúng ta để đón ánh sáng của Chúa Giêsu Ki-tô chiếu rọi vào hay không? Sự chọn lựa ấy, còn tuỳ thuộc vào nó và của từng mỗi cá nhân.

Chúng ta sống như thế nào để xứng đáng là môn đệ của Chúa Giêsu?

  • Trước hết, chúng ta hãy năng xét mình hằng ngày, để nhận biết thân phận yếu đuối và ươn hèn của chính mình để ăn năn, thống hối, và quyết tâm quay trở về nhà Cha qua Bí Tích Hoà Giải.
  • Chúng ta hãy học tập về Lời Chúa, để biết noi gương sống vâng lời, khiêm nhường, hiền lành, hy sinh, can đảm và tình yêu thương của Chúa Giêsu đối với nhân loại.
  • Chúng ta hãy luôn kết hiệp làm một với Thiên Chúa, để cùng được sống với Người và ở trong Người tại ngay trần gian này.
  • Chúng ta hãy dâng hiến những việc hy sinh, bác ái và chính đời sống của mình, mỗi khi chúng ta tham dự thánh lễ, để làm hoà làm một của lễ với Đức Giêsu mà dâng lên Chúa Chúa Ba Ngôi.
  • Chúng ta hãy kết hợp với Đức Mẹ và nhờ ơn Đức Chúa Thánh Thần, để đem Tin Mừng của Chúa đến với tha nhân và mời gọi họ lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa.

 -Sau cùng, chúng ta hãy cầu nguyện cho các đấng bậc Giám mục, Linh mục, tu sĩ Nam Nữ cùng mọi người làm việc Tông đồ giáo dân, để nước Chúa được lan tràn khắp nơi trên toàn thế giới.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin mặc khải cho chúng con hiểu biết về lòng thương xót của Chúa, cùng ban thêm sức mạnh và can đảm, để chúng con dám sống làm chứng nhân về việc Chúa Giêsu Phục sinh, chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen. 

Thuỵ Miên.