CÀNH NHO TỐT

  • Trần Bá Nguyệt
  1. Năm 1969, chúng tôi tốt nghiệp đại học và gia nhập quân đội.

Sau chín tháng huấn luyện tại quân trường Bộ Binh Thủ Đức (khoá chúng tôi trải qua chin tháng,vì phải về Saigon diễn binh hai lần, những khoá khác chỉ có sáu tháng), 15 anh em chúng tôi được chọn về dạy học tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội (AFLS – Armed Forces Language School) sau một cuộc thi sát hạch sàng lọc với khoảng 300 người tham dự. Nhưng chuyện muốn nói ở đây không phải chuyện dạy học hay chuyện quân sự, mà là chuyện tôn giáo.
Tại trường Sinh Ngữ, tôi lấy làm lạ là một số anh, trong số 15 bạn bè mới về trường, anh nào cũng cầm trong tay một tập sách tiếng Anh tách ra từ một cuốn sách. Tôi hỏi, sách gì vậy?
Các bạn trả lời: Kinh Thánh. Người ta nhờ chúng tôi dịch những chương sách Kinh thánh này từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

  • Tôi hỏi, để làm gì?
  • Kiếm tiền sài thêm vậy mà!
  • Có vậy thôi sao?
  • Ừa! Có vậy thôi. Dịch sách Kinh Thánh để kiếm tiền bỏ túi thêm vào với lương chuẩn uý!
  • Chỉ có vậy! Đôi khi, người ta còn yêu cầu chúng tôi giải thích những đoạn Kinh Thánh khó hiểu nữa trong những đoạn sách tiếng Anh đó.
  • Thế à! Hay nhỉ! Thế các bạn làm sao giải thích?
  • Thì mình giải thích theo ý nghĩa tiếng Anh thôi.
  • Nhưng làm sao bạn hiểu những ý nghĩa của từ vựng trong Kinh Thánh, ví dụ như Lễ Ngũ Tuần?
  • Thì mình tìm hiểu trong từ điển, và trong sách vở. Có gì khó đâu với thày giáo tiếng Anh.
  • Rồi sau đó?
  • À! Họ không hỏi han gì thêm nữa.

Sau này tôi mới hiểu. Đây là một cách “truyền giáo”, làm cho các bạn trẻ của tôi tự nhiên tìm hiểu về Kinh Thánh. Người nhờ dịch (và trả tiền) không ra mặt, không lễ nghi, không cầu kỳ, không rủ bạn tôi đi dự các sinh hoạt hay đi nghe Kinh Thánh, họ cũng chẳng bảo anh vào đạo hay hứa hẹn chuyện nước thiên đàng, hay doạ sẽ sa hoả ngục nếu … không “theo” họ và rửa tội hay gì gì nữa.

Biết đâu, một ngày nào đó, trong cái hiểm nguy của cuộc chiến phi nhân, phi lý, bỗng nhiên ta cảm thấy phải đi tìm một cách giải thích hay một con đường vĩnh cửu nào đó hợp lý hơn cho cuộc sống nay còn mai mất. Và lúc đó, những dòng chữ trong Kinh Thánh sẽ sống lại và tác động đến quyết định của mình.  Biết đâu!

  1. Zhang Boli. Tạp chí Newsweek có kể câu chuyện của một thanh niên Trung Quốc.

Anh sinh viên tại Thượng Hải (Shàng hăi) này đã từng tham gia vào chuyện đòi cải tổ Trung Quốc khoảng thập niên 1970 bằng những cuộc xuống đường đòi dân chủ. Anh cũng từng bị bắt, từng ra tù vào khám, bị đánh đập. Anh cũng từng thấy những cuộc thanh trừng, lật đổ, những trò chơi chính trị mà con người đối xử với nhau để tranh giành quyền lực. Anh cũng từng thấy những người hôm nay hét ra lửa, nhưng ngày mai đã bị đối thủ bỏ tù hay cho dựa cột cậy hoặc được đưa “đi học” ở một xứ sở xa xăm nào đó mà chẳng có ngày trở về. Chuyện xảy ra hà rầm ở Trung Hoa cho đến ngày nay tại những quốc gia độc tài, độc trị và độc đảng.  Bị truy nã gay gắt, anh trốn lên miền Bắc Trung Hoa và tìm đường sang Mông Cổ để sang phương tây.

Tại một ngôi làng rất xa thuộc tỉnh lỵ Xinyuan (phía Bắc vùng tự trị Xinjiang Uygur, phía Đông Kyrgystan) tuốt trên miền Bắc Trung Quốc, nơi chỉ có băng tuyết, núi đá và khí hậu khắc nghiệt, anh lạc vào một cánh rừng trong cơn bão tuyết. Giữa cánh rừng tuyết phủ, anh may mắn tìm thấy một ngôi nhà. Anh vào trong ngôi nhà giữa rừng ấy và xin ở trọ. Ngôi nhà chỉ có duy nhất một lão tiều phu. Ông lão cho anh ở trọ, nấu nướng thức ăn cho anh ăn. Những lúc rỗi rảnh, ông nhờ anh đọc một quyển sách viết bằng tay của Gioan. Quyển sách ghi lại cuộc đời và việc làm cho người nghèo, người cùng khổ của một thanh niên mà anh Gioan đã kể.  Khi thực phẩm cạn dần, ông cụ giết con gà duy nhất cho anh ăn trong một cử chỉ độ lượng chưa từng thấy. Ông cụ nói, tôi biết mình chẳng còn sống bao lậu nữa nên giành phần sống cho người thanh niên trai trẻ. Anh hãy lấy sức ra đi và tìm chân lý của cuộc sống. Phần tôi, thế này là quá đủ, nhất là đã giúp được một thanh niên có ý chí và nhiệt huyết như anh.

Zhang Boli vượt biên giới Mổng Cổ tìm đường sang Châu Âu và sang Mỹ. Tại Mỹ, anh nhớ lại lời ông gìa tốt bụng, người đã có một nghĩa cử đầy tình yêu mà chỉ có những người thấm nhuần tình yêu vô biên của Chúa mới có thể có được trong cái xã hội bon chen và không ngừng giành giựt nhau để sống này. Anh nghĩ đến những ngôi nhà cao vút có tường cao và chông gai nhọn hoắt cao vút tận trời với ánh sáng, tiếng nhạc xập xình ngày đêm trong đó …

Và anh quyết định giã từ “thế giới không có tình yêu đó” để tìm “sự thanh thản trong tình yêu thực sự” mà người thanh niên trong sách Gioan đã làm. Tình yêu đến với mọi thứ người bịnh hoạn, đui cùi, sứt mẻ, người cùng đinh bị xã hội khinh chê, kể cả gái điếm và kẻ thâu thuế làm tay sai cho Đế Quốc La Mã.  Anh tìm học Kinh Thánh và trở thành một tu sĩ tại Mỹ.

  1. Sống đạo giữa đời

Năm 2000, trên đường sang Rome dự Hội Nghị Gia Đình Thế Giới nhân dịp Năm Thánh 2000 trong phái đoàn giáo dân 22 người do Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề bạt, chúng tôi được một vị bô lão tiếp đón tại phi trường Charles de Gaule.

Ông cụ sống tại ngôi nhà huynh đệ trên sườn đồi vùng Rosny 2. Ngôi nhà mang số 128 đường Rue Babeuf, thuộc khu vực Rosny 2, được anh em Việt Nam tại Pháp và những du học sinh đặt tên là “ngôi nhà huynh đệ” vì đó là nơi tiếp đón những người Việt hay du học sinh có dịp sang Pháp mà không, hay chưa, có nơi nương tựa qua những ngày chân ướt chân ráo đến Thủ Đô Hoa Lệ Paris.

Những sinh viên được cho cư ngụ phần khu nhà phía sau sườn đồi của ngôi nhà chính. Ông cụ dạy họ tự tổ chức cuộc sống, phân công đi chợ, nấu nướng, cơm nước tự lo, tiền điện nước chia nhau trả  và người đến trước hướng dẫn người đến sau trong những bước chập chững tại thủ đô ánh sáng. Từ những việc rất nhỏ như đi xe điện ngầm, làm quen với khu cafeteria của đại học Sorbone,  hay đi siêu thị mua sắm. Trong đám sinh viên ấy, có người có đạo, có người không. Tôi và bà xã cũng được một cô sinh viên người Đà Nẵng dẫn đi Paris làm quen với thành phố và những tiện nghi tối thiểu như đi lại bằng xe metro và mua sắm. Chúng tôi cũng được đi bộ dọc theo Đại Lộ Champ Elyssé, con đường nổi tiếng Montmartre, thăm Nhà Thờ Đức Bà, Tháp Eiffeil, Viện Bảo Tàng Louvre, Đại học Sorbone, Đền Thờ trên đồi Sacré Coeur, Cối xay gió Moulin Rouge chỉ thấy trong những bài tập đọc tiếng Pháp của cuốn Course de Langue của Maugé khi còn học trung học trong nước. Chuyến trở về Paris sau khi dự Hội Nghị Gia Đình tại Rome, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm Lộ Đức, nơi Đức Mẹ hiện ra, gần sát biên giới Tây Ban Nha (Spain).

Ông cụ cũng đưa chúng tôi đến xem tiệm sách Việt Nam của Cụ trên bờ sông Seine và văn phòng Hội Huynh Đệ trong đó chứa hàng trăm hình ảnh và hồ sơ của các học sinh và nông dân Việt Nam mà ông cụ đã giúp đỡ. Ông cụ nói, phần lớn những người này không biết ông cụ là ai. Học sinh nghèo thì được cấp học bổng đi học trong nước. Sinh viên được tạo cơ hội qua Pháp du học (chúng tôi đã gặp những người này tại Ngôi nhà Huynh Đệ trên Rue de Babeuf).

Những nông dân trong nước được cung cấp bò giống, dạy cách làm phó sản của sữa. Những cô thợ dệt thổ cẩm người Chàm được cung cấp phương tiện may dệt và sản phẩm làm ra được chuyển sang Pháp tiêu thụ. Ít ngày ở với ông cụ, ông cụ nhờ chúng tôi soạn những loại thuốc tây xin được, cột chặt toa thuốc vào với vỉ thuốc (blisters), bỏ hộp để bớt nặng và ông cụ đóng thùng gửi về Miền Trung thiếu thốn và lúc nào cũng cần thuốc men các loại.

Hôm nay thì ông cụ đã không còn trên cõi thế. Sau khi về Việt Nam sống những tháng ngày cuối đời, năm 2010, ông  cụ đã ra đi và được chôn cất tại khuôn viên Nhà Thờ Thổ Hoàng, Hương Khê, Hà Tĩnh, quê hương của cụ. Lúc này người ta mới biết ông cụ là ai: một linh mục sống đạo giữa đời, Cha GB Nguyễn Đình Thi. Cha nói với chúng tôi: Tôi có cách giảng đạo của riêng tôi và Đức Tổng Nguyễn Văn Bình đã yêu cầu ông cụ ở lại Pháp để giúp đỡ Việt Nam, tốt hơn là về nước.

  1. “Thực hiện niềm tin bằng cách giúp đỡ người khác”

“Trong sáu ngày của tháng chín năm 2015, trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Francis đã làm say đắm toàn nước Mỹ.” Nguyên văn, “For six days in Septem ber, Pope Francis captivated America.”

Đó là lời nhận xét của Phó Tỗng Thống Mỹ, Ông Joe Biden, ghi lại khi được mời viết về ĐGH Francis, một trong những “Nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất hiện nay của thế giới” trên tạp chí Time ngày 2-9 tháng 5 năm 2016.

Ông Biden viết tiếp,”Tôi dã nhận thấy sự lôi cuốn đó khi Tổng Thống Mỹ và tôi tiếp đón Ngài đến Toà Bạch Ốc ‘tràn ngập những người ngưỡng mộ Ngài’. Trước đó, trong buổi nói chuyện tại Quốc Hội Hoa Kỳ, hàng ngàn người đã xếp hàng chật cứng National Mall tại Quốc Hội, hàng chục ngàn người nữa đã thấy Ngài khi Ngài đến New York và Philadelphia, và hàng ngàn và hàng nhiều ngàn người nữa khắp trên nước Mỹ xúc động vì sự hiện diện của Ngài từ khoảng cách xa hàng trăm dặm.”

“Đức Giáo Hoàng Francis đã thổi một luồng sinh khí mới cho toàn thế giới bởi vì từ con người Ngài đã luôn toát ra những giáo lý cơ bản nhất của học thuyết Công Giáo trổi vượt trên tất cả những niềm tin khác. Đó là ‘mọi con người đều có quyền được đối xử với phẩm giá và giá trị của họ (their dignity); mọi người có nhiệm vụ phải giúp đỡ những người cùng khổ, mọi người phải có trách nhiệm với nhau và trách nhiệm với hành tinh của chúng ta nữa’.”

“Ngài cũng là hiện thân của một bổn phận mang tính phổ quát tập thể của chúng ta đó là mang đến những ý nghĩa đích thực cho những nguyên tắc chung (của tình yêu), đó là niềm tin được thể hiện không phải chỉ trong những tín điều mà còn được thể hiện trong những hành vi chúng ta thực hiện cho nhau, với nhau, và vì nhau nữa.“

Người anh em trong câu chuyện dịch Kinh Thánh bên trên không giảng đạo, không dẫn người khác đến nhà thờ, nhưng đã dùng một phương cách khác – đó là nhờ những người chưa biết Chúa dịch Kinh Thánh. Một ngày nào đó, trong cái hỗn loạn của cuộc sống, hoặc khi tuổi đã về chiều,(biết đâu) một trong những người được nhờ dịch Kinh thánh để kiếm tiền đó sẽ nhận ra điều mình phải làm và thực hiện điều đó với người anh em của mình đang cần được gần gũi và giúp đỡ. Biết đâu khi chợt thực hiện một hành động nào đó không mang tính yêu thương, anh ta sẽ chợt dừng tay và suy nghĩ.

Ông già tiều phu trong câu chuyện của anh Zhang Boli vừa kể trên không thuyết giáo, không dài dòng, không yêu cầu, không bắt buộc, không lý thuyết dông dài, nhưng bằng một việc làm thật nhỏ đã làm tỉnh ngộ một thanh niên đang dồn hết sức mình chạy theo danh vọng và vật chất.

Vị linh mục già truyền giáo giữa đời kể trên có lối sống đạo với những người cần giúp đỡ: mấy anh chị sinh viên, mấy bác nông dân, cô dệt vải thổ cẩm người Chàm, những học sinh nghèo trong nước, những người dân thiếu thốn cần thuốc bên VN, ngay cả phái đoàn đi dự Hội Nghị gia đình Thế Giới Năm Thánh 2000 muốn có chỗ nghỉ chân tạm thời trên đất Âu Châu và có dịp ngàn năm một thuở được hướng dẫn đến viếng Lộ Đức, thăm thú các nơi tại Paris, … Những em sinh viên bơ vơ nơi Kinh Đô  Ánh sáng cảm thấy mình có một người anh lớn bên cạnh sẵn sàng giúp đỡ. Ông cụ nói, “Tôi chỉ gieo cho họ niềm tin vào cuộc sống, vào một thứ tình huynh đệ vô vị lợi với những người anh em.”

Linh mục Terry Charlton, Dòng Tên, trong cuốn sách “Linh Đạo Giáo dân (Spirituality for Lay Christians) có bài nói về Tự Do của người Kitô hữu. Người Kitô hữu tự chọn cho mình con đường là cành nho xanh tươi tốt sinh hoa kết quả hay chỉ là cành nho chẳng bao giờ cho hoa trái. Cái đó tuỳ cách thực hiện niềm tin của mỗi người bằng một hành động nho nhỏ nào đó với anh em đồng loại, với thiên nhiên và vạn vật chung quanh.

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.