Cầu Cho Gia Đình Là Kho Tàng Của Nhân Loại

Trần Bá Nguyệt, 7-2018

Hai cụm từ “Gia đình” và “kho tàng của nhân loại” nằm trong chủ đề mục vụ mà

HĐGM VN đưa ra trong tháng 8 này. Gia đình LÀ kho tàng? Tại sao? Nói đến tương lai và kho tàng của gia đình, không thể không nói đến con cái bởi vì có con cái mới có tương lai của gia đình. Giáo Hội đã gọi “Con Cái là Mùa Xuân của Gia Đình” (Chủ đề Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ Ba năm 2000 tại Rome). Mùa Xuân là khởi đầu của một năm, nói khác đi đó là khởi đầu một tương lai. Nếu không có con cái thì tương lai của gia đình là gì. Năm 2003, chủ đề của Hội Nghị gia đình là “Phẩm giá của con cái” (The Dignity of the Children). Bởi vậy những Đại Hội sau được tổ chức ba năm một lần toàn thế giới và mỗi năm một lần tại các Châu Lục đều nhắc đến Cha Mẹ và Con Cái. Không có con cái sẽ không có tương lai của gia đình và nhân loại. Nhưng tình trạng con cái hiện nay ra sao? Có phải tất cả mọi người con đều đã được sinh ra, được chăm sóc, dạy dỗ, “tôn trọng và yêu thương” đàng hoàng hay chưa? Tình trạng con cái và trẻ em trên thế giới hiện nay ra sao? Người lớn đã làm gì và có hoàn thành trách nhiệm nuôi dưỡng thành quả của mình từ ngưỡng cửa gia đình hay chưa? Gia đình là kho tàng (rất đúng), với con cái chính là những kho báu chứa đựng kho tàng đó cho toàn thể nhân loại bởi vì con cái là những công dân tương lai của nhân loại cần sự đầu tư đúng mức.

  1. Thảm cảnh trẻ em hôm nay

  1.1  Hai em bé sinh đôi 3 tuổi bị nhốt trong thùng gỗ.

Ngày 14-7-2018, bản tin Yahoo-News buổi tối đưa tin, “hai em bé sinh đôi, ba tuổi, bị nhốt trong một chiếc thùng gỗ (crate) kín bốn mặt có dây xích và khoá chặt trong khi bố mẹ đi làm ngoài đồng ruộng”. Câu chuyện xảy ra tại thị trấn Aperecidinha của tiểu bang Espirinto Santo thuộc nước  Brazil.

Cảnh sát được dân chúng báo tin đã đến và thấy “hai đứa bé ba tuổi sinh đôi bị nhốt trong cũi gỗ có dây xích và khoá, không đồ chơi, không một chiếc gối và không có một chút tiện nghi nào cho em bé”.

Bức hình chụp cho thấy chiếc thùng gỗ được đặt trong góc nhà bên cạnh một chiếc ghế bành. Chiếc hộp gỗ có một vài khe hở giữa những thanh gỗ. Có vẻ như hai em bé ba tuổi đã cố gắng  len giữa các khe hở đó để hít thở không khí. Chiến box này còn bị ngăn làm hai đến nỗi hai em bé không thể đụng vào nhau trong khi không có đồ chơi, không có chiếc gối để kê đầu và chẳng có bất cứ thứ đồ vật nào thường dành cho các em bé.

Cảnh sát đã bắt hai vợ chồng và điều tra về sự ngược đãi trẻ em khủng khiếp của hai người. (Nguồn: Yahoo-News, 14-7-2018)

1.2  Cậu bé Thái Lan trong toán cầu thủ nhí bị mắc kẹt trong hang Tham Luong

Ardoon Sam-aon, là cầu thủ nhí trong 12 cầu thủ thuộc đội bóng Wild Boars bị mắc kẹt trong khu hang động Bắc Thái Lan mà cả thế giới đã hồi hộp theo dõi và trông chờ cuộc giải cứu diễn ra trong 18 ngày đầy gian nguy và mong manh của các thợ lặn quốc tế tại Tháilan.

Cậu bé 14 tuổi nói rành 5 ngoại ngữ (Tiếng Anh, Thái, Myamar, Trung Quốc và tiếng dân tộc Wa là ngôn ngữ của gia đình cậu bé). Cậu bé đã quá quen với những nguy hiểm vùng biên giới Thái-Miến. Gia đình Ardoon trốn thoát khỏi vùng lãnh thổ của người thiểu số tại Myanmar, nơi chiến tranh du kích bộc phát giữa những nhóm buôn bán ma tuý và quân chính phủ. Bố mẹ đã đưa Ardoon qua biên giới tới Thái Lan để hy vọng có cuộc sống tốt đẹp hơn và có thể được học hành. Gia đình Ardoon được một nhà thờ cho tạm trú tại thị trấn Mac Sai.

Hình ảnh cho thấy Ardoon “luôn tươi cười và đã giao tiếp một cách lịch thiệp với các thợ lặn  nước ngoài” (như lời tường thuật trên bản tin Yahoo) và cậu bé chuyển tới họ những nhu cầu khẩn cấp nhất của nhóm với khả năng ngôn ngữ của mình. Trong nhóm 12 cầu thủ nhí có ba em cũng thuộc dạng không-quốc-tịch (Undocumented Immigrants) như Ardoon cũng như chính người huấn luyện viên 25 tuổi cũng thuộc dạng này.

Liên Hiệp Quốc cho biết có khoảng 440.000 (440 ngàn) người sống trong tình trạng không quốc tịch (như em Ardoon). Phần lớn những người “không quốc tịch” như vậy là nạn nhân những cuộc xung đột sắc tộc đã điễn ra nhiều năm rồi tại Myanmar. Các nhóm nhân quyền cho biết có đến 3 triệu người trong tổng số dân 70 triệu của Thái Lan, quốc gia mà cho đến nay vẫn chưa ký phê chuẩn Hiệp Ước về Người Tỵ Nạn. Ardoon là một trong  5 người con trong gia đình được đi học.

   1.3  Những em bé Mexico bị tách rời cha mẹ và bị đưa vào các trại lều bạt do lính Mỹ thành lập.

Ngày 4 tháng 6 năm 2018, Tổng Chưởng Lý Mỹ, Jeff Sessions công bố một chính sách mới gọi là “Zero Tolerance” (“Tuyệt đối không khoan nhượng”) đối với những ai vượt biên giới từ Mexico vào Hoa kỳ bất hợp pháp. Chỉ trong vài tuần sau đó, đã có hơn 2.000 (hai ngàn) trẻ em bị tách rời khỏi cha mẹ và bị giam giữ trong tình trạng cách ly bơ vơ lạc lõng, đôi khi sau những hàng rào bằng sắt (chain-link fences)  dưới sự canh chừng lạnh lùng (cold care – chữ trong Báo TIME) của những lính biên phòng Mỹ. Tại Texas, ba trung tâm được khoác cho một cái tên rất mỹ miều “Trung Tâm Yêu thương (Tender Centers)” đã được thành lập để giam giữ (detained) những em bé chập chững biết đi (toddlers) và trẻ em (infants). Những tiếng kêu khóc xé lòng không dứt (wailing) gọi “baba” hay “má-má” được nghe rất rõ qua những loa phóng thanh của Trung Tâm Giam Giữ của Hải Quan  và Cảnh Sát Biên Phòng (Custom and Border Protection Detention Centers). Một luật sư của người tỵ nạn kể lại câu chuyện “một em bé bị kéo lôi khỏi người mẹ đã kêu gào khóc lóc đến nỗi ói mửa ra đường”. Corey Lewandowski, cựu nhân viên manager (quản lý) cho chiến dịch tranh cử của TT Trump  cho biết một em bé 10 tuổi bị tách ra khỏi cha mẹ khi em đang bị bệnh tự kỷ (Down Syndrom) nghiêm trọng. Còn cảnh vô nhân đạo nào hơn thế nữa. (TIME, July 2, 2018.)

Từ ngày 1-7, hàng ngàn và hàng ngàn người đã biểu tình khắp nước Mỹ để khóc và kêu gào về số phận của những em bé bị tách lìa khỏi cha mẹ cũng như những gia đình bị chia lìa. Người ta nghĩ đến The Lost Generation tại Úc khi người da trắng mới đến lập nghiệp đã tách rời con cái thổ dân để mong”huấn luyện chúng thành chủng tộc da trắng!”

Còn đâu sự đẹp đẽ của những câu chữ khắc trên tấm plaque bằng đồng được gắn dưới chân Tượng Thần Tự Do tại bến Cảng New York!!!

“Hãy đem đến cho ta những con người mệt mỏi vì cuộc sống, những con người nghèo khổ, những đám đông chen chúc nhau tìm một hơi thở tự do, cả những con người tơi tả bị ruồng bỏ và bị đẩy ra đại dương cuồng nộ. Hãy đưa họ tới đây, những kẻ không nhà, những con người bị loại bỏ quay cuồng trong bão tố. Đây là ngọn đèn tự do Ta vẫn giương cao đón chờ các con.”

Thế kỷ 21 được chứng kiến một chính phủ giàu có dự trù bỏ ra hai mươi tỷ đô la để xây bức tường ngăn người di cư vào nước mình!!! Có khác chi Bức Tường Bá Linh Ô Nhục ngăn người Đông Bá Linh đào thoát sang Tây Bá Linh năm nào! Sao không dùng món tiền đó để  vực dậy một nền kinh tế yếu ớt với 90 triệu dân ngay bên nách nhà mình?

1.4 Các em bé Nhật bị giam giữ trong thế chiến thứ 2 tại Hoa Kỳ

Không phải chuyện giam giữ trẻ em và tách rời chúng ra khỏi cha mẹ xảy ra lần đầu tiên tại Mỹ. Nửa thế kỷ trước, một chuyện tương tự đã diễn ra cũng chính do người Mỹ đối với người dân Nhật Bản.

Năm 1942, sau khi nước Nhật tấn công Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), người Mỹ đã lùng bắt và giam giữ 120.000 người Nhật tại San Jose (California). Trong số 120.000 người Nhật này có tới 70 phần trăm đã là công dân Hoa Kỳ. Ông Norma Y. Mineta, trước kia là Bộ Trưởng Thương Mại Hoa Kỳ (2000-2001), sau là Bộ Trưởng Giao Thông (2001-2006) và hiện nay là Dân Biểu Đảng Dân Chủ, nhớ lại, “Họ bị lùa ra khỏi nhà và bị giam giữ trong những khu hành lang đua ngựa” (Horse Racetracks). Lúc đó (năm 1942), Dân Biểu Mineta mới 10 tuổi. Ông viết tiếp, năm đó, ông còn quá nhỏ để hiểu sự việc và có thể bộc lộ sự giận dữ của mình.

Bốn mươi năm sau sự kiện 1942, Uỷ Ban Xét Duyệt Lại Những Vấn Đề về Cuộc Chiến của Chính Phủ Liên Bang Hoa Kỳ tuyên bố “việc giam giữ người Nhật – kể cả trẻ em như vậy – là không cần thiết về mặt quân sự. Uỷ Ban kết luận đó là một “thành kiến về chủng tộc, một hiện tượng sợ hãi, một mặc cảm tự ti, không đáng có về tâm lý (một thứ Hysteria) và là một thất bại về lãnh đạo chính trị”.

Dân biểu Mineta kết luận, “Điều tồi tệ nhất là chúng ta quên mất những giá trị của nước Mỹ là phải giúp đỡ những người khốn khổ và cô thế, phải mở rộng cõi lòng và vòng tay với những người đang cần sự giúp đỡ. Đó là giá trị của nền dân chủ Hoa Kỳ.“ (“America’s Recent Horrors Echo Its History”, TIME, July 2, 2018, Tác giả Norma Y Mineta, pp. 28)

  1. Tình trạng trẻ em bị bỏ rơi trên thế giới

Kho tàng của nhân loại là trẻ em hiện nay ra sao?

2.1 Trẻ em mồ côi và trẻ em lao động: Cơ quan UNICEF cho biết trên thế giới có tới 153 triệu trẻ em mồ côi. Có tới 168 triệu trẻ em là những lao động tay chân, chiếm tới 11 phần trăm số trẻ em toàn thế giới (Báo cáo của cơ quan Lao Động Quốc Tế – ILO).

2.2 Trẻ em thất học: UNICEF cũng cho hay có tới 263 triệu trẻ em không được đến trường. Trong số đó, có tới 61 triệu là các em độ tuổi tiểu học và 53 phần trăm là các em bé gái.

2.3 Sức khoẻ: Ngân Hàng thế Giới, World Bank, cho hay có tới 69 triệu trẻ em suy dinh dưỡng trên toàn cầu. Năm 2017, 75 phần trăm những em bé thiếu thốn này sống trong các quốc gia đang phát triển (Báo cáo của Cơ Quan Y Tế Thế Giới – WHO). Gần một nửa các em bé dưới năm tuổi chết do thiếu dinh dưỡng. Con số này cho thấy số trẻ em bị chết không cần thiết này lên tới 3 triệu em trong một năm (UNICEF). Có tới 66 triệu trẻ em đến lớp không có gì trong bụng tại các nước đang phát triển, trong đó 33 triệu tại các nước Châu Phi.

2.4 Tử xuất: WHO cho hay, mỗi ngày có tới 15.000 (mười lăm ngàn) trẻ em dưới 5 tuổi qua đời. Lý do là vì sinh thiếu tháng, suy não, tiêu chảy và sốt rét. Khoảng 45 phần trăm trẻ em chết do suy dinh dưỡng (WHO). 2,7 triệu trẻ sơ sinh qua đời trong tháng đầu tiên sau khi sinh ra và một con số khoảng chừng 2,7 triệu em chết ngay lúc sinh ra – still born, (WHO). Năm 2016 có đến 5,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi qua đời, tức là cứ mỗi phút có tới 11 trẻ em giã từ cha mẹ và không còn trên cõi thế và dĩ nhiên tương lai nhân loại mất đi cùng con số đó.

2.5  Nghèo khổ: Trẻ em chiếm gần phân nửa con số những người sống trong cảnh vô cùng nghèo khổ. Nói rõ ra là có tới một phần ba dân số thế giới sống vô cùng nghèo khổ (UNICEF). 2.6  Người tỵ nạn và di dân: Năm 2016, có đến 65,6 triệu người tỵ nạn, một nửa là trẻ em. Riêng trong hai năm 2015 và 2016, có đến hơn 2,5 triệu (hai triệu rưỡi) xin tỵ nạn tại Châu Âu (EUROPOL). Có đến 10,000 trẻ em không có người lớn đi kèm bị thất lạc tại Châu Âu trong cùng thời gian đó (EUROPOL). 2.7  Chiến tranh và xung đột: UNICEF cho hay có tới 250 triệu trẻ em sống trong những quốc gia đang có xung đột nội bộ. Cứ bốn em thì có một em đang sống trong những vùng có chiến tranh hay thiên tai, thảm hoạ. Cứ mỗi phút, có tới 20 trẻ em bị đẩy ra khỏi căn nhà của minh.

3.   Nền giáo dục của một dân tộc

Được nuôi dưỡng và lớn lên trong gia đình, hay một cộng đoàn hoặc rộng lớn hơn, một bộ tộc hay một đất nước, con người và người con lớn lên mang những ảnh hưởng và dấu vết của nền văn hoá cộng đồng đó. Các cầu thủ nhí trong biến cố “mắc kẹt trong hang tại Chiang Rai” (Bắc Thái Lan) vừa qua cũng như việc làm của người Nhật trong và nhất là sau các trận cầu World Cup vừa qua tại Nga chứng minh điều đó.

3.1 Người Nhật ở World Cup 2018

Cả thế giới đã ngả mũ tôn trọng người Nhật bởi vì những fans đi xem bóng đá tại Liên Xô trong mùa World Cup vừa qua (tháng 7 năm 2018) đã mang theo những bao nhựa lớn và ở lại dọn dẹp cầu trường thật sạch sẽ trước khi ra về cho dù việc đó chẳng dính dáng gì đến nhiệm vụ của họ.

Còn đội bóng Nhật đã làm gì? Họ đã lau chùi, thu dọn phòng thay đồ mà Ban Tổ Chức World Cup giành cho Đội banh Nhật. Họ đã sắp xếp ngay ngắn ghế ngổi và mọi vật dụng trước khi ra về. Họ còn cẩn thận để lại một tấm bảng giấy viết bằng tiếng Nga chữ “Cám Ơn” lịch sự và nhã nhặn. Họ là ai? Họ là con cái của một dân tộc có tinh thần võ sĩ đạo, biết trọng danh dự và việc phải làm hơn là làm ô danh dân tộc mình. Người Nhật là như thế? Hãy nghĩ lại những dân tộc khác để suy nghĩ và tự xấu hổ.

3.2 Nền văn hoá Thái Lan

Người Thái được nuôi dưỡng trong nền văn hoá Phật Giáo, một nền văn hoá “không đổ lỗi cho người khác” mọi việc làm của mình vì họ sợ tiền căn. Người thanh niên Thái khi lớn lên phải qua ít nhất hai năm tu luyện để “học làm người” tại các Chùa Thái Lan. Ngày nay, thời gian tu học có ngắn hơn, tuỳ hoàn cảnh gia đình, hoặc tôn giáo khác ngoài Phật Giáo  và vì công việc, nhưng tinh thần tu học ấy vẫn tồn tại và đã thấm sâu trong huyết quản thanh thiếu niên và người dân Thái. Cả những thanh niên theo công giáo cũng bỏ thời gian “học làm người” tại các chùa Thái, mặc dù thời gian có ngắn hơn. (Bản thân tôi cũng có kinh nghiệm về việc này bởi vì tôi có một người con đỡ đầu – Godson – gia nhập Đạo Công Giáo  là tham vụ Toà Lãnh Sự Hoàng Gia Thái Lan tại Saigon khi anh công tác tại Toà Lãnh Sự này. Việc đỡ đầu này do chính Cha I-Nha-Xiô Hồ Văn Xuân, quản lý Giáo Phận, nay là Tổng Đại Diện Giáo Phận đề bạt.)

Người tu sinh Phật Giáo Thái Lan chấp nhận sự thay đổi liên hoàn của tạo vật với thời gian. Họ nhận những trách nhiệm cho việc làm của mình và nhờ đó sẵn sàng hy sinh cho tập thể. Họ không bươi móc hay đổ thừa cho người khác việc làm của mình. Họ biết lời nói ra là mang nghiệp chướng cho chính điều mình nói nên cẩn thận không dèm pha, xúc phạm người khác vì họ rất ngại cái “khẩu nghiệp” sẽ đeo đẳng họ suốt cuộc đời cả đến kiếp sau nữa và sẽ định hình cho mỗi cá nhân với trời đất. Đó cũng là điều thứ ba trong Ngũ Giới Nhà Phật. Những năm hoặc những tháng “tu thân” trong các nhà Chùa giúp con người trầm tĩnh, hướng nội, xa lánh “tham sân si”, xa lánh bon chen, sống bình an không so sánh như những cảnh báo của đạo làm người mà nếu không giữ sẽ là một thiếu sót trong suốt con đường hành đạo của bản thân mỗi người con Phật.  Bởi vì chính cuộc đời là bể khổ trầm luân, trên hết là “vô thường”, cũng như đạo công giáo coi cuộc đời là phù vân, mau qua chóng hết vậy. Vì thế so sánh, bon chen, nói xấu, lườm nguýt nhau để làm gì. Người Thái đã chấp nhận nền “văn khoá không đổ thừa” nên họ có cuộc sống vô vi, an nhàn, tự tại, trong cõi nhân thế của cuộc đời.

Các em bé cầu thủ nhí của đội bóng Thái Lan trong câu chuyện mắc kẹt trong  Hang Tham Luong  vùng Chiang Rai (Bắc Thái Lan) là những minh chứng cho tinh thần Phật-học của người Thái mà báo chí thế giới đang hết lời ca ngợi.

  1. Tan vỡ! Tại sao? Bạo lực và những lời cam kết trong Lễ Hôn Phối

4.1 Thực tế gia đình

Cuộc sống gia đình ngày nay gặp nhiều trắc trở khó khăn. Nhiều người đổ lỗi cho tuổi trẻ, cho khuynh hướng  tự do Âu Tây, cho sự xung đột thế hệ, cho nền giáo dục cổ vũ tự do của Phương Tây, cho các phương tiện giao lưu, truyền thông hiện đại tràn ngập và gieo “nọc độc” vào giới trẻ Việt Nam, cho phong trào giải phóng phụ nữ, cho việc cổ vũ nữ quyền, cho những lời kêu gọi phải lên tiếng về các cáo buộc bạo lực trong gia đình, cho việc người cha dần dần mất đi vai trò gia trưởng, cho việc giải phóng phụ nữ và trẻ em khỏi những lệ thuộc và ràng buộc về kinh tế, … Nhưng rất ít ai (là nam giới và những người lớn) biết nhận trách nhiệm vì chính mình là nguyên nhân gây ra những xung đột và phản ứng dẫn đến đổ vỡ gia đình. Các anh chị tham gia chương trình Thiên Ân, Mai Hoà, … trợ giúp các trẻ em vô gia cư tại Saigon đã từng than thở, “Người lớn chúng ta tệ thật!”

Rất nhiều và rất nhiều phụ nữ chấp nhận cuộc sống đơn thân để tự mình lo cho con cái vì họ muốn tự mình thi hành trách nhiệm, thoát khỏi sự ràng buộc về kinh tế của nam giới mặc dầu có thể gặp khó khăn lúc ban đầu. Hầu hết những single mum (chiếm đến tám phần mười người) trong các lớp học dành cho người lớn (AMES hay TAFE tại Melbourne) đều có chung một ý nghĩ. Họ chọn “Tự do để tự lo” cho con cái của mình.

4.2 Lý thuyết và việc thực hành lý thuyết

Những nghi lễ hôn phối thường diễn ra hoành tráng và trôi qua dễ dàng. Nhưng ít ai để ý đến những gì hai con người mới kết hợp với nhau sống ra sao và cuộc sống sẽ thế nào những tháng ngày sau những ly rượu chúc mừng “trăm năm hạnh phúc”.

Những lời đọc trong nghi lễ dường như được nhắc lại như cái máy, nhất là câu “việc gì Thiên Chúa đã hết hợp, loài người không được phân ly”.

“Việc gì” đây là “việc gì”?  Linh mục Bùi Đức Tiến  trong một buổi gặp gỡ giáo dân tại Trung Tâm Vinh Sơn Liêm khi Trung Tâm tổ chức Mừng 35 năm thành lập đã trả lời trong phần giải đáp thắc mắc sau bài giảng. “Ông bố cầm cây ba-ton chỉ vào con gái, ‘Mày phải lấy nó, không thì tao …’” Đó không phải là khởi đầu tốt đẹp của một cuộc hôn nhân và đó lại càng không phải là “việc gì Thiên Chúa đã kết hợp”. Thiên Chúa là tình yêu. Ngài chưa từng bao giờ giơ cây ba-ton lên với con cái của Ngài. Sự khởi đầu “không do Thiên Chúa” như thế sao gọi là “Thiên Chúa đã kết hợp”?

Rồi đến giai đoạn sống chung và có con cái. Hôn lễ đòi hai bên hứa hẹn những gì? “Tôn trọng và lo lắng cho nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nguy để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời tôi…” Từng chữ một, quá đẹp và quá dễ dàng. Nhưng, tại sao hôn nhân trắc trở dẫn đến tan vỡ?

  • Không tôn trọng nhau. Người chồng không phải là “bờ vai cho người vợ bé bỏng cần nâng đỡ của mình”, nhất là những khi mang nặng đẻ đau, sinh con và cho con bú mớm, nuôi dưỡng và bảo bọc con cái khi “bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ”. Biết bao người cha bỏ mặc chuyện lo lắng chăm chút cho con cái từ lúc lọt lòng mẹ, những khi bệnh hoạn yếu đau, những đêm mất ngủ vì con, những buổi đưa đón con cái đến trường, dạy dỗ cho con từng con số, từng nét chữ để cho con có thể lớn lên và cạnh tranh với đời. Một tỷ thứ việc nhỏ, rất nhỏ, phải làm mỗi giờ, mỗi phút và mỗi ngày. Rồi những đêm con yên ngủ trong vòng tay người mẹ. Có ai bên cạnh đỡ nâng mẹ con? … Làm sao có tương lai của nhân loại khi không có những người cha, người mẹ biết thức khuya dậy sớm, biết lo cái lo, biết đói cái đói và biết khát cái khát (tinh thần cũng như vật chất) của con mình?
  • Bỏ mặc việc nuôi dưỡng con cái cho người phụ nữ. Dĩ nhiên cũng có những người và nhiều người cha lo lắng cho vợ và cho con khá đầy đủ.
  • Có nhiều ông chồng tuyên bố “muốn tự do

thì phải tự lo” để rồi bỏ mặc mấy mẹ con mình ên với cái vòng xoáy của cuộc đời đầy khó khăn (về mặt nuôi dưỡng, dạy dỗ, đưa đón con cái), những lúc trái nắng, trở trời, bảo bọc con trên đường đến trường trước bao nhiêu cám dỗ và nguy hiểm rình rập cả người mẹ và con mình, lo lắng áo quần, miếng ăn giấc ngủ cho con, cho đến khi con có trí khôn, trưởng thành và khôn lớn bằng bàn tay và đồng tiền (luôn luôn ít ỏi hơn ông chồng) của người mẹ.

  • Có nhiều ông chồng, bà mẹ chỉ biết ra lệnh và ra lệnh, bắt buộc con cái phải “ăn ngủ, học hành, làm lụng” như mình hồi nhỏ. Nhất là việc chọn trường, chọn nghề của con cái đã trưởng thành. Làm sao cho nở mày nở mặt với họ hàng chòm xóm. Một nhà giáo dục đã viết, “Không phải tất cả các trẻ em lớn lên đều là bác sĩ, kỹ sư, làm vương, làm tướng; phải có người chủ và người công nhân, phải có người làm thày và người làm thợ, phải có tướng và có quân hầu bởi vì không phải ai sinh ra cũng làm tướng cả; phải có người ngồi trong nhà làm việc và người phu quét đường dãi nắng dầm mưa ngoài phố. Đó là sự phân công xã hội. Không việc làm nào vinh dự hơn việc làm nào.”

Và còn biết bao sự việc đã và đang diễn ra mỗi ngày nơi mỗi gia đình mà bút mực không thể nào kể hết.

5.  Từ Kinh Thánh

Các gia đình đầu tiên của nhân loại được ghi trong Kinh Thánh cũng đầy rẫy những sự cố, chém giết nhau, và sa đoạ, báo trước một tương lai đầy bão tố của loài người.

Ca-in và A-ben. Sách Sáng Thế ghi, “Cain giết em mình là A-ben” (St 4,8). Nhưng Thiên Chúa không trừng phạt Ca-in (St 4, 15-16). Adam và Eva sinh người con thứ ba tên là Sết để thay thế cho A-ben (St 4, 25-26). Lúc đó Adam đã 130 tuổi. Sau khi sinh Ông Sết, Ông Adam sống tám trăm năm và sinh ra con trai con gái. Tổng cộng Ông Adam sống được 930 năm rồi mới qua đời (ST 5, 1-5).

Ê-xau và Gia-cóp. I-xa-ác là con Ông Áp-raham. Ông Áp-ra-ham có hai người con, Ê-xau và Gia-cóp. Gia-cóp đoạt quyền trưởng nam của Ê-xau và đoạt cả lời chúc phúc của I-xa-ác lẽ ra dành cho Ê-xau do sự sắp sếp của bà mẹ (St 27,145). Sau này hai anh em Ê-xau và Gia-cóp hoà thuận với nhau. Ê-xau tha thứ cho em mình (St 33, 1-17). Sách Sáng Thế cũng kể chuyện Rưu-vên, con trưởng của Gia-cóp ăn nằm với Bin-ha, vợ lẽ của cha mình (St35, 21-22).

Đến thời Ông Giu-se, con út Ông Gia-cóp (bây giờ đã được đặt tên là It-ra-en (St 32,29), gia đình ông (với nhiều nữ tỳ và 12 người con) cũng đầy rẫy những chuyện dan díu không hay cho đến khi Giu-se bị các anh bán cho lái buôn Ai-cập và rơi vào tay Pô-ti-pha là chỉ huy thị vệ của Pharao  (St 37, 12-36).

  1. Tương lai nhân loại. Dân số thế giới. Khối dân khổng lồ: Hồi giáo – China – India đối nghịch với người Da trắng và Châu Âu

Một thế giới ngày mai sẽ ra sao? Một nghiên cứu trên Tuần báo Newsweek cho biết tại nước Anh, cứ ba người dân thì có một người da màu Phi Châu. Nhiều vùng đồi núi bắc Âu đẹp như tranh vẽ đã được sang nhượng cho những nhà giàu mới từ Trung Hoa hay Trung Đông. Cuộc di dân 20152016 khiến Châu Âu tràn ngập người Hồi Giáo. Người Hồi Giáo, dù là hệ phái Islam hay Muslim, Ali hay Mohamed, Shiite hay Sunni, đều có chung một mẫu số. Đó là sinh sản không hạn chế, trái ngược với người da trắng. Ngày càng có nhiều thị trấn Bắc Âu bỏ hoang không người ở và chó sói tràn ngập.

Hiện nay, theo thống kê 2015, có khoảng 1,8 tỷ người Hồi Giáo Islam trên thế giới, tương đương với 24 phần trăn dân số toàn cầu. Nghiên cứu của PEW, ngày 9 tháng 8 năm 2017, cho biết trong khi Islam là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Thiên Chúa Giáo với 2,2 tỷ người, nhưng Islam lại là tôn giáo phát triển nhanh nhất. Lý do là vì sinh xuất của Islam gấp đôi sinh xuất của những tôn giáo thuộc Thiên Chúa Giáo. Tổng số sinh sản của người da trắng chỉ là 1,7; trong khi tỷ lệ sinh sản của người theo các tôn giáo Islam, và Hindu là từ 2,3 đến 2,7. Riêng người Hồi Giáo Muslim là 3,1. Những quốc gia  theo các tôn giáo không phải là TCG đều là những quốc gia đông dân nhất trên thế giới. Điều đó cũng giống như hai dân tộc Palestine (Hồi Giáo, không hạn chế sinh sản hiện nay tràn ngập các nước Nam Mỹ) và Israel (Do Thái Giáo, hạn chế sinh sản). Cuộc chiến trong tương lai rõ ràng là cuộc chiến không cân sức giữa hai trào lưu sinh sản này. Và bên nào đông hơn là bên đó chắc chắn sẽ chiếm ưu thế bởi vì (một ví dụ) người Do Thái không thể nào tiêu diệt hết người Palestine theo Hamas hay Hezbollah mà chính trong dân Jews (Do Thái) cũng có những người theo dòng Hồi giáo Hezbollah Israel.

Một tương lai thế giới với Hồi Giáo, Hindu, và China cho nhân loại? Hãy nghĩ mà xem, người Hồi Giáo không hạn chế sinh sản hiện nay đã chiếm một phần tư dân số thế giới. Người Trung Hoa, một tỷ rưỡi và người Hindu (Ấn Độ) cũng khoảng một tỷ sáu. Cộng lại gần năm tỷ người trên số dân bảy tỷ toàn cầu. Hãy cầu nguyện cho kho tàng nhân loại.