Cầu cho những người xa lìa ĐứcTin Kitô Giáo

Trần Bá Nguyệt

Những người “xa lìa Đức Tin Kitô Giáo” chắc chắn không phải là những người chưa biết gì đến Đức Tin ấy và cũng chắc chắn không phải là những người vô tình bỏ quên căn tính kitô hữu vì “đã nhận phép thánh tẩy”, để làm con dân Chúa, của mình. Những “người xa lìa Kitô giáo”, nói như một linh mục (Cha Phạm Bá Bảo – DCCT Kỳ Đồng, Saigon) là “những người Có Đạo, nhưng không Có Chúa”. Bên cạnh đó, trong cuộc sống, ngược lại, không thiếu gì những người ao ước được đi tìm Đức Tin ấy như câu chuyện của những người mong muốn đồng hành với bao nhiêu người khác trên con đường đi tìm Đức Tin Kitô giáo. Họ phải chăng là những “dân ngoại” đang được chờ đợi lãnh ơn cứu độ như Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Vaticanô II đã trình bày rất cặn kẽ.

1. Câu chuyện tưởng như không có thật
Anh là một trong rất ít sinh viên được chọn sang Hoa Kỳ theo chương trình cao học, rồi ở lại học tiếp chương trình tiến sĩ từ những năm thập niên 1960. Anh về nước với học vị tiến sĩ kỹ nghệ lạnh năm 1974 và giữ chức vụ hiệu trưởng trường Quốc Gia Phú Thọ. Người miền Nam, hay cười và cởi mở với tất cả mọi người. Sau 1975, anh chọn ở lại, không ra đi như bao nhiều người khác. Anh nói với những người đến kiểm kê kho sách kỹ thuật bằng tiếng nước ngoài của anh trong “thời kỳ kiểm kê văn hoá sau 1975” là “một ngày không xa, các anh sẽ phải cần đến những thứ này!” Sinh viên thường hay chọc anh: “You kill pigs, why you go teach?” Vì sau 75, có thời gian, anh được mời về làm Phó Tổng Giám Đốc Vissan và những ngày cuối đời sau khi về hưu. anh được mời về dạy học.
Nhưng câu chuyện vừa kể về anh – mặc dầu có thể viết thành truyện dài “của một người ở lại” – không phải là mục tiêu chính của những dòng tiếp theo.
Anh có người mẹ già, đã qui y cửa Phật. Những ngày gần đất xa trời, bà cụ được những chị em xấp xỉ tuổi trời như cụ đến thăm hỏi và thỉnh thoảng đọc một vài kinh “nhà Chúa” cho bà nghe. Không nói rõ mục tiêu cũng không làm phiền bà cụ. Ngày cụ gần ra đi, người ta đến lên chương trình và vì thấy quá tốn kém, anh không đồng ý. Đúng lúc đó, cụ bà yêu cầu cho theo mấy chị em “nhà Chúa”. Vì cụ ở gần nhà thờ Thủ Đức nên chuyện qua lại của các bà mẹ, lúc đó người ta mới biết đó là các bà mẹ Công Giáo, với những lễ nghi cho cụ diễn ra thuận tiện, không rình rang, không ồn ào, không khói nhang nghi ngút, nhưng đầy ắp tình thân. Anh tâm sự với bọn tôi, lúc đó đang dạy chung trường với anh trên ngôi trường rộng (ngôi trường đại học duy nhất ở VN có campus, có khu cư xá sinh viên, có farms và nông trại thí nghiệm – Trường Đại Học Nông Lâm) nằm bên ngọn đồi Ngã Tư Xa Lộ Đại Hàn, về sự ra đi an bình của bà mẹ anh. Và anh ao ước được một ngày nào đó ra đi như mẹ mình, dù vào phút chót, để được nghe câu kinh “nhà Chúa”. Bốn người con, hai trai, hai gái của anh đều là học trò của tôi, nên tôi hiểu rõ tâm sự anh, tâm sự của những người chế độ cũ, cùng cảnh ngộ như anh và còn ở lại, sau 1975. Anh ao ước được về với câu kinh “nhà Chúa” khi vì tuổi tác phải nằm yên một chỗ không còn hoạt động được nữa. Ước vọng không thành vì ít năm sau anh đột quị và ra đi thật nhanh sau ba ngày vào bệnh viện. Hương hồn anh chắc vẫn còn niềm ao ước được ra đi trong câu kinh “nhà Chúa” như người mẹ của anh.
2. Một người bạn đi tìm Đức Tin
Thanh Hà là một người bạn thày giáo sau 1975. Anh từng là phi công dân sự tốt nghiệp nên Tây Bán Cầu. Trước 75, có thời gian anh dạy về kỹ thuật phi hành tại Thái Lan hai năm. Cuộc đời anh có thể viết thành truyện.
Là một người chuyên nghiên cứu Phật Học, anh có cả một kho kinh Phật vớí những băng và dĩa chất đầy căn phòng trên lầu ba căn nhà của anh đường Lê Văn Sỹ. Anh cũng thường viết những bài chuyên sâu về Phật Giáo và về cõi nhân sinh, về tính chất vô thường của cuộc sống. Một hôm, anh hỏi bọn tôi về Kinh Thánh và anh ao ước có một quyển. Sách Kinh Thánh thì thiếu gì tại các nhà sách Saigòn sau năm 1975. Anh tâm sự, “Con dâu mới của mình là người công giáo!” À ra thế! Anh có năm người con trai và vợ anh mới mất ít năm trước đó. Người con trai út là học trò của tôi.
Một hôm, anh hỏi chúng tôi về cuốn phim “The Passion of Christ” (Những Cuộc Cám Dỗ của Chúa), sau khi anh xem cuốn phim rất ăn khách thường được chiếu rầm rộ khoảng những năm sau 1980. Cuốn phim “The Thorn Birds” (Tiếng chim hót trong bụi mận gai” trình chiếu về sự sa ngã của một giáo sĩ công giáo bên Úc, nhân vật trong phần cuối cuốn phim, đã leo lên đến chức vị hồng y. Cuốn phim dựa vào câu chuyện của cuốn tiểu thuyết thuộc hàng bán chạy nhất (best-sellers và best-reading) cùng tên do nhà văn người Úc, Colleen McCullough viết, và nhà xuất bản Harper & Row phát hành năm 1977. Sách dày 692 trang được tờ báo nổi tiếng The New York Times ca ngợi nhiệt liệt.
Vì là một người thích nghiên cứu, anh không ngừng tìm hiểu và một hôm anh khoe với chúng tôi là anh đã đi đến các nhà sách công giáo ở Saigon và mua rất nhiều sách, phim ảnh, DVD, cũng như CD về Đạo Công Giáo. Anh nói: “Bây giờ tôi có cả một kho tài liệu Công Giáo.” Anh say mê nghiên cứu và một hôm anh gửi cho tôi một e-mail, viết, “Theo tôi, có lẽ đạo Công Giáo sẽ là nền tảng cho việc cứu rỗi nhân loại khỏi chiến tranh và trầm luân khổ ải!” E-mail của anh viết ngày 21 tháng 12. Đúng ngày 31-12 năm đó (hình như là 2005), anh ngã bệnh do những di chứng của bệnh tiểu đường. Mắt, tim, gan, phèo, phổi, … của anh bị tàn phá không thể cứu vãn. Chúng tôi tiễn chân anh và vẫn còn văng vẳng bên tai lời anh nói, “Theo tôi, chỉ có Đạo Công Giáo … ” như một lời nhắn nhủ những anh em còn đang vật lộn với tham-sân-si trên cõi thế gian trần tục.
Không như vị tiến sĩ (anh Đỗ Thành Long) trong câu chuyện thứ nhất vừa kể bên trên, Ngô Thanh Hà, dù chưa nói ra ước vọng “được nghe những câu kinh nhà Chúa” vào lúc cuối đời, nhưng chắc tâm hồn anh cũng đã gần kề bên Chúa, ít nhất trong Niềm Tin vào một con đường và một Đấng Cứu Độ cho cả nhân loại. Cả hai anh đều là những đàn anh đáng kính cùng làm việc trong môi trường sư phạm.
Chúng tôi thắp cho các anh một nén nhang và, từ trong thâm sâu của cõi lòng, cầu xin cho linh hồn các anh được an nghỉ đâu đó “gần bên Chúa” như các anh mong muốn để có thể nghe câu kinh “nhà Chúa” hay thực hiện ước mơ, “Một ngày nào đó, theo tôi … ” Điều đó – hy vọng – không phải là hão huyền.
3. Hiến Chế Lumen Gentium
Lật những tài liệu quý báu trong Bộ Sách “Công Đồng Vaticanô II” do nhà Xuất bản Tôn Giáo ấn hành năm 2012, của Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt nam, và đọc những dòng chữ trong Hiến Chế Lumen Gentium (trang 69 đến trang 190), người đọc tìm ra ý nghĩa của Mầu Nhiệm Giáo Hội. “Tất cả mọi người đều được mời gọi kết hợp với Đức Kitô, Đấng chính là Ánh Sáng Thế Gian, là cội nguồn, là sức sống và là cùng đích của tất cả chúng ta.” (S. 3, trang 71, Hiến Chế.)
Hiến chế cũng xác định rõ ai là Dân Thiên Chúa (Chương II, trang 83, sđd.) “Vào mọi thời và trong mọi dân tộc, bất kỳ ai kính sợ Thiên Chúa và thực thi đức chính trực đều được Người tiếp nhận (x. Cv 10, 35) (S. 9, trang 83, sđd.)
“Cả những người không vì lỗi của mình mà chưa nhận biết Thiên Chúa cách rõ ràng, nhưng cố gắng sống đời chính trực, dĩ nhiên là với ơn Chúa, thì Chúa Quan Phòng cũng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu độ. Quả vậy, Giáo Hội xem tất cả những gì là chân thật và thiện hảo nơi họ như một sự chuẩn bị cho Tin Mừng (x. Eusêbio Cêsarêa, Preaparatio Evanlegica, 1, 1: PG 21, 28AB) và như một ân huệ mà Đấng soi sáng mọi người ban cho để cuối cùng họ nhận được sự sống.” (s. 16, trang 98, sđd.)
Hiến Chế cũng nhắc nhở “các mục tử tốt lành, phải đi tìm kiếm (x. Lc 15, 47) những người đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy trong Giáo Hội Công Giáo, nhưng đã bỏ lãnh nhận các bí tích hoặc thậm chí đã xa rời đức tin.” (s. 28, trang 126, sđd.) Họ là những người tự nguyện trở thành kẻ mon men bên lề giáo hội. hoặc “giữ đạo” nhưng không “sống đạo”.
4. Ông già có hai người con
Ông già thu thuế Mát-thêu (Mt 21, 28-32) ghi lại rằng một ngày kia Chúa Giêsu kể cho các tư tế và những người lớn tuổi nghe một câu chuyện về một ông già hai lúa có hai người con. Câu chuyện diễn ra như sau: “Các ông nghĩ sao về việc này. Một người cha có hai người con trai. Ông gặp người con thứ nhất và nói với anh ta, ‘Này con, hôm nay con hãy đi và làm việc trong vườn nho của cha.’ Anh con trai trả lời, ‘Con không muốn đi làm!’ Nhưng rồi suy đi nghĩ lại, anh vác cuốc đi làm. Ông già gặp người con thứ hai và cũng yêu cầu anh ta như đã yêu cầu người con trước. Anh này trả lời nghiêm túc, ‘Thưa cha, vâng. Con sẽ đi làm ngay.’ Nhưng rồi anh ta bỏ đi chơi chẳng ra vườn nho làm việc cho cha mình.”
Rồi Chúa Giêsu hỏi họ, “Ai là người đã thi hành những gì người cha mong muốn?” Họ trả lời, “Người thứ nhất.” Trong phần cuối câu chuyện, Chúa nói với những người có mặt, “Đúng vậy, tôi nói cho các ông hay, những chủ quán rượu và những gái điếm là những người sẽ đi trước các ông trên con đường về nước hằng sống. Vì Gioan đã đến và nói với các ông về con đường tốt đẹp phải đi theo, mà các ông không tin ông ấy. Nhưng những người bán rượu và gái điếm lại tin. Các ông đã thấy rõ tất cả, nhưng các ông không ăn năn hối cải cũng không tin những điều Gioan đã nói với các ông.”
5. Xa lìa không chủ đích
“Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối.”(Thơ của Nguyễn Chí Thiện.) Hay không chịu tìm hiểu, cứ suy diễn theo ý minh, nên nhiều khi tự xa lìa nguồn cội. Một người mới gia nhập đạo, một hôm, thắc mắc. “Cháu nghe một bác có đạo gốc nói là ‘Công đồng Vaticanô I cấm không cho phụ nữ tham gia việc phụng tự. Còn Công Đồng Vaticanô II cho phép phụ nữ tham gia phải không bác?”
Trong Lịch Sử Giáo Hội, có tất cả 21 Công Đồng Chung (Cocilium, Council, Concile). Công Đồng Chung Nicea (năm 325) là Công Đồng Chung thứ nhất. Công Đồng Nicea có khoảng 300 giám mục Đông Phương, 4 giám mục Tây Phương, 2 linh mục Roma làm đặc sứ của Thánh Giáo Hoàng Sylvester I, Hoàng Đế Constantine I triệu tập. Công Đồng họp từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 8. Công Đồng “định tín Con Thiên Chúa đồng bản tính với Chúa Cha”.
Công Đồng Vaticanô II (năm 1962 đến 1965) do ĐGH Gioan XXIII và ĐGH Phaolo VI triệu tập. Có tất cả 2.860 nghị phụ tham dự. Có 10 khoá trong 4 kỳ họp. Công Đồng đã soạn thảo và công bố 4 hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn nhằm đổi mới toàn diện đời sống Giáo Hội Công Giáo và hướng tới sự hợp nhất Kitô Giáo.
Công Đồng Vaticanô I, năm 1869-1870 do ĐGH Piô IX triệu tập. Có 747 giám mục tham dự. Công Đồng lên án thuyết duy vật và tuyên bố tính bất khả ngộ (không thể sai lầm – Infallibilitas – Infallibility) của giáo hoàng. (Xem Niên Giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, xb. năm 2004, revised 2006, tr. 90-98.)
Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân (Apostolicam Actuositatem) của Công Đồng Vaticanô II nhắc lại việc giáo dân, nam cũng như nữ, tham gia vào việc rao giảng tin mừng rộng rãi trong lãnh vực trần thế của mình. “Theo gương các tín hữu nam cũng như nữ đã trợ giúp Thánh Phaolô trong việc rao giảng Tin Mừng” (x. Cv 18, 18-26; Rm 16,3.) (x. HĐGMVN Công Đồng Vaticanô II, tr. 531-581.) Người giáo dân sống trong thực tại trần thế, có vai trò, qua đời sống ngoài xã hội, nơi thương trường, làm chứng nhân cho Lời Chúa.
6. Trưởng thành hay ấu trĩ triền miên
Vì thắc mắc, ngộ nhận hay chống đối Huấn Quyền của Giáo Hội (tức là Quyền Giảng Dạy mà Chúa Kitô đã giao phó cho Giáo Hội – Magisterium
– Magistère), nhiều người rơi vào tình trạng không trưởng thành hay ấu trĩ triền miên. Tìm đọc những tác phẩm trên mạng không thuộc Huấn Quyền Giáo Hội là một sai lầm khác kéo con người ra khỏi vòng giáo huấn của Giáo Hội. Những thí dụ về việc này không thiếu.
Huấn Quyền được ghi rõ trong tài liệu Từ Điển Công Giáo của Uỷ ban Giáo Lý Đức Tin, Hội Đồng Giám Mục việt Nam (xb. 2011, Nhà Sách Đức Bà Hoà Bình, tr.175-177) như sau. “Buộc phải chấp nhận Huấn Quyền chính thức của các Giám Mục của mình với lòng cung kính và vâng phục (x. GL 753; GH 25.)

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.