CẦU CHO VIỆC SỐNG TIN MỪNG

  1. Lời nói và việc làm: Khi ra khỏi nhà thờ, bạn đối xử ra sao với người bạn gặp trong đời sống bình thường?

Con đường ngắn nhất, nhưng lại dài nhất là con đường từ miệng con người đến cánh tay con người. Ngắn nhất vì bất cứ lúc nào muốn và cần thì tay có thể đưa lên miệng , nhưng dài nhất vì những gì do miệng phát ra mà tay có thể làm hay muốn làm lại thật xa vời, nhiều khi không bao giờ thực hiện được hoặc có thực hiện thì cũng rất chậm, rất hời hợt. Nói vậy, không phải đối với ai và đối với hoàn cảnh nào miệng và tay cũng đối nghịch nhau, nhưng nhìn chung quanh sự xa cách ấy là phổ biến và hiện ra rất rõ.

“Nói thì đễ, nhưng làm mới khó.”  Đó cũng là cái khác biệt giữa giữ đạo và sống đạo. Sống đạo là đem thực hiện những điều “đọc thấy” trong sách mà đem thực hiện trong đời. Kêu gào “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” thì dễ, nhưng đem những điều Chúa dạy thực hành trong đời sống là điều không thể coi là dễ.  Có một số thí dụ cụ thể về việc sống Lời Chúa, nhưng cũng có vô số những hiện tượng “Miệng Nam Mô, bụng một bồ dao găm” như một câu nói của Người Việt loan truyền trong dân gian về hiện tượng này. Miệng thì cầu xin, nhưng trong bụng biết bao mưu toan giành giựt, cướp bóc, nói xấu, vu khống, làm hại người khác để có lợi cho mình.

Thánh nữ Mac Killop, lúc 14 tuổi, khi bắt đầu đi làm công việc thư ký, đã dành những thì giờ quan tâm đến các em nhỏ trong nông trại bằng cách dạy các em những bài hát. Bé gái được dạy may vá thêu thùa. Bé trai được dạy làm đồ gỗ. Đó là một loại trường học mà Bà Mac Killop đã thực hiện vào những năm 1866 tại Nam Úc. Song song với những việc làm thiết thực đó, Mac Killop đã dạy các em niềm tin vào Thượng Đế. Bà đã “sống Tin Mừng” bằng cách  cùng với cha sở Julian Tenison Woods thành lập “trường học trong chuồng ngựa – Stable School” cho những trẻ em nghèo. Sau này, Mary  và những nữ tu trong the Order of the Sisters of Saint Joseph of the Sacred Heart (The Josephistes) đã thành lập những ngôi trường cho phụ nữ lớn tuổi, cho trẻ em, giúp đỡ những phụ nữ không có công ăn việc làm, những người bệnh hoạn, những người sắp qua đời và những tù nhân tại Úc và New Zealand.

Tại Ấn Độ, Mẹ Teresa đã “sống Tin Mừng” bằng cách đem những người nghèo khổ sống lây lất và sắp chết khắp các hang cùng ngõ hẻm về tắm rửa và cho họ một cái chết tương xứng với danh dự và phẩm giá của một con người.

Nhớ lại việc làm của Cha Đoàn Vĩnh Phúc, Hạt Trưởng Hạt Tân Sơn Nhì tại Giáo Phận Saigòn, người được mệnh danh là “kẻ mắc nợ nhiều nhất” khi cha đã qui tụ những trẻ em các gia đình nghèo sống quanh con kinh nước đen vào trường học trong nhà xứ, Trần Bá Nguyệt

và dạy các em học hành vui chơi. Các em bé này là con em những người dân “không hộ khẩu thành phố” sống bằng cách bươi móc các đống rác để tìm vật dụng gì đó có thể bán được kiếm tiền sinh sống. Các em cần được ăn, mặc và cần được đến trường. Năm 2004 phái đoàn Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ đã đến thăm “ngôi trường có 150” học sinh đặc biệt này của Cha Phúc ngay bên cạnh dòng kinh nước đen xì và những đống rác hai bên bờ. Có mấy ai thực hiện được việc: “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” như Cha Phúc?

  1. Có đạo và có Chúa

Linh Mục Phạm Bá Bảo, Cha Phó GX Đức Mẹ HCG, dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng Saigòn, khi nói chuyện với anh em trong công tác mục vụ giáo dân giáo phận, đã ví von những người chỉ biết đọc kinh, nhưng không biết sắn tay áo đi vào cuộc sống thực hiện lời Chúa để yêu thương tha nhân, là những người, “Có đạo, nhưng không có Chúa”.  Lúc đó, năm 2000, Cha Bảo là phó ban mục vụ giáo dân Giáo Phận Sàigòn.

Mùa Phục Sinh, ăn chay kiêng thịt và xưng tội theo đúng sách vở xong là phủi tay an vị. “Con đã làm xong bổn phận với Chúa, không cần biết thực sự cuộc sống và việc làm của mình ra sao nữa. Bên ngoài nhà thờ là dựng chuyện “người khuyết tật” hay “trẻ em cô nhi, thất học” với những hình ảnh lấy trên mạng để rỉ tai xin tiền trợ giúp nơi này, nơi nọ. Có những nơi chẳng biết nằm trên toạ độ nào trên bản đồ thế giới. Bởi vì chẳng bao giờ có thư cảm ơn của những người nhận tiền trợ giúp. Một lần, một anh bạn dược sĩ bên Mỹ về Việt Nam đem theo danh sách mấy chục người nhận tiền của “Chương trình trợ giúp trẻ em nghèo, hiếu học”. Anh nói, “Chúng tôi đã gửi bao nhiêu tiền về trợ giúp mà chẳng thấy một lá thư cám ơn nào. Chúng tôi cần những lá thư đó để đem về cho những ân nhân bên Mỹ là những người đã tặng những món tiền trợ giúp ấy.” Đây là những chuyện có thật. Nhiều khi tiền quyên góp nhân danh hiệp hội này nọ được chia nhau mỗi người, mỗi chỗ vài trăm đô rồi báo cáo “đã trao hết quỹ” để nhận được tiếng cười ồ lên của cả hội trường. Tiền quyên góp được chia chác và sử dụng ra sao không ai biết. Việc xin xỏ vài chục đô hay vài trăm đô từ những cụ già ăn lương trợ cấp của chính phủ Úc sao quá dễ dàng. Một bác cao niên tâm sự, “Ấy! Ông ấy, cô ấy xin thì cho chứ có biết ông ấy, cô ấy dùng vào việc gì đâu!” Có người gọi những món tiền của chính phủ Úc rót xuống mỗi tháng cho các cụ già là những món “quà Mana” trong Cựu Ước. Trong lãnh vực này, không có chính phủ nào hào hoa và độ lượng như chính phủ nước Úc. Có những nhóm nhận tiền trợ giúp mà chẳng báo cáo, chỉ trả lời “tiền là tế nhị” để rồi cho người này, người nọ mà chẳng có thư cảm ơn người cho tiền cũng chẳng biết đã xài vào việc gì và cũng chẳng biết ai đã cho bao nhiêu tiền!

Có Chúa trong đời, nghe nói thì dễ, nhưng thực hiện bằng hành động sao nghe khó quá. Linh Mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn (Học Viện Mục Vụ Saigon) nói, “Anh ra phố mà biết dừng lại khi đèn đỏ, biết nhường nhau chút đỉnh, đừng chửi thề hay càu nhàu sao đèn đỏ lâu thế, hoặc than phiền tại sao trời đang nắng bỗng đổ mưa, … là đã sống Lời Chúa trong đời.”  Vừa ra khỏi nhà thờ mà bị một trận mưa to, bị ướt chút đỉnh là trách Ông Trời mưa không đúng lúc. Trời nắng cũng than, trời mưa cũng than, lúc nào cũng càu nhàu cằn nhằn ông Trời!

3.Lời khuyên của Cha Âu-tinh Nguyễn Đức Thụ, Dòng Tên

Trong một tập sách nhỏ khổ A-5 và chỉ dày vỏn vẹn 50 trang, tựa đề “Người Việt Thứ Thiệt”, Cha Nguyễn Đức Thụ, Dòng Tên, (qua đời năm 2012 tại Melbourne,) đã nhắn gửi người Việt tỵ nạn những dòng chữ như sau.

“Khi giao tiếp với đời, không một ai trong chúng ta lại ưa thích:

  • Những thứ người thiếu thành thật, giả dối,
  • Những người hay chê bai, nói hành, nói xấu người khác,
  • Những kẻ ích kỷ, chỉ muốn lợi dụng người khác để mưu lợi cho mình, như mượn đồ đạc, vay tiền bạc mà lại không muốn trả lại hay trả không đúng hẹn,
  • Những người không biết tôn trọng và bảo vệ tài sản chung, sử dụng những đồ vật chung một cách cẩu thả, bừa bãi; không giữ gìn trật tự, sạch sẽ tại các nơi công cộng,
  • Những kẻ vô ý thức, thiếu tự trọng và coi thường người khác như nói chuyện ồn ào trong khi phải giữ im lặng, hay không giữ đúng hẹn, đúng giờ, hoặc hứa mà không làm.

“Do đó, chỉ vì một số người không quan tâm bảo toàn giá trị của chữ Tín trong lời nói và việc làm, làm tất cả tập thể người Việt chúng ta – trong đó có cả bạn nữa – đang bị  mang tiếng là một thứ dân kém cỏi, thiếu văn mình, thiếu trưởng thành, vì:

  • Không giữ đúng hẹn, đúng giờ,
  • Không giữ im lặng trong lúc phải im lặng,
  • Không tôn trọng, kỷ luật, trật tự, vệ sinh nơi công cộng.

Vị cha sở nơi giáo xứ St Albans vừa cho biết dân chúng chung quanh nhà thờ phàn nàn vì phải nghe tiếng nhạc xập xình từ hội trường cho đến 11 giờ đêm, giờ qui định cấm làm ồn. Đã đành, theo luật, bạn có thể chơi nhạc đến 11 giờ đêm, nhưng người dân – nhất là người lớn tuổi – cần nghỉ ngơi từ chập tối, 7 hay 8 giờ tối. Họ đã không thể nghỉ ngơi vì phải chịu đựng những tiếng nhạc ồn ào đến nửa đêm! Đâu là lòng bác ái? Đâu là biết sống vì tha nhân, biết hy sinh và hạn chế thú vui của mình vì người khác?

  1. Thay lời kết

Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo dân đã bắt đầu với lời xác định rằng: “… Các Kitô hữu giáo dân giữ một phận vụ cá biệt và thiết yếu trong sứ mệnh của Giáo Hội”. Công đồng tận lực kêu mời giáo dân mau mắn đáp lại tiếng Chúa Kitô mời gọi, hưởng ứng đà thúc đẩy của Chúa Thánh Thần mà tích cực dấn thân loan báo Tin Mừng trong sinh hoạt của các phong trào, các cộng đoàn, các đoàn hội giáo dân. (Apostolicam Actuositatem – Sắc lệnh về hoạt động Tông Đồ giáo dân, s. 33.)

Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay đã lên tiếng phàn nàn về tình trạng cách biệt giữa đức tin tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của một số Kitô hữu. Đó chính là một trong những sai lầm trầm trọng của thời đại. Đồng thời Hiến Chế cũng khẳng định:

Giữa những phận vụ sinh động cần được thi hành trong đời sống Giáo Hội toàn thể, không những người giáo dân có sứ mệnh đưa tinh thần Kitô giáo thấm đượm vào trong thế giới, mà còn được kêu gọi để làm chứng cho Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, ngay giữa lòng cộng đoàn nhân loại.

Thật vậy, không chỉ giáo sĩ, tu sĩ phải đặt Chúa Giêsu làm trọng tâm đời mình và tích cực trong công việc truyền giáo, mà giáo dân cũng được kêu gọi để làm chứng cho Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, ngay giữa lòng cộng đoàn nhân loại. (Gaudium et Spes – Hiến chế  mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, s. 43.)

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quả quyết, giáo dân cũng như giáo sĩ, có bổn phận thông dự hoàn toàn vào sứ mệnh tông đồ của giáo hội, giáo dân cũng cần phải được đào tạo chu đáo hơn cả về giáo lý đức tin lẫn kỹ năng sống đạo và phải thật sự sẵn sàng  để làm chứng cho Tin Mừng. (Cathechesi Tradendae – Tông Huấn về dạy Giáo Lý trong thời đại chúng ta, s.64.)

Danh hiệu giáo dân có nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc thành phần chức thánh hay bậc tu trì được Giáo Hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đã được rửa tội để tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô, được nhập tịch dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của mình vào chức vụ tư tế, chức vụ rao giảng Lời Chúa và chức vụ vương giả của Chúa Kitô, họ là những người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong giáo hội và giữa trần thế theo nhiệm vụ riêng của mình. (Lumen Gentium – Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, s. 31.) 

Vai trò của giáo dân thật rõ ràng và rất nặng nề.

Chú thích: Các Văn Kiện về Giáo Hội trong bài này trích trong Tập Sách Thần Học Mục Vụ – QuảnTrị Giáo Xứ (Tập I và II, dày 3.004 trang) xuất bản 2015 của Cha Tạ Huy Hoàng, Giáo Sư Đại Chủng Viện, Cha sở Tống Viết Bường, GP Saigon, nhân kỷ niệm 50 năm Bế Mạc Công Đồng Vaticanô II 1965-2015.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.