Cầu Nguyện Cho Người Cao Tuổi

Trần Bá Nguyệt, 11-2017

Những ngày cuối năm, ai cũng tất bật với những chuyến đi về VN, người không về thì bận rộn với những cuộc hội hè, gặp mặt, tất niên, gây quỹ, văn nghệ văn gừng đủ mọi lứa tuổi. Rồi Chúa Sinh Ra, một cuộc sống mới bắt đầu bên cạnh những buổi chiều tàn cuối năm (tại sao lại ‘buổi chiều tàn’ như nhiều người thường nói?) Tháng 12 nghĩ về “Người Cao Tuổi”như một nhắc nhở con người đón chờ Ngày Chúa Đến trong cuộc đời của mình.

  1. Thất thập cổ lai hi

Tam thập như lập

Tứ thập nhi bất hoạt

Ngũ thập tri thiên mệnh

Lục thập như bất tùng kê

Thất thập cổ la hy

Bát thập đắc hi hi

Cửu thập siêu thọ

Bách thập niên giai lão

“Ở ngoài Bắc, thọ đến 60 đã được gọi là Cụ. Ngày xưa, tại Việt Nam, tuổi 80 được gọi là “Trượng Triều”. Người được 80 tuổi có quyền cầm gậy (Trượng) đi vào triều đình (Triều) để dâng kiến nghị thẳng lên vua, hoặc phê phán, đề nghị với triều đình về việc nước mà không bị ngăn cản. Vì vào tuổi đó mà còn sáng suốt, còn quan tâm đến việc nước, không vì tư lợi, thì nhà vua và triều đình phải lắng nghe. Truyền thống tốt đẹp này được tôn trọng dưới thời quân chủ cực thịnh ở Việt Nam. Rất tiếc, ngày nay không còn nữa.” (http://huyenthoai.me/2012/11/4/that-thap-co-lai-hi) Tục ngữ có câu:

Gỗ lâu năm, gỗ quý,

Rượu lâu năm, rượu ngon,

Người cao tuổi, đáng quý.

Thế nào là cao tuổi? Tình trạng người cao tuổi ra sao ở một vài nơi trên thế giới? Những biến đổi gì – cần phải nói – để người trẻ thông cảm với người cao tuổi? Và người lớn tuổi muốn nói gì với người trẻ tuổi?

  1. Dân tộc nào già nhất

2.1 Người Nhật được coi là dân tộc có số người cao tuổi đông nhất.

26,3 phần trăm dân Nhật trên 65 tuổi. Vì thế, giới trẻ Nhật Bản tăng cường làm việc thêm giờ để bù đắp vào số nhân công về hưu không còn trong tuổi sản xuất. Báo chí (Báo Văn Nghệ, số 735, ngày 2-11-2017) đã nói đến hiện tượng gục ngã trên bàn làm việc hay trên tàu lửa hoặc góc phố của các thanh niên thiếu nữ Nhật vì kiệt sức do làm việc quá nhiều giờ tại công sở. Tiếng Nhật gọi hiện tượng này là Karoshi (chết vì kiệt sức do làm việc quá nhiều). Chính phủ và các công ty đã phải tắt điện sớm để công nhân bắt buộc phải về nhà. Cơ quan WHO (World Health Organization) cho biết vào khoảng năm 2050, trên thế giới sẽ có khoảng hơn hai tỷ người trên 60 tuổi. Tức là hơn gấp ba lần con số người trên 60 năm 2000. Vì số người già càng ngày càng tăng mà số sinh và số lập gia đình càng ngày càng hiếm, cũng như có gia đình mà không có thì giờ sinh con, cộng với nền y học bảo vệ sức khoẻ ngày càng tiến bộ, một số nền kinh tế phải đương đầu với những phí tổn cho việc chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, một lớp người không sản xuất hay nói tiêu cực là “lớp người ăn bám”. Đó là chưa kể đến phí tổn trợ cấp tuổi già (Pension Costs) cho những “công dân đáng kính” ngày càng chiếm một tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ sinh con giảm, tuổi thọ tăng cao, số người về hưu ngày càng đông, việc chăm sóc cho người già mỗi ngày mỗi ăn mỏn ngân quỹ. Đó phải chăng cũng là nguyên nhân để phong trào “không muốn sống để làm khổ con cháu – nên muốn ra đi về với tổ tiên – của nhiều người già trên thế giới“ được nhiều nước chấp nhận. Từ chuyên môn gọi là Euthanasia (Easy Death; eu- là tốt, good hay esse- easy, dễ dàng; thanatos- gốc Hy lạp nghĩa là ‘chết’, một trong hai bản năng chính của con người theo nhà Phân Tâm Học, Triết gia Sigmund Freud; -ia là triệu chứng y học).

Năm 2014, số người cao tuổi tại Nhật Bản chiếm tỷ lệ 25,8 phần trăm. Đến nay (2016) là 26.3 phần trăm. Dự tính đến năm 2030, một phần ba dân Nhật Bản với dân số khoảng trên 130 triệu người sẽ bước vào lớp tuổi trên 65, chiếm 32,2 phần trăm dân Nhật. Trong khi đó, số tuổi từ 15 đến 64 lại giảm 4 phần trăm giữa năm 2000 và 2014.

2.2 Tại Âu Châu

Tạp chí Newsweek có một bài nghiên cứu vào khoảng năm 2000 về số dân Bắc Âu với những khám phá không làm ngạc nhiên nhiều người. Con số những người sinh ra sau thế chiến thứ hai 1945, gọi là baby boom, bước vào tuổi già (65 tuổi). Nhiều người giã từ cuộc sống để sang thế giới bên kia. Lớp thanh niên con cái họ lớn lên tìm việc làm ở những châu lục khác nên nhiều ngôi làng Bắc Âu dân cư thưa thớt hoặc chỉ còn những người già neo đơn sống lẻ loi một mình. Việc chăm sóc sức khoẻ phải nhờ đến “bác sĩ internet” (Telehealth, khám bệnh và cho thuốc từ xa) vì những người già không thể đến các bệnh viện và vì phương tiện y tế ngày càng tối tân không đòi hỏi khám bệnh trực tiếp. Nhiều ngôi làng đã bị những đàn chó sói tràn ngập, có đàn tới vài trăm con. Chúng sinh sôi nảy nở vô cùng nhanh và tràn ngập những vùng vắng vẻ Bắc Âu, tàn phá những ngôi làng. Vì số người trong thời kỳ “bùng nổ dân số” (Baby Boom) thưa dần, trong khi con cái họ đi làm xa, Châu Âu phải nhập dân từ Lục Địa Đen Phi Châu để có người làm việc. Tại London, Anh Quốc, cứ ba người dân thì có hai người là dân nhập cư Phi Châu (Survey của Tạp chí Newsweek). Sự xáo trộn về xã hội và văn hoá kéo theo những hệ luỵ không thể nào tiên liệu được khiến một Châu Âu trí thức và giàu có ngày xưa trở thành nơi hoang phế hoặc đầy những vấn nạn di dân, trong đó có vấn nạn người Hồi Giáo.

Tại Italy, trong tổng số trên 60 triệu dân, 21,4 phần trăm là người nhận pension. Hệ thống trợ cấp người già tại Italy bị coi là yếu kém nhất, bị thiệt hại (Crippled) bởi số trợ cấp thấp cho người về hưu, bởi số nợ công khó trả, và gánh nặng phải nuôi dưỡng những người già sống nhờ những người còn đang làm việc.

Tại Hy Lạp có hơn một triệu người về hưu trong tổng số 11,160 triệu dân.

Phần lớn các quốc gia Bắc Âu số người già tương đối không cách nhau bao nhiêu.

Nước Đức, 21,2 %; nước Bồ Đào Nha, 20,8%; nước Phần Lan, 20,5%; nước Bungaria, 20,0%; Nước Thuỵ Điển, 19,9%; Latvia, 19,4%;Malta, 19,2%; nước Pháp, 19,1%;Đan Mạch, 19,0%; Croitia, 18,9%. Nói chung các nước Bắc Âu có tỷ lệ người cao tuổi (trên 65) là trên 18,0%.

Vùng đất núi non Caucasus, phía nam Liên Xô, có một dân tộc sống trung bình 120 tuổi. Họ hoàn toàn không lệ thuộc vào máy móc và công nghệ tiên tiến. Người dân vùng Caucasus sống trên các sườn núi, sinh sống trong khung cảnh thiên nhiên, hái lượm và tự trồng trọt rau đậu cho chính mình. Nông dân 120 tuổi vẫn ra đồng và làm công việc canh tác nông nghiệp. Họ sống khoẻ, sống mạnh nhờ vào khung cảnh thiên nhiên trong lành và thức ăn sạch của vùng núi non yên bình, không ô nhiễm, và mát mẻ.

2.3 Việt Nam và Úc Châu

2.3.1 Việt Nam

Số người già tăng lên trong khi số sinh giảm xuống khiến tỷ lệ người già phát triển mau hơn bình thường. Lý do là vì số sinh giảm mạnh. Sau chiến tranh, tức là sau 1975, con số thanh niên dưới 25 tuổi chiếm tỷ lệ 60 phần trăm dân số, có nghĩa là khoảng gần 40 triệu người. Tuy nhiên vì số sinh giảm, nên số người già ngày càng đông tạo cho tháp dân số phình ra bên trên và thu hẹp lại bên đưới. Điều đó báo hiệu một dân số già. Dự tính vào khoảng năm 2050, số người trên 60 tuổi sẽ gấp ba lần hiện nay, từ 8,9 phần trăm lên tới 30 phần trăm (khoảng 32 triệu người). Số người trên 80 cũng sẽ tăng gấp ba lần, tức là trên 6 phần trăm dân số.

Người già cần sự chăm sóc. Theo cuộc điều tra dân số năm 2011, hơn một nửa số người già (56 phần trăm dân số) phải tự lo lấy sức khoẻ của mình và bị coi là sức khoẻ yếu. Số này chiếm tới 49,4 phần trăm. Trong khi đó số người già được coi là rất yếu chiếm 6,7 phần trăm.

Người già tại Việt Nam phải tự lo việc sinh sống hàng ngày của mình. Phần lớn họ rất nghèo. Năm 2013, tổ chức nghiên cứu về Human Development Index (tức Chỉ số Phát triển Con người) đã xếp loại VN vào quốc gia thứ 121 trên tổng số 187 nước. Năm 2014, chỉ có chưa đầy 29 phần trăm số người già , tức là khoảng 2,76 triệu người nhận được trợ cấp người già (Seniors Pension) và bảo hiểm xã hội (Social Insurance Support). Cần phải phân biệt ba thành phần được hưởng “trợ cấp” khác nhau tại VN. Đó là thành phần “cách mang”, thành phần “có công” và cuối cùng là dân chúng hạng chót. Trợ cấp và ưu đãi cũng theo cấp số nhân tính từ dưới lên trên.

Điểm đặc biệt về thống kê học cho thấy hầu hết người cao tuổi ở VN có gia đình nhưng có đến hơn 40 phần trăm sống trong tình trạng goá bụa (Widowed). Sự chênh lệch về phái tính thấy rất rõ trong thành phần người già . Ví dụ, cứ mỗi một lão ông trên 80 tuổi thì lại có 2,39 lão bà cùng tuổi. Đa số người già sống ở các vùng nông thôn và vùng cao nguyên xa thành phố (72,5 phần trăm).

Thống kê năm 2014 cho thấy người già ở VN chiếm 10,45 phần trăm dân số, nghĩa là khoảng 9.462.236 người (9,5 triệu). Số tuổi trung bình phụ nữ là 76 tuổi và nam giới là 70,6. (Nguồn: Senior People in Vietnam.)

2.3.2 Úc Đại Lợi

Thống kê ngày 22 June 2017 của Văn phòng ABS (Australian Bureau of Statistics) cho thấy những con số về hiện trạng người già ở Úc như sau.

Trong vòng 12 tháng tính tới ngày 30-6-2010, con số người 65 tuổi trở lên tại Úc là 97.600 người, tức là 2,4 phần trăm dân số. Con số này cho thấy số người già trong 12 tháng đó đã tăng từ 11,3 phần trăm lên 13,7 phần trăm. Tất cả các tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc đều có sự gia tăng với mức độ gần như vậy.

Số người từ 80 trở lên là 20,900 người (5,3%). Trong vòng hai thập niên vừa qua, con số người già tăng 169 phần trăm. Số phụ nữ (269.100 người) gần gấp đôi số nam giới (146.400 người). Có nghĩa là phụ nữ sống lâu hơn nam giới.

Số người trên 100 tuổi, trong 12  tháng đến ngày 30-6-2011 tăng 18,2 phần trăm với 4.252 người. trong vòng hai thập niên vừa qua, số các cụ trên 100 tuổi tăng 235 phần trăm trong khi dân số tăng 31 phần trăm. Số các cụ bà (3243 người) gần gấp ba số các cụ ông (1.009 người) tính đến ngày 30-6-2011.

      3.    Hãy thông cảm cho tuổi già

Người Việt có câu nói, “Có ở trong chăn mới biết chăn có rận!” Chưa ở vào tình trạng của người già, chưa thể hiểu hết những tâm tình của người không còn trẻ. Sao vậy? Này nhé, cơ thể thay đổi. Hiểu biết, nhất là về kỹ thuật, lỗi thời (Obsolete). Cuộc sống gia đình thay đổi vì càng sống lâu càng nhiều tật, nhiều bệnh. Và nhất là tinh thần sa sút vì sự cô đơn khi những người cùng thế hệ lần lượt ra đi về thế giới tiên cảnh.

3.1 Sự suy xụp về cơ thể

  • Xấu xí: Tóc bạc, da mồi. Những nếp nhăn ngày càng hiện rõ như những dấu vết sần sùi trên thân cây cổ thụ. Tàn nhang, vết nám. đồi mồi nổi đầy trên thân thể, dĩ nhiên trên cả mặt. Cho dù có dùng tới hàng chục thứ kem thoa da, thoa mặt, chẳng ai dấu được những “dấu vết thời gian” đó.
  • Chân tay bỗng nhiên yếu dần. Cầm vật gì cũng dễ rơi, dễ vỡ. Bước lên một bậc thang, tưởng đã tới, ai dè chưa tới và dĩ nhiên vấp ngã xõng xoài làm trò cười cho con cháu. Một thanh niên 25 tuổi khi trông thấy mấy bác 60 và70 làm việc, sử dụng computer, trong một cuộc họp ban mục vụ đã cười mỉm chi vì thấy các bác sao chậm chạp thế.
  • Ăn uống vụng về, rơi vãi tùm lum vì muỗng cơm tưởng đã đến miệng, nhưng lại rơi ra ngoài. Tay chân run rẩy như gà mắc phong. Những người có chút bệnh Parkinsons trông lại càng tội nghiệp hơn.
  • Viết lách chẳng được vì tay run lẩy bẩy. Ít ai tránh khỏi tật này.
  • Đi đứng chậm chạp. Trẻ con đi đâu cũng chạy và nhẩy chân sáo. Còn người già đi đã chậm lại chẳng chạy nhẩy được như khi còn trai trẻ. Có lần tại một trường học, một bà sơ trẻ tập múa cho thày cô để chuẩn bị tất niên mà cứ bắt các thày cô già cả trên 60 múa như thanh niên và họ không làm được. Bà sơ phàn nàn sao mấy thày cô này chậm chạp và làm biếng thế. Tuổi già không cho phép múa may quay cuồng vì quay qua quay lại vài cái là chóng mặt, nhức đầu và té ngã. Bởi vậy mấy ông bà già mà nhắm mắt giơ tay múa may kiểu “canh tân đặc sủng” thì chỉ cần hai phút là một trăm phần trăm té xỉu. Lúc đó lại được cho là “có ơn Chúa Thánh Thần”. Còn mấy đứa trẻ, thanh niên cười toe toét chẳng bao giờ té ngã. Ấy chúng nó không được “ơn trên” cả đấy!
  • Tập thể dục. Có bà vợ trẻ cứ bắt ông chồng già gần 80 tuổi phải tập thể dục mỗi ngày “cho cơ thể cường tráng, tay chân nhanh nhẹn”. “Đi gì mà chậm thế!” Thưa các bà nhà em đã teo hết cả rồi, bắp thịt còn đâu rắn chắc mà tập với luyện. Thử trở lại 40 năm hay 50 năm trước lúc trên dưới 30 tuổi mà xem đi lại có nhanh không mà cứ than phiền. Thời trai trẻ phải đi hành quân trên lưng mang hơn 25 kí, còn một khẩu M16 và 900 viên đạn, với bình nước, poncho, dao, … mà đi ngày đi đêm, ngủ bờ ngủ bụi, cứ quấn poncho và lăn đùng ra ngủ ngay vũng nước ngon lành có sao đâu.
  • Ăn uống chậm chạp. Hạt gạo trở nên khô cứng nếu nồi cơm nấu hơi ít nước. Người già răng cỏ không còn khả năng nhai những hạt cơm sượng gần như còn sống của các con, các cháu. Chính vì thế có ông bà tự nấu riêng một nồi cho mình với cơm thật nhão để còn trếu tráo mà nuốt được. Nhất là khi răng cỏ đã mòn, không còn góc cạnh mạnh khoẻ như thanh niên.
  • Ăn chẳng biết ngon. Cha già Cố Nguyễn Hữu Lễ, một Đông Y Sĩ, khi thấy con cháu cứ mua giò chả cho cụ để cụ xơi, cha đã nói, “Đến tuổi này (lúc đó cha đã 90 tuổi), ăn mấy thứ đó như ăn đất vách! Có gì ngon nữa đâu!”
  • Sinh nhiều thứ tật. Thứ nhất là nói năng không hết câu. Nói chữ được chữ không, chữ còn chữ mất. Có cụ lại hay cười. Cười tự nhiên kể cả lúc tham dự đám tang phải phân ưu với gia quyến có tang mà mới nói vài câu tự nhiên phát lên cười, dù không phải cười hô hố, nhưng cũng không kềm được tiếng cười nhè nhẹ.
  • Quên và lẫn. Đang nói chuyện trên trời bỗng chuyển sang chuyện dưới đất. Có ông tiến sĩ đang nói chuyện tự nhiên la lên như gà bị cắt tiết.

Ai không hiểu thì nói ông ấy bị khùng. Thế mà ông ấy đã từng là người thong thạo ba bốn thứ tiếng.

  • Không kiểm soát được vệ sinh cá nhân của mình. Nhiều người lớn tuổi phải mang tã như em bé baby, hai hay ba tuổi. Ở nhà dưỡng lão có tiêu chuẩn phát tã (nappies) cho các cụ ông cụ bà ngày đêm. Có cụ còn xin thêm vì biết mình hết khả năng điều khiển chính mình.
  • Nghe không rõ. Người ta nói là nghễnh ngãng rồi. Có gì khó hiểu. Cái lỗ tai bé nhỏ sử dụng hàng mấy chục năm nên con đường thông tin đầy rác rưởi. Đó là chưa kể màng nhĩ đã rung mấy chục năm rồi bây giờ hết muốn rung nữa vì khả năng rung đã bị xói mòn kiệt quệ. Cái màng nhĩ đã chùng xuống, không còn căng như da trống nên làm sao mà nghe rõ được. Phải hiểu điều đó cho người già chứ.
  • Đứng lên, ngồi xuống khó khăn. Mất khả năng nhanh nhẹn như thời trai trẻ. Nhiều khi đứng lên mà không có cái gì để vịn thì thua ngay, không đứng lên được. Bỗng nhiên bật dậy như lò so là chuyện của thời trai trẻ. Hãy đọc chuyện viết về võ sĩ quyền anh nổi tiếng Mohamed Ali để thấy cơ thể con người có còn cường tráng như thời trai trẻ hay không.
  • Xương cốt lỏng lẻo. Mấy chục năm sử dụng và bộ xương phải chịu đựng một sức nặng 60 hay 70 kilô suốt trong mấy chục năm nên làm sao còn nhanh nhẹn được. Có hàng chục thứ bệnh tận cùng bằng tiếp vĩ ngữ -itis (đau đớn) như arthritis (đau khớp xương), osteomyelitis, chứng bệnh xưng và chết mô xương từng vùng.

3.2 Những hiểu biết bị lỗi thời

  • Kỹ thuật: Ngày nay kỹ thuật tiến với tốc độ điện tử, mở mắt dậy mà không đọc tin tức về kỹ thuật là bảo đảm lỗi thời ngay. Một nửa thế kỷ trôi qua với hàng triệu tiến bộ kỹ thuật ứng dụng không thể kể hết. Nhất là phương tiện thông tin. Mới hôm qua đây làm gì đã có i-phone 7 hay 8. Mọi thứ có ngay trên đầu ngón tay. Chúng tôi, những thế hệ goà nua obsolete (lỗi thời) là chuyện đương nhiên.
  • Bạn bè mất dần. Cứ lâu lâu mail gửi đi cho một người mà không thấy hồi âm là biết ngay có chuyện. Hoặc đã về với tổ tiên, hoặc không còn khả năng viết lách trên máy com-bu-tưa nữa rồi.
  • Học trò cũng không còn nhớ thày: Học trò có cả ngàn người sau hơn 50 năm dạy học thế mà bây giờ có mấy ai còn nhớ đến thày cô xưa kia nữa. Cũng chẳng trách vì gửi mail mà làm gì khi không có lợi cho chuyện làm ăn hay quá bận rộn với việc làm và con cái. Tôi phục sát đất những vị trên 70 mà còn dùng Facebook, Chat, Like – Dislike và Tweeter mỗi ngày.
  • Kiến thức của 40 năm, 50 năm trước giờ đây chẳng còn hợp thời nữa cho dù có update (cập nhật) mỗi ngày.
  • Nói năng, giao tiếp với thế hệ trẻ hơn không còn dễ dàng vì ý niệm và ngôn ngữ đã không còn mang những nội dung như ngày xưa. Đó là chưa kể những lãnh vực chuyên môn mà bỏ lửng một ngày không update là lỗi thời ngay. Nói theo kiểu chuyên môn là không còn “the same speaking terms” (Cùng một ý nghĩa về ngôn từ) nữa. Đó là chuyện thông thường mà nhà chuyên môn gọi là “generation gaps” (Sự cách biệt giữa các thế hệ).

Từ đó nảy sinh những thay đổi không tránh được.

3.3 Cuộc sống gia đình thay đổi

  • Bỗng chẳng muốn gặp ai nữa, kể cả những người quen thân thời trước. Lẽ thường còn nhớ nhau và còn muốn gặp nhau khi có dịp thì phải mừng chứ. Tại sao lại né tránh. Có thể vì những tật bệnh như trên về cơ thể. Có thể vì nhan sắc đã tàn phai mà không muốn những người xưa thấy mình xuống sắc nên trách liên lạc và gặp mặt đi cho rồi. Đóng cửa rút cầu và cắt cả điện thoại là chuyện thường thấy ở khá nhiều bạn bè nay không còn trẻ.
  • Cô đơn. Vì nói mà không có người thông cảm hay cùng cười với mình nên im lặng cho xong chuyện. Một người bạn nói, mẹ tôi cứ mỗi ngày khi chúng tôi đi làm rồi là ra cửa sổ ngồi nhìn ra ngoài và … im lặng cho đến khi chúng tôi đi làm về. nhiều người còn nói chút chút thì trở nên trầm tư và yên lặng như những triết gia thứ thiệt. Bởi vậy khi gặp nhau mà thấy còn viết lách, đọc sách, … là khen còn chưa suy xụp, ráng lên kẻo dementia (giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ) đấy!
  • Vợ con chê chậm lụt, ăn ít, nói ít, khó hiểu, sao cứ trầm tư và im lặng. Khi không còn công việc ngoài xã hội, cả ngày ở nhà đi qua đi lại, không điên là may lắm đấy các con, các cháu ạ! Ngày xưa hoạt động và xốc vác. Nay lững thững như kẻ mất hồn không bị chê mới là lạ. Đôi khi buồn vì phải nhờ vả con cái những việc tay chân. Rồi tủi thân, khóc một mình, hoặc nhìn vào cõi xa xăm và mơ một ngày được theo ông bà tổ tiên cho rảnh nợ trần.

3.4 Tinh thần xa sút

Những tình cảnh như trên làm tinh thần người già sa xút. Cô đơn và buồn vì cảm thấy mình là một gánh nặng cho con cháu. Vì thế có nhiều người ủng hộ cho Euthanatia (chết tự nhiên) như văn hoá dân Ấn Độ hay người Taiwan bản xứ.

      4.    Nói với người trẻ

Như một hạt lúa nảy mầm và sinh hoa kết hạt rồi khi đã xong kiếp sống của mình thì trở thành rơm, thành rạ, bị đốt đi hay làm phân bón. Để rồi kiếp sống lại bắt đầu.  Gần một nửa thế kỷ trước, người ta ồn ào dự trữ DNA của thân xác để hy vọng một vài ngàn năm sau “cloning”, sinh trở lại. Con cừu Dolly là thí dụ. Nhưng con người khám phá ra tuổi già là điều không thể tránh được. Cloning sẽ cho một sinh vật trẻ nhưng các cơ cấu và vóc dáng già đi theo thời gian vì không ai có thể kiềm soát và làm chậm lại cơ cấu điều khiển tuổi già với cấu tạo Telomere nằm trên đầu mỗi nhiễm sắc thể như lớp nhựa bọc đầu giây giầy. Telomere làm con người già đi theo thời gian và không gì cản trở được.

Khoa học khám phá ra rằng cứ bảy năm thì các tế bào trong cơ thể dần dần thay đổi hết. Không ai trẻ mãi và không ai tránh được tuổi già. Cuộc sống thay đổi vô chừng, cái gì đến sẽ đến, tự nhiên như mặt trời mọc buổi bình minh và lặn mất khi chiều tà. Giây phút mà ai cũng phải trải qua là giây phút thân thể và trí óc ta không còn trai trẻ và cường tráng. Con người trở nên trầm tư và chấp nhận cuộc sống vô chừng nằm ngoài tầm kiểm soát và cả ước muốn của chính mình. Vui buồn, mạnh yếu, sinh tử là hai vế ắt có nằm bên nhau của cuộc đời con ngườì trên nhân thế.

  1. Thay lời kết:

Rồi có một ngày … , khoảng năm 2045, em bé sinh ra sau 1975 trở thành người cao tuổi khi thế hệ sinh ra trong cuộc chiến giã từ thế giới hôm nay để đi vào thế giới của tổ tiên mình.

 

Núi non vì núi còn đỉnh nhọn. Đồi già vì đồi trọc lóc. Hạt cát cũng có sinh, có tử, có biến, có đắp, có bồi. Đời người thật ngắn ngủi. Hãy cầu nguyện cho những người tay chân lập cập, mắt mũi nhá nhem, nói năng lắp bắp, đi đứng không vững, … Hình ảnh của tuổi trẻ hôm nay nhìn về tương lai 60 năm tới đó. Ngày mà ta không còn trẻ sẽ đến với mọi người. Sénèque nói, “Điều cốt yếu là biết sử dụng đời sống chứ không phải sống lâu.”

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.