Chỉ Một Lần Này Thôi

Thụy Miên

Khi tôi đã trở về lại Úc và gặp lại bạn bè, người thân quen thì ai cũng nói rằng tôi đi chơi gì mà lâu thế. Bao nhiêu việc khó khăn của Cộng đoàn đang chờ tôi về để gánh vác. Tôi bèn cười trừ, và nói: “ Dạ chỉ có lần này thôi, chứ từ trước đến giờ tui đâu có vậy”.

Câu nói làm tôi nhớ lại những ngày xa xưa, Khi tôi làm lỗi rồi bị mẹ đánh đòn. Đau quá nên tôi đành nói: “Con xin lỗi mẹ, con chừa rồi, chỉ có lần này thôi, lần sau con không dám vậy nữa”.  Thế mà, lần sau tôi lại phạm tội khác và bị cho ăn roi thì tôi vẫn bổn cũ soạn lại cái câu ấy.

Hai tháng rưỡi, chúng tôi bỏ nhà đi hoang thì có vẻ lâu thật. Tôi cũng không ngờ các con mua vé cho ba mẹ đi nghỉ dưỡng với thời gian dài đến thế. Có lẽ vì nhà tôi muốn đi hành hương viếng thăm các nơi Đức Mẹ hiện ra trên thế giới như tại Lộ Đức, Fatima, Mễ Du, và ghé thăm Rome. Còn phần tôi thì cần tịnh dưỡng sau cơn đau tim, nên tôi ở lại vùng nắng nóng Việt Nam.

Cái nóng và sự ồn ào của môi trường, lúc đầu đã làm tôi nghĩ thầm rằng: “Chỉ có lần này thôi nhé”, nhưng nhờ sự ưu đãi của thân nhân, nơi ăn chốn nghỉ cùng những tour du lịch trong nước, khiến tôi cảm thấy thời gian 10 tuần đã trôi đi quá nhanh.

Tôi sẽ chẳng hiểu gì về quê hương tôi, nếu như chỉ ở lại trong thời gian quá ngắn, và tôi sẽ giống như người ta cưỡi ngựa đi xem hoa mà thôi.

Cũng vì tôi đã nghĩ chỉ có lần này thôi nhé, nên tôi đã hết tình hoà mình vào cuộc sống của người dân nơi đây, để cùng cam cùng khổ với nếp sống của mọi người.

Của ăn thiêng liêng phần hồn

Mỗi ngày của tôi được bắt đầu bằng tiếng chuông nhất của xứ đạo lúc 0400 sáng, rồi chuông hai lúc 0430. Tiếng giáo dân đọc các ‘Kinh Sáng’ vang lên. Tại các Giáo xứ Tam Hà, Châu Bình ở Thủ Đức; Giáo xứ Bùi Vĩnh thuộc xã Tam Hiệp; Giáo xứ Trung Linh thuộc huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định; Xứ Tiêu Động Thượng thuộc huyện Bình Lục; Phú Yên và Giáo xứ Lạng Sơn thuộc kinh 3A, Cái Sắn. Tiếng chuông vang lên cùng giờ, hay có nhà thờ trễ hơn 15 phút. Thánh lễ thường kết thúc vào lúc 05 giờ 30. Trong tâm trí của tôi còn ghi nhớ những bải giảng Phúc Âm của các Cha, tại nhiều xứ đạo tôi đã viếng thăm, từ Nam Định cho đến vùng Kênh 3 Cái Sắn. Những bài thánh ca do các Ca đoàn hát trong thánh lễ đã giúp tôi tham dự thánh lễ thêm sốt sắng với tâm tình của người xa quê hương được nghe tiếng hát của anh chị em ca viên. Chuyến về thăm quê hương lần này, tôi cũng may mắn được tham dự đêm diễn nguyện ca, cùng thánh lễ mừng 60 mươi năm thành lập Giáo xứ Châu Bình. Thánh lễ mừng bổn mạng của Hội Đồng Hương Trung Linh tại Giáo xứ Châu Bình. Tôi đi thăm Đức Cha Kiệt ở Dòng Châu Sơn, thuộc tỉnh Ninh Bình, và nhà thờ đá Phát Diệm.

Của ăn phần xác: Cơm ngày ba bữa

Cà phê sáng. Sau khi tham dự thánh lễ ban sáng, chúng tôi thường về nhà uống cà phê hoặc đi ra tiệm. Tiệm ở đây chỉ là cái quán nhỏ, chủ quán kê chừng 3 hay 5 cái bàn cho con nít ngồi ăn cơm. Các quán cà phê ấy thường ở trong xóm. Khách thì cao lắm độ 10 người mà lúc nào cũng đông. Có lẽ tại vì khách cứ ngồi ì ra mà tán hết chuyện này sang chuyện khác, đợi ai đó quen đi ngang thì vời vào uống một ‘cốc’ để cho có bạn. Giá một ly cà phê cũng

thay đổi tuỳ địa phương, từ ly cà phê đen với giá 8 ngàn, 10 ngàn, đến chỗ khác 20 ngàn. Ấy là tôi kể giá ở vùng ngoại ô mà thôi đó nhé, còn ở tiệm tại Sài gòn thì 50 hay 60 ngàn một ly, tuỳ theo loại mình chọn. Để cho người đọc dễ tính thì cứ 1 đô Úc giá trị bằng trên, hay dưới 16 ngàn đồng tiền Việt Nam tuỳ theo ngày. Tôi cũng mang sẵn về vài hộp cà phê của Ý, để thưởng thức cho được mùi cà phê tinh tuyền, nhưng dại gì mà không uống cà phê ở quán để cho biết mùi đời cà phê ở quê ta. Tôi thấy cũng là thứ nước để các ông, thanh niên dễ có cơ hội trò chuyện với nhau về vài ba mẩu chuyện thời sự trong nước và ngoài nước, hay để cho tỉnh táo trước khi bắt đầu làm việc của một ngày.

Ăn sáng. Thường vào cỡ 06 giờ 30 sáng thì các quán bán hàng ăn đã mở cửa, và các người bán hàng rong như xôi, cháo đã bắt đầu  có người mở hàng rồi. Thời gian  ở Thủ Đức, chúng tôi được người em con ông cậu cho thưởng thức đủ mọi loại bún, thuộc mọi miền đất Việt có bán ở khắp quận Thủ Đức. Lẽ dĩ nhiên là ngon rồi, vì có nhiều rau: rau Muống chẻ nhỏ, rau Diếp, rau thơm tuỳ loại bún. Đặc biệt hơn nữa là tô bún luôn có ớt, mắm tôm đi kèm, Nhờ Chúa thương tôi ăn biết ngon, bụng dạ chẳng bảo sao cả, và nhất là chẳng tốn một đồng tiền thuốc nào về sự ăn những tô bún quý hiếm ấy cả, thế mới lạ chứ.

Khi chúng tôi sống ở Kênh 3, Rạch Giá, thì ăn sáng bằng những món thật đồng quê như cháo gà, tiết canh Nghé với vài ly rượu nếp. Ôi tiết canh nghé sao mà ăn mát bụng quá đi thôi, nhưng có lẽ nhờ vài cốc rượu nếp mà cái bụng của tôi chẳng đình công gì cả, nó cứ làm việc đều đặn. Nói thế để mọi người yên tâm và tin rằng tôi là người tốt bụng và hảo ăn.

Ăn trưa. Chúng tôi thường thì an trưa vào đúng Ngọ, tức là 12 giờ trưa. Có lẽ tại vì lâu lắm chúng tôi mới về thăm quê hương, cho nên được người thân nuôi rất ư là chu đáo. Thực đơn là các loại món ăn mà ở bên Úc chúng tôi cho là “hàng quý hiếm”, thì  được người em họ tìm cho bằng được đem về chế biến làm bữa ăn trưa, tỉ dụ như canh rau đay, canh rau mùng tơi ăn với cà pháo chấm mắm tôm, thì hầu như trong các bữa ăn trưa đều có trong gia đình. Các loại rau lang, rau muống cũng không thể thiếu trong tuần. Các con gà nòi nuôi tại nhà đem xé thịt làm gỏi và nấu cháo ăn rất ngon. Món thịt ‘Cầy” thì đủ loại như hấp, nướng, hay món thịt chó nấu với giềng, mẻ thì ngon hết sức. Món thịt dê, tiết canh dê của Ninh Bình cũng được hiện diện trong các bữa ăn trưa của chúng tôi. Các món gỏi cá chẽm béo, hay nấu canh dưa ăn ngon cơm quá sức. Tôi đã sống từ vùng quê Trung linh, Phú An, Bình Lục ở miền Bắc, và kinh 3, kinh E thuộc Cái Sắn ở miền Tây, hay ở Phú Yên vùng đầy rẫy  món ăn hải sản như: ngêu, sò, ốc, hến, cá, tôm. Tạ ơn Chúa cái bụng của tôi thật tốt.

Ăn chiều. Buổi cơm chiều thì thường là sau lễ chiều 17 giờ 30.  Đa số là ăn tại nhà các người em họ, và cuối tuần thì chúng tôi cùng nhau đi ăn ở nhà hàng. Chúng tôi được đưa đến nhiều nơi, để thưởng thức đủ các loại  món ăn nghe nói là nổi tiếng và đông thực khách. Lạ một điều thì hình như chẳng có quán ăn nào ít khách cả, có lẽ  lúc nào cũng đầy người, kẻ vào người ra suốt từ chiều cho đến gần nửa đêm. Chính vì sự ăn uống quá độ như thế mà tôi phải nớ hết cỡ của các quần dài mang theo vì tôi đã tăng lên 5 ký lô trong 10 tuần đi du lịch. Trước khi chia tay với anh em họ hàng, để trở về Úc, tôi đành nhủ thầm chính tôi rằng: “Chỉ có lần này thôi nhé”.

Nếu đi chơi mà chỉ để ăn uống thì chán ngấy. Tôi xin kể tiếp các cái thú của tôi trong dịp đi du lịch lần này.

Chính vì tôi đã nghĩ chỉ có lần này thôi nhé, cho nên tôi đã hoạch định chương trình đi thăm viếng các người thân nhân họ hàng, các bạn bè ngày xưa còn đi học, các ngôi thánh đường trên những con đường tôi đã đi qua trong quá khứ. Tôi đi thăm những ngôi mộ trong giáo xứ của mình, để tìm lại hình ảnh của những người mà tôi thân quen nay đã nằm yên nghỉ trong nghĩa trang giáo xứ Bùi Vĩnh.

Chúng tôi về quê ngoài Bắc để gặp gỡ những người thân nhân để nhận họ hàng và đi viếng mộ và chụp hình của các cụ tổ tiên. Cái điện thoại của tôi đã biến thành máy ảnh, máy ghi âm. Nó đã giúp tôi ghi âm những bài giảng, những bài thánh ca của các ca đoàn, những mẩu chuyện vui, tiếng cười, tiếng nói thân thương của mọi người trong những bữa ăn với người thân. Tôi đã mang về tất cả những hình ảnh kỷ niệm khi sống 10 tuần lễ ở Việt Nam, vì tôi biết mình chỉ có một lần này thôi nhé.

Cách sống của thân nhân, họ hàng Tôi cũng hãnh diện vì tôi đã dám sống lại thật với con người của chính tôi, thủa còn sống hàn vi kham khổ. Có người hỏi tôi đất nước mình bây giờ giàu lắm phải không? Tôi ngậm ngùi trả lời rằng: So với thời của tôi thì các em tôi sướng hơn tôi, nhưng không giàu hơn tôi. Các em của tôi lười biếng hơn tôi, mà chúng vẫn có của để ăn mà sống, lý do vì có chúng tôi trợ giúp.

Ai đâu giàu có thì tôi không biết, nhưng anh em của chúng tôi thì kẻ bán nhà để trả nợ, kẻ thì cầm giấy tờ nhà để có tiền tiêu. Cơm sáng không chịu thổi lấy mà ăn cho đỡ tốn, cà phê không mua cả gói mang về nhà pha ra  mà lại đi ra quán cho tốn tiền và tốn thêm giờ ngồi bàn tán chuyện không thực tế.

Anh em họ ngoài Bắc vẫn nghèo, đến độ các cháu vẫn còn phải thức dậy từ 3 giờ sáng để lội bộ hàng chục cây số để mò cua, bắt ốc đem về chợ bán để mua gạo về nuôi con.

Anh em con cháu tôi ở Cái Sắn, hàng ngày vẫn đi đặt ống bắt lươn, bắt chuột, hay chăm sóc ruộng lúa, vườn rau, nuôi được ít gà vịt, vài con chó.

Cuộc sống vẫn thế như cách đây vài thế hệ, họ vẫn sống trong cảnh ăn để mà sống, chứ ít ai có tiền cho con cái lên phố để được ăn học.

Những ngôi nhà bây giờ được xây đúc bằng gạch đã làm cho mọi người nhìn thấy sự sung túc hơn so với cái thời của tôi chỉ có nhà mái tranh vách đất hay sau sau này có được mái lợp tôn thì đã khá giả lắm rồi. Thời chúng tôi thì rất hiếm tiệm tạp hoá ở trong xóm, nhưng bây giờ chỗ nào cũng tìm thấy hàng quán, từ dưới cổng nhà thờ tự nhiên cũng trở thành nơi họp chợ, cứ vài nhà là người ta có thể nhìn thấy phía trước treo bảng hàng ăn, hàng bán quần áo, hàng tạp hoá, tiệm may, tiệm thuốc, phòng mạch của bác sĩ… Có lẽ bây giờ dân chúng không có giờ nấu ăn ở nhà, nên họ thường ra quán ăn cho đỡ mất thì giờ nấu ăn và rửa chén.

Đến thăm bệnh viện công lập

Tôi đến thăm bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Lão khoa ở Hà Nội. Tôi đã nhìn thấy vẻ bên ngoài to lớn, đẹp đẽ của hai bệnh viện này, nhưng cảnh bệnh nhân đông đúc ngồi ở ngoài hành lang, đã khiến cho tôi thấy các bệnh viện ở Úc còn lâu mới có được số đông bệnh nhân như thế. Có lẽ sự giáo dục về y khoa phòng ngừa và cách sống của người dân chưa được thông tin cho dân chúng biết đủ, khiến con số bệnh nhân ở các vùng quê chuyển về các bệnh viện lớn ở các thành phố lớn ngày càng đông. Cũng có lẽ con số bị thương do tai nạn xe cộ, đánh lộn và do số người già ngày càng tăng. Hà nội đã có thêm bệnh viện Lão Khoa ngay sát cạnh Bệnh viện Bạch Mai để chăm sóc đặc biệt cho các cụ .

Cũng đã có lần tôi đến thăm Bệnh Viện Thủ Đức. Người nhà bệnh nhân phải đến xin vé từ sáng sớm để được vào khám bệnh. Ngồi ở ngoài để chờ các cô y tá gọi vào trong phòng khám. Cứ mỗi lần gọi 5 người vào và ngồi đó chờ đến lượt khám bệnh. Tất cả mọi người đều nhìn và nghe biết hết mọi chuyện mà bác sĩ tiếp xúc với bệnh nhân. Tôi nghe được những nguyên nhân bị bệnh của người bệnh đa số là hết thuốc,  không uống thuốc, hoặc uống thuốc của bác sĩ khám tư thấy không giảm thì đi đến bệnh viện khai bệnh, và khi bác sĩ hỏi toa thuốc đâu thì họ nói là quên ở nhà rồi. Có những người vì buồn phiền con cái mà ra bệnh. Có những người bệnh đến sau nhưng được ưu tiên khám trước vì họ có đóng lệ phí dịch vụ. Phòng khám bệnh còn khám công khai chứ không như ở Úc, phải kéo màn cho kín đáo, và chỉ khám riêng từng bệnh nhân một mà thôi. Cũng có vài bác sĩ người Việt đã tốt nghiệp chuyên khoa ở Mỹ, Úc  về Việt Nam làm việc. Họ làm việc rất tận tâm nhưng theo hệ thống y khoa Việt Nam thì lương bổng đâu có đáng là bao nhiêu so với mức lương ở bên Mỹ hay Úc.

Tiệm bán thuốc Tây

Tôi đi đến tiệm thuốc để mua thuốc cho người mợ, thì mới thấy cách bán thuốc ở nước ta dễ dàng hơn ở Úc rất nhiều. Khác đến độ không tưởng được. Người có toa hay không có toa của bác sĩ cũng có thể mua thuốc được, bao nhiêu cũng có thể bán, thí dụ tôi hỏi mua hộp thuốc trụ sinh Cephaxiline, thì cô dược sĩ mang cả hộp thuốc ra hỏi tôi: “Ông muốn mua bao nhiêu viên?”.

Tôi trả lời: cả hộp, rồi tôi hỏi thêm cô ta: một hộp có bao nhiêu viên.

Cô ta nói: “100 viên, giá 80 ngàn một hộp”, tôi tính nhẩm ra hết 5 đô Úc.

Thuốc trụ sinh mà họ bán tự do, muốn mua bao nhiêu tuỳ ý, khỏi cần toa. Tôi nghĩ chắc cô này là dược tá hay người phụ bán thuốc thì phải, hay do tại cả hệ thống dược phẩm đều như nhau.

Tôi quan sát thêm thì thấy phần đông người bệnh đều đến trực tiếp khai bệnh, và được các Dược sĩ bán thuốc cho. Họ cắt từng viên thuốc ra và cho vài thứ  thuốc vào một bọc nylông nhỏ và dặn người mua như sau: “Đây là liều ban sáng , trưa , chiều, tôi bán thuốc cho 3 ngày nhé”. Người mua dạ vâng, trả tiền rồi ra về. Có những tiệm thuốc mát tay phải có đến 3 hay 4 nhân viên bán mà người mua thuốc vẫn phải xếp hàng chờ đợi. Ôi! các ông bà Dược sĩ ở Úc thì sống nghèo hơn ở nước Việt mất rồi. Các vị Dược sĩ về hưu còn cho ‘mướn bằng’ được 6 triệu đồng một tháng cơ đấy.

Thăm người tôi quen

Trong chuyến đi lần này, tôi cố tình thăm đi lại những người đã cho tôi kỷ niệm yêu đương trong thủa còn độc thân. Ai cũng già đi cả, có lẽ tôi già hơn vì mái tóc bạc. Tiếng nói của họ thì vẫn còn trẻ của thời mới quen nhau, nhưng nếu nhìn vào gương mặt của họ, thì sự gầy héo của họ làm tôi cảm thấy thương cho số phận của họ nhiều hơn. Có những người gặp phận may mắn, con cháu thành đạt thì gương mặt tươi hơn, mặc dù đã thành goá phụ 44 năm. Cũng có người gặp phải số phận hẩm hiu hơn, mặc dù còn chồng con nhưng cuộc sống gia đình chẳng mấy an bình.

Đời người chỉ được chọn một lần mà thôi, vì khi đã quyết định rồi thì thân gái mười hai bến nước. Gặp bến trong thì được nhờ, còn ai gặp phải bến đục thì đành chịu cho hết đời.  Trong chuyến đi này tôi đã được nghe nhiều người tâm sự, có người đã kêu lên rằng: “tôi đã lầm…”.

Thương quá người ơi, và chúng ta chỉ còn biết cầu nguyện cho nhau mà thôi.

Cuộc sống dân tôi Chỉ một lần này thôi nhé. Tôi đã biết được thân phận của người xa quê hương khi trở về sống với tình người thân trong gia đình. Tôi trân quý từng giây từng phút, để sống cùng, ăn cùng và ở cùng. Người ta thường nói: “Dân giàu thì nước mạnh”, nhưng tôi cho rằng cần phải sửa: “Dân có đông, mà giàu thì nước mới mạnh được”. Nhìn một ngôi nhà mới được xây dựng lên giữa nhiều nhà tôn cũ rích và chật hẹp, hay cao ốc xây dở dang rồi bị ngưng vì lý do nào đó, hay thậm chí nhiều bảng quảng cáo về đô thị mới được treo lên cả năm mà chưa bao giờ được hoàn thành. Môi trường sống thiếu vệ sinh là căn nguyên của sự nghèo nàn còn tồn tại từ nhiều thế hệ như: Rác được người ta vứt ra và tập trung giữa đường lộ có đông xe cộ qua lại, để các công nhân lựa rác, rồi sau đó mới được chở đi đến nơi phân huỷ, khiến cho mùi xú uế bay toả khắp nơi dân cư.

Bệnh nhân đông quá tải mà không thấy bệnh viện công được xây cất thêm để phục vụ dân chúng. Người dân còn thất nghiệp quá nhiều, họ không được tuyển dụng, nhưng ngược lại lại tuyển dụng công dân Trung quốc.

Đất nước tôi có gì là giàu mà nói người dân không khổ? Tôi thương dân mình lắm ai ơi. Mặc dù nhiều bảng hiệu được treo như: Ấp Văn Hoá, Xã Văn Hoá, nhưng nền văn hoá thì xuống dốc. Khiến các tệ nạn như tứ đổ tường tràn lan cả nước, sống với bệnh mà người dân không biết cách phòng bệnh. Họ đã sống theo chủ nghĩa cá nhân và không còn đặt tình yêu tổ quốc làm đầu. Tuy nói như thế, nhưng không phải là tất cả mọi người đều như thế, chỉ vì  số người trí thức và nhiệt tâm quá ít ỏi, cho nên họ cũng đành bó tay, im lặng trước cuộc sống hiện tại mà thôi. Họ chỉ là những tiếng kêu lẻ loi trong sa mạc: “Hãy dọn dẹp đường xá, hãy phá bỏ tệ nạn, hãy cùng nhau xây dựng cho đất nước tươi đẹp và thanh bình.”

Đất nước tôi vẫn còn những tiếng gào thét của người dân mãi mãi. Nếu như các con trẻ, và thanh niên không được dạy sống theo lẽ công bình. Họ cần có cơ hội góp tay vào việc làm hy sinh và chia sẽ sự sống cho những người thiếu thốn. Các người lãnh đạo từ trung ương cho đến các địa phương cần phải hợp nhất chung lo cho người dân, để họ được hưởng mọi tiện nghi của cuộc sống như các nước văn minh trên thế giới.

Mọi sự rồi sẽ qua đi

Tất cả những vinh qua phú quý ở đời này chỉ là tạm bợ. Một người tướng tài thì nào có ích gì, nếu như không sống làm gương sáng và tạo ra được nhiều người tài giỏi hơn mình cho thế hệ tương lai.

Tôi lúc đầu đã nghĩ chỉ có lần này đi chơi lâu như thế, nhưng thật ra nếu tôi có sống tới ngàn kiếp, thì vẫn chưa đủ thời gian đi hết các miền của đất nước Việt Nam, để học hỏi và lắng nghe những mơ ước của người dân lành đang lam lũ chịu khó làm việc với sự trả công không cân xứng.

Đất nước tôi cũng nhiều người đã làm giàu bằng đôi tay và trí óc, nhiều ngành nghề như buôn bán, thương nghiệp, và rất nhiều người làm giàu tắt. Vâng họ đã tạo ra một bức tranh vẽ về quê hương tôi không cân xứng. Trong bức tranh đó có vẽ nhiều nông thôn thật rộng lớn, xen lẫn vài đô thị thật bé nhỏ và lưa thưa. Những ngôi nhà đồ sộ, rộng lớn ở giữa những mái nhà tranh dột nát. Các con sông dài bị xạc lở vì bão tố, và do những người khai thác cát một cách bừa bãi. Họ đã làm do sự trợ giúp của chính quyền địa phương.

Cảnh bến cảng đầy tàu đánh cá bằng gỗ được trang bị các dung cụ thô sơ, nhỏ bé, cộng thêm những chiếc thuyền thúng cột ở bên cạnh.

Thì là sao mà chống cự được với phong ba và hải tặc.

Hình như câu : “Phép vua thua lệ làng” từ thời phong kiến hãy còn được dùng trong xã hội hiện tại? Cho nên lệnh trên truyền xuống mà dưới chẳng nghe.

Nếu có ai đó cho rằng dân tôi không khổ, thì xin hãy về và đi vào những xóm làng chỉ cách các đô thị chừng 5 đến 10 cây số và sống ở đó chừng 1 năm. Tôi tin chắc bạn chẳng còn dám nói lời thật hay viết ra điều thật về đời sống của người dân.

Thế mà tại sao dân số nước tôi vẫn đông?

Cảm ơn Chúa vì thanh niên thiếu nữ ở nước ta chịu đi lập gia đình sớm, và lẽ dĩ nhiên vì ‘con là của’, nên ai lấy cũng mong có con để nối dòng giống và được nhờ, nhất là dân chúng ở vùng nông thôn. Cứ đi nghe người rao hôn phối thì biết được ngày nay ở Việt Nam các em lấy nhau ở tuổi 18 – 21. Kết hôn quá sớm so với người Việt Nam đang sống ở nước ngoài. Mặc dù con số tử vong cao vì các tai nạn, chết vì già bệnh và nạn phá thai cũng cao, nhưng so với dân số  thì tỉ lệ vẫn gia tăng theo hàng năm.

Thế mà tại sao dân tôi vẫn sống?

Vâng đây là phép lạ Chúa ban. Củ khoai cũng là bữa cơm, vài vốc cơm thừa nơi quán ăn cũng đủ nuôi sống qua ngày cho những người tha phương cầu thực, những công việc làm thuê nơi thành phố cũng đủ nuôi gia đình ở thôn quê. Đó là lý do người ta bỏ xứ lên thành làm thuê.

Ai có thể viết hết được cuộc sống khổ của người dân nước tôi. Kẻ ngồi không vì không ai mướn, kẻ làm tăng ca để có thêm được chút tiền. Đồng tiền ấy để dành và gởi về cho cha mẹ già dưới quê, có nhiều lần bị mất vì kẻ trộm lấy, có nhiều lần bị lừa vì bạn bè. Có những người sống bằng nghề băng đảng trộm cướp, buôn lậu. Có nhiều người sống bằng nghề bán thân,  và có rất nhiều người đang sống trong đau khổ vì ốm đau, bệnh tật, túng thiếu tiền bạc, thuốc men. Họ đang cần bàn tay giúp đỡ của những người có điều kiện sống tốt hơn họ. Người nhà giàu như ông Lazarô, đã không bị kết tội vô tâm, nếu như ông đã biết đồng cảm và giúp đỡ người ăn xin ở trước cửa nhà ông, cho dù là một ly nước lã hay một vài mảnh vụn thức ăn đã rơi xuống gần bàn của nhà ông.

Trách nhiệm này quy vào ai? Chẳng phải của riêng ai cả mà của mọi người.  Nhưng trước hết là của những người gánh trách nhiệm quốc gia, của những người làm chủ gia đình, của những người lân cận hàng xóm và của mọi người đang sống trên toàn cõi địa cầu. Họ đã biến quê hương, gia đình của người dân trở thành cảnh sống ở dưới địa ngục, đầy đau thương và nước mắt. Họ không biết gìn giữ trách nhiệm, danh dự, gia đình và tổ quốc. Hơn nữa có ai đứng ra chịu lỗi về việc thiếu hướng dẫn, giáo dục dân chúng đâu, có ai chịu trách nhiệm về cách xây dựng cầu cống cẩu thả đâu, và có nhà trường nào chịu trách nhiệm về dạy các em về cách sống lịch sự đâu.

Lời kết

Chỉ một lần này thôi nhé, ý nghĩ lúc đầu của tôi thay vì khiến tôi muốn chối bỏ sự chăm sóc của các con. Nhưng giờ đây, nó đã giúp tôi tận hưởng những tháng ngày du lịch. Tôi đã hiểu thế nào là cuộc sống của người dân nước tôi, và tôi nhận thức được rằng, tôi là người may mắn hơn nhiều người trong những kẻ đang đau khổ. Với Đức Tin của người Công giáo, tôi cảm thấy yêu quý cây thập giá của tôi, cho dù nặng nhọc, cho dù vất vả tôi quyết vác thập giá này đi theo Chúa Giê su đến trọn đời.

Lạy Chúa chúng con xin phó dâng linh hồn và xác trong tay Chúa, xin Chúa thêm sức cho chúng con, để chúng con quyết đi theo Ngài đến hết cuộc đời của con.

Thuỵ Miên.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.