Dấu Chỉ Phục Sinh

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
Hỏi: xin Cha cho biết nguồn gốc Kinh Thánh (Biblical roots) về lòng nhân từ, thương xót và tha thứ của Thiên Chúa dành cho con người
Trả lời: toàn bộ Kinh Thánh đã mạc khải cho chúng ta biết “Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giầu tình thương” như tác giả Thánh Vịnh 103 (Tv 103 : 8) đã ca tụng.
Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người và nhất là cứu chuộc con người trong Chúa Kitô chỉ vì Người là Đấng giầu tình thương, chậm bất bình và hay tha thứ. Người tuyệt đối không có lợi lộc gì mà phải đối xử như vậy với loài người, một điều chắc chắn chúng ta phải tin và hết lòng cảm tạ Thiên Chúa trong mọi suy tư về Người.
Kinh Thánh cho ta nhiều dữ kiện rất phong phú về tình thương tha thứ của Thiên Chúa dành cho con người, trải rộng từ công trình sáng tạo đến nhiệm cục cứu độ hoàn tất nơi Chúa Kitô, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người”. (1Tm 2 :5)
Kinh Thánh Cựu Ước nói gì về lòng nhân hậu và tha thứ của Thiên Chúa ?
Khởi đầu với Dân Do Thái, tức Dân riêng của Thiên Chúa, chúng ta thấy Người thương yêu, nhẫn nhục chịu đựng và tha thứ cho họ đến mức ngoài sức tưởng tượng của con người.
Cụ thể, sau khi được ông Mô sê hướng dẫn vượt Biên Đỏ an toàn trở về đất tự do, sau những năm tháng đau khổ bên Ai Cập, nhưng khi sống tạm trong hoang địa chờ ngày tiến vào Đất Hứa, Dân Do Thái đã chóng quên công ợn Thiên Chúa đã thương giải phóng họ, nên đã xúc phạm Người cách nặng nề khi họ “ đúc con bê bằng vàng rồi sụp lạy nó như vi thần đã dẫn đưa họ ra khỏi Ai Cập” (Xh 32:7-8). Vì thế Thiên Chúa đã nổi cơn thinh nộ và muốn tiêu diệt đám dân vô ơn và cứng đầu này. Nhưng ông Môsê đã khẩn khoản nài xin Chúa “nguôi cơn thịnh nộ và thương đừng hại dân Ngài” (cf.12). Và nhờ lời van xin cầu khẩn thiết tha của ông thay cho dân mà “ ĐỨC CHÚA đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.” ( cf 14)
Trên đây là bằng chứng cụ thể nhất về lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa cho Dân Do Thái là Dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn để chuyên chở sứ điệp tình thương của Người đến với toàn thể nhân loại sau này.
Tình thương bao la và tha thứ không bờ bến của Thiên Chúa cũng thể hiện cụ thể với dân thành Ni-ni Vê đã phạm nhiều tội to lớn đáng bị phạt. Nhưng Thiên Chúa vẫn thương và không muốn cho họ phải bị tiêu diệt, nên Người đã sai ngôn sứ Giôna đến cảnh cáo họ. Nghe lời cảnh báo của ngôn sứ, dân thành Ni NiVê- từ vua quan đến thường dân đã sám hối “ăn chay, và mặc áo vải thô” và hết sức kêu cầu Thiên Chúa thương tha thứ tội lỗi cho họ.
Thấy lòng ăn năn sám hối của dân, “Thiên Chúa đã hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng xuống họ, Người đã không giáng xuống nữa”. (Giôna 3:10)
Thế là Dân thành Ninivê đã không bị phạt vì họ đã biết nhìn nhận tội lỗi và tỏ lòng ăn năn thống hối nên đã được tha thứ ,mặc dù Thiên Chúa đã đe tiêu diệt họ vì tội lỗi to lớn đã phạm.
Trên đây là điển hình về lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa dành cho cả một dân tộc (Do Thái) và một thành trị (Ninivê) qui tụ rất đông người thuộc đủ mọi thành phần dân chúng.
Trên bình diện cá nhân, lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa được thể hiện điển hình qua hai nhân vật trong Cựu Ước là các vua Akhap (Ahab) và David
Trước hết là vua Akhap. Ông đã giầu sang, phú quí nhưng vẫn còn tham lam muốn chiếm hữu vườn nho của Navốt (Naboth). Vì Navốt không chịu chiều ý vua nên vua buồn rầu quên ăn quên ngủ, khiến vợ ông là hoàng hậu I-deven (Jezebel) đã thâm độc vu cáo Navốt là kể đã “nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua” khiến cho Navốt bị ném đá chết, và do đó nhà vua đã chiếm được vườn nho của Navốt. Ngoài ra ông còn phạm nhiều tội khác đáng bị phạt. Thiên Chúa đã nhìn rõ tâm địa độc ác của I-deven cũng như những tội to lớn của Akhap nên đã sai ngôn sứ Ê-lia ( Ejliah) đến tuyên án phạt cho hai người phải chết cùng với con cháu trong dòng tộc. Nghe án này, vua Akhap “xé áo mình ra, khoác áo vải bố bám sát vào thịt, ăn chay, nằm ngủ với bao bì và bước đi thiểu não.” (1 V 21: 27).
Thấy lòng ăn năn sám hối của Akhap, Thiên Chúa lại phán cùng ngôn sứ Êlia rằng “Ngươi có thấy Akhap đã hạ mình trước mặt Ta thế nào không ? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta, nên Ta sẽ không giáng họa trong buổi sinh thời của nó”. (Cf: 21:29) Akhap đã được tha thứ vì đã tỏ lòng thống hối về những tội lỗi ông đã làm mất lòng Chúa.
Trường hợp của David cũng tương tự. Ông được phong vương để cai tri Israel. Ông được giầu sang, phú quí, có nhiều vợ và uy quyền lừng lẫy. Nhưng ông còn tham lam để phạm tội to lớn là cướp vợ của Uriah và còn độc ác đẩy Uriah ra trận để bị quân Ammonites giết chết. Vì thế Thiên Chúa đã sai ngôn sự Nathan đến hạch tội David và cho biết Người sẽ đánh phạt ông về những sự dữ ông đã làm. Nhưng David đã hết lòng sám hối, ăn năn và đã được tha thứ như ông thú nhận sau đây:
“Bởi thế, con đã xưng tội ra với Ngài
Chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con
Con tự nhủ: nào ta đi thú tội với Chúa
Và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.” ( Tv 32 :5)
Được tha thứ, vua David đã thay đổi hoàn toàn và sau này trở thành vị đại thánh của dân tộc Do Thái. Từ đó ông đã hết lời ca tụng lòng nhân hậu của Thiên Chúa :
“Chúa là Đấng từ bi nhân hậu
Người chậm giận và giầu tình thương
…………
Như người cha chạnh lòng thương con cái
Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn” (Tv 103: 8, 13)
Con người ở đời thường khởi sự bằng cái có : có địa vị, có quyền thế, có bằng cấp, có tiền của, có sức mạnh, có tài năng … mới làm nên chuyện. Nhưng Thiên Chúa lại thường khởi sự bằng cái không.Trong sách Sáng Thế,Thiên Chúa khởi sự từ cái hoang vu trống rỗng, không không “Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, tối tăm bao trùm vực thẳm và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên nước” ( St 1,1-2). Thiên Chúa vẫn thích khởi đi từ cái không không để tạo dựng và tái tạo.
Cái hoang vu trống rỗng của “ngày thứ nhất” trong công trình sáng tạo trời đất sẽ lại xuất hiện trong một “ngày thứ nhất” khác : Ngày Chúa Kitô sống lại từ cõi chết. Đó là cái hoang vu trống rỗng của Ngôi Mộ Trống mà Mađalêna đã chứng kiến và đau buồn thốt lên “ Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi rồi”, Phêrô ngạc nhiên trong hoài nghi, Gioan “đã thấy và đã tin” .
Tất cả được khởi đầu bởi khỏi mộ. Tin tức hối hả đưa về một sự kiện lạ lùng. Các phụ nữ ra mồ và thấy tảng đá lăn ra khiến các môn đệ hốt hoảng. Phêrô và Gioan vội vã đi kiểm chứng sự việc. Cả hai cùng Phêrô đi vào trong mộ trước chạy ra mồ. Tốc độ khác nhau vì khả năng thể lý khác nhau, và thấy các băng vải và khăn liệm gấp lại để riêng ra một góc. Người môn đệ Chúa yêu thương đến mộ trước nhưng lại vào sau. Gioan đi vào bên trong và thấy những băng vải liệm được xếp gọn gàng. Phêrô và Gioan không thấy xác Chúa trong ngôi mộ mở toang.
Có lẽ lúc này Philatô còn đang ngũ. Các Thượng tế, Kinh sư, Kỳ mục cũng thế. Họ ngủ thật say. Sung sướng vì đã dẹp yên được một chướng ngại từng làm họ ghen tức, mất ăn mất ngủ. Mọi sự đã được giải quyết đúng như sự sắp đặt khéo léo của họ. Cái tên Giêsu rồi sẽ bị quên lãng, chẳng còn ai nhắc tới. Tảng đá to đã niêm phong cửa mộ. Giêsu Nazarath đã đi vào lòng đất lạnh. Họ hả hê vui sướng. Tử thần đắc ý vỗ tay reo vui. Xác Đức Giêsu nằm trong mộ huyệt tối tăm, như hạt lúa mục nát trong lòng đất.
Đối với những người vẫn thương mến Chúa Giêsu thì kể như đã hết. Không còn gì ngoài những kỷ niệm xót xa chua chát. Một thực tế phủ phàng trĩu nặng nổi âu lo sợ hải. Niềm hy vọng lớn lao xưa đã bị chôn vùi cùng với Giêsu Nazareth. Sáng nay, mấy chị em phụ nữ ra mộ thì cũng chỉ có mục đích là ướp lại cái xác không hồn chưa kịp thối rửa. Họ đi tìm một cái xác, một kẻ chết, nhưng họ đã đối diện

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.