Giải Đáp và Hướng Dẫn (Số Báo Tháng 7, 2010)

Lm. Đa Minh Trần Quốc Bảo, DCCT

“ĂN CƠM TRƯỚC KẺNG”

Thưa cha, từ trước đến giờ, con vẫn được dạy rằng hai người không phải là vợ chồng mà ‘ăn nằm’ với nhau thì mắc tội trọng. Con có quen với một bạn trai. Con biết anh ta thật tình thương con. Nói thật, con cũng rất thương anh ấy. Chúng con mới bắt đầu bàn đến việc hôn nhân tương lai độ chừng hai tháng nay. Nhưng có một điều làm cho con hơi khó nghĩ. Từ khi anh ta ngỏ ý xin cha mẹ anh nói chuyện với cha mẹ con, hình như anh hơi ‘gia tăng vận tốc’ trong việc thân mật, và nhiều lần cứ muốn con ‘thể hiện’ như vợ đã cưới! Điều làm con ngạc nhiên và bị sốc nặng hơn chính là, ngay cả ba má anh ta cũng cứ nghĩ con như con dâu cưới rồi. Có thể ông bà ấy rất muốn con lấy anh ta, cho nên cứ tạo điều kiện cho anh ấy gần gũi riêng với con. Có lần họ còn nói xa xôi như thể nhắn nhủ con ý kiến đại khái : “Khi hai người đã thật lòng thề hứa cưới nhau…thì việc ‘thân mật’ để hiểu nhau hơn cũng là điều tốt thôi!”. Con căng thẳng quá, vì một đàng thì không muốn làm mất lòng bạn trai và gia đình anh ta; đàng khác, con vẫn thấy áy náy lương tâm khi làm điều ấy. Vậy thưa cha, khi hai người yêu nhau và sẽ lấy nhau, việc ăn ở như vợ chồng trước khi đám cưới có thật sự là tội lỗi không? Xin cha chỉ dẫn cho con rõ để biết cách cư xử trong việc này.

( ‘Hoa mắc cở’ )

Chào ‘Hoa mắc cở’ ( và tôi còn gọi thêm ‘Hoa mắc cở mà khôn ngoan’ ) thân mến! Trước nhất, cám ơn bạn đã can đảm nêu lên một vấn đề xem ra có vẻ ‘ngược đời’ giữa ‘thời đại tân tiến’. Trong xã hội tự do ngày nay, quả thật, không thiếu gì những người trẻ đã mất hẳn ý thức về sự hệ trọng và tính thánh thiêng của hành động luyến ái nam nữ. Một số cha mẹ, như phụ huynh của bạn trai bạn còn nghĩ như thế, nói gì đến giới trẻ là những người đang phải đối diện hằng ngày với những điệp khúc mùi tai như: ‘Chuyện đó’ cũng là nhu cầu bình thường như ăn cơm, uống nước..!’, ‘Mọi người đều làm, tôi cũng làm thế thôi!’.

Điều cần xác định rõ ràng là ở đây là: theo giáo huấn luân lý công giáo, mọi sự luyến ái xác thịt ngoài vòng hôn nhân chính thức đều là hành động tội. Ngay cả khi hai người có ý định lấy nhau nhưng chưa chính thức thành hôn thì việc đó vẫn là tội. Đó là tội thứ ba trong 7 mối tội đầu: chiều theo nhục dục. Tội này là một điều cấm trong 10 điều răn đạo Chúa :“Ngươi không được luyến ái ngoại hôn” (Xuất hành 20:14). Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu dạy: “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa” (Mt. 5:8). Thánh Phaolô thì nói: “Người háo dục, thờ quấy, ngoại tình, dâm ô…sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa…Anh em hãy tránh tà dâm” (1Co. 6:9-18).

Từ thời ông S. Freud phát triển khoa phân tâm học, người ta thường nghĩ rằng sinh hoạt tình dục là điều tốt chứ không xấu. Hay nói kiểu giới trẻ trong thời khủng bố và chiến tranh ngày nay: ‘making love is better than making war!’ (nôm na: ‘giao tình thì tốt hơn là giao chiến’). Vậy thì tại sao giáo lý công giáo lại coi việc luyến ái tính dục ngoài hôn nhân là tội? Để trả lời, chúng ta hãy nghĩ đến một ví dụ cụ thể. Chiếc xe hơi được phát minh với mục đích giúp ích cho người ta di chuyển khỏe khoắn, dễ dàng, đỡ tốn giờ. Việc chế tạo ra chiếc xe nhằm mục đích tốt. Chiếc xe tự nó là một phương tiện tốt. Nhưng để cho phương tiện ấy thật sự tốt và phục vụ con người, cần có một điều kiện rất quan trọng: người lái xe phải có những hiểu biết căn bản trong việc xử dụng chiếc xe, và phải am tường luật lệ giao thông công cộng. Ta hãy tưởng tượng, một người lái xe mà không biết quy tắc an toàn căn bản về kỹ thuật của chiếc xe, hoặc không tuân thủ luật giao thông! Hậu quả tất yếu sẽ là phá hại xe tốn tiền, gây nguy hiểm cho sinh mạng của mình và người khác. Lúc ấy, tuy rằng cái xe tự nó là tốt, và mục đích phát minh của nó vẫn là tốt, nhưng kết quả cụ thể đối với người lái ấy thì rất xấu.

Tương tự phần nào như ví dụ trên, ta có thể nói: tính dục tự nó là điều tốt lành, thánh thiêng. Kinh thánh nói rằng, khi Thiên Chúa tạo thành con người có nam nữ (có tính dục), Ngài đã thấy ‘phát minh’ đó của Ngài thật tốt đẹp. Ngài đã kết hợp họ nên một và chúc lành cho họ (Stk 1:27-28). Nhưng trong thượng trí của Thiên Chúa, tính dục chỉ thật tốt đẹp khi con người sống thực tại này theo sự chỉ dẫn khôn ngoan của Ngài. Có 2 điều cơ bản mà Thiên Chúa dạy con phải đắc thủ khi xử dụng ‘phát minh’ tính dục:

a) Phải chính thức dấn thân trước xã hội và giáo hội, và được sự chúc lành của Thiên Chúa (‘Và Thiên Chúa đã chúc phúc cho họ’ – Stk 1:27);

b) Phải hiểu biết và chấp nhận chu toàn những bổn phận riêng của đời sống lứa đôi là : truyền sinh và xây dựng gia đình (‘Hãy sinh sôi nảy nở’ – Stk 1:28).

Nói cách khác, để trao đổi cho nhau sự thân mật tính dục, hai người nam nữ phải ở trong một giao ước hôn nhân chính thức.Vì qua giao ước hôn nhân chính thức, họ mới có thể công nhiên lãnh nhận trách nhiệm chung thủy, yêu thương và truyền sinh giống nòi.

Trao đổi sự thân mật nam nữ mà không (hoặc chưa) có giao ước hôn phối thì giống như ngồi lên xe, khởi động máy, di chuyển xe mà không có bằng lái, không biết xử dụng ra sao và làm chủ chiếc xe thế nào. Lúc đó, chiếc xe có thể gây tai nạn cho thể xác thế nào thì tình dục ngoài hôn nhân cũng tạo nên nhiều tang thương tinh thần như thế. Có những tang thương về mặt siêu nhiên là sự cản trở trong đời sống ân phúc với Chúa qua các bí tích. Có những tang thương về mặt tự nhiên và xã hội như mặc cảm cá nhân, làm hôn nhân tương lai có cơ hội thất trung, gia đình tương lai bất ổn định, và nếu có con cái thì sẽ khó giáo dục sau này, vì cha mẹ của chúng thiếu nền móng gia phong đàng hoàng, v.v..

Tất cả những sự tang thương ấy đều phản lại hạnh phúc đích thực của con người và trái với thánh ý Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao luyến ái tính dục ngoài hôn nhân là xấu xa, tội lỗi.

Tóm lại, tôi xin xác nhận với bạn rằng, theo giáo huấn và lương tâm luân lý công giáo, cho dù có ‘thề non hẹn biển’ với nhau, đôi bạn cũng không được phép ăn ở với nhau trước ngày thành hôn. Như bạn đã biết đó, biển thật thì quá bao la, vĩ đại mà gần đây cũng đã gây những cơn chấn động Tsunami làm hàng trăm ngàn sinh linh điêu đứng tại vùng Nam Á, huống gì ‘biển hẹn non thề’ trong cõi riêng tư giữa hai con người yếu đuối!!!

“ĐÁM CƯỚI GIẤY TỜ”

Thưa cha, con có người em họ xa dang ở Việt nam muốn qua Mỹ học hành. Khổ nỗi cô ta không có điều kiện tài chánh mà cũng không có diện gì để di qua Mỹ. Con muốn giúp cho cô ta bằng cách làm giấy tờ hôn thú. Đây chỉ là vấn đề giấy tờ để đi Mỹ thôi, ngoài ra không có gì khác. Con không biết lương tâm công giáo có nên làm việc đó không? Xin cha cho con ý kiến cố vấn.

( Xin Dấu Tên )

‘Hôn nhân di trú’ là một hiện tượng chẳng mới mẻ gì trong lịch sử di dân Hoa Kỳ (hoặc những quốc gia phát triển kinh tế). Mấy năm gần đây, tình trạng này xảy ra khá thường xuyên trong cộng đồng người Việt. Dĩ nhiên có những trường hợp bảo lãnh vị hôn thê, hôn phu thật thì điều ấy tốt và nên làm. Nhưng cũng có không ít trường hợp ‘kết hôn giả’ với mục đích đi ngoại quốc. Thậm chí, còn có những người chuyên kiếm tiền bằng dịch vụ kết hôn kiểu này.

* Người công giáo phải suy nghĩ và hành xử thế nào trong trường hợp này?

Phải nói đây là một vấn đền luân lý quan trọng. Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng : “Hãy trả cho Cêsar những gì thuộc về Cêsar” (Mt. 22:21). Theo tông đồ Phaolô :”Mọi công dân phải tuân phục công quyền vì đó là do Thiên Chúa thiết định” (Rm 13:1). Đó cũng là lập trường của giáo hội từ thời sơ khai ((Dt. 13:17; 1 Phêrô 2:13-14; Titô 3:1). Và cũng là điều Giáo hội Công giáo dạy. Sách Giáo lý Công giáo xác định rằng người tín hữu Kitô sống trong xã hội cần phải tôn trọng công quyền và tuân hành những luật pháp công chính (GLCG. # 1990, 1916). Tất cả những điều này để nói rằng, là con Chúa, chúng ta không được phép làm chuyện phản lại luật pháp chính đáng được quy định bởi chính quyền. Nếu luật pháp về hôn phối hay di dân của mỗi quốc gia nhằm lợi ích chung của con người hay sự trật tự trong tổ chức xã hội thì được coi là chính đáng. Người Kitô hữu phải tuân hành.

Theo ý kiến của nhà luân lý lớn là Thánh Tôma Aquinô, luật pháp công chính là nhằm xây dựng và bảo vệ công ích (common goods) như hòa bình, công lý xã hội. Khi mang tính cách công chính như thế, công quyền và luật pháp xã hội (human law) phản ảnh ý định của Thiên Chúa và các lề luật vĩnh hằng của Ngài (divine law). Do đó, nó có thể là phương tiện gián tiếp cho việc cứu rỗi con người. (Tổng-luận Thần-học I-II, đề 96, điều 4-6).

Tôma Aquinô cũng dạy rằng sự tôn trọng công quyền và tuân hành pháp luật công chính là một nhân đức xã hội. Nhân đức này liên hệ chặt chẽ với Đức Công Bằng và Đức Bác Ái xã hội. Nhân đức này cũng gián tiếp liên quan đến lòng kính sợ Chúa là Đấng cắt đặt trật tự trong cộng đồng loài người (TLTH, II-II, đề 104, điều 2,3,6).

Đặc biệt, Tôma Aquinô cũng xác định rằng sự bất tuân luật pháp công chính là tội, và đó là tội trọng (TLTH, II-II, đề 105, điều 1). Vì hành động ấy nguy hại cho công lý và bác ái xã hội, và phản nghịch ý định tốt đẹp của Thiên Chúa. Lập trường này phản ảnh quan điểm của thánh Phaolô rằng:”Ai chống đối luật pháp công quyền là phản nghịch chương trình Thiên Chúa thiết định. Kẻ ấy sẽ phải chuốc lấy án phạt cho mình!” (Rm 13:2). Sự bất tuân này có thể ẩn dưới một dạng cụ thể là lừa gạt công quyền và gian lận với luật pháp qua việc ngụy-thệ (Perjure – Thề gian). Và như thế ngụythệ cũng là tội, và là tội trọng (TLTH II-II, đề 98, điều 1-2).

Việc làm hôn thú giả bao hàm thái độ bất tuân, phản lại luật lệ công chính. Để thực hiện toan tính này, đương nhiên phải có sự lừa gạt luật pháp, ngay cả ngụy thệ đối với công quyền. Vậy xét theo lương tâm công giáo, làm hôn thú giả để di trú là một việc sai trái, có tội. Xét theo luân lý xã hội, người tín hữu không nên cộng tác vào việc ấy dưới bất cứ hình thức nào. Họ càng không được phép chủ động trong việc ấy vì bất cứ lý do gì, cho dù để kiếm tiền hay chỉ đơn thuần vì tình nghĩa gia đình, bạn bè.

Ngoài ra, ‘hôn nhân di trú’ còn liên quan đến một vấn đề luân lý cá nhân nữa. Hôn nhân là một thực tại được Thiên Chúa thiết lập với mục đích thánh thiện. Không thể dùng cơ chế hôn nhân như một phương tiện để thực hiện mục đích khác, nhất là lợi ích cá nhân. Xét theo nghĩa này, việc kết hôn ‘để được di trú’ cũng không khác gì kết hôn ‘vì bằng cấp’, ‘vì tiền của’, v.v.:tất cả đều nhằm quyền lợi cá nhân mà tầm thường hóa ý nghĩa thiêng liêng của hôn nhân.

Trong quá trình mục vụ, chúng tôi biết có những người trước đây đã làm ‘hôn nhân di trú’, sau này ‘hôn nhân thật’ và đời sống gia đình của họ gặp rất nhiều vấn đề. Việc kết hôn và ly dị của ‘hôn nhân di trú’ trước dù sao cũng gây nên những hậu quả tâm lý (và pháp lý) có thể làm khó khăn cho hạnh phúc trong đời hôn nhân và gia đình thật sau này.

LY DỊ VÀ TIÊU HÔN KHÁC NHAU THẾ NÀO

Thưa cha, trong Phúc âm Chúa có nói : “…vì lòng dạ các ngươi chai đá nên Maisen đã cho phép rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không được như thế”. Vậy, một cách nào đó Chúa Giêsu muốn khẳng định lại luật nguyên thủy của hôn nhân. Thế thì tại sao:

a) Ngày nay, đi đến đâu con cũng nghe nói đến việc tiêu hôn (annulment) giữa hai người đã thành hôn theo nghi thức và bí tích của Giáo hội Công giáo? Việc ấy có hợp pháp (legal) với đạo Công giáo không?

b) Tại sao hầu như trong mỗi giáo phận đều có Tòa Án Hôn Phối để cứu xét và cấp giấy cho phép người ta tái hôn? Phải chăng là luật ‘cả nể’ của Maisen vẫn còn được áp dụng?

Ngọc Anh Hồ.

Câu hỏi của ông liên quan đến 2 trường hợp cần phải phân biệt rõ ràng: Tiêu hôn (annulment) và Ly dị (divorce).

a) ‘Tiêu hôn’ khác biệt hoàn toàn với ‘ly dị’. Tiêu hôn là xác nhận rằng một cuộc hôn nhân đã không thành bí tích (sacramentally invalid) vì những yếu tố như bị ép buộc cưới nhau, gian dối hay bị lừa gạt tình cảm, thiếu sự hiểu biết và ưng thuận rõ ràng về bản chất, mục đích, quyền lợi căn bản của hôn nhân (xem Giáo luật từ số 1095 đến số 1107), và vì những điều đã được Giáo hội quy định (xem Giáo luật số 1083 đến số 1094). Ngược lại, ly dị là tự ý phân ly, phá đổ một khế ước hôn nhân đã thành bí tích (sacramentally valid).

Như vậy, một giao ước hôn nhân tuy đã được cử hành theo nghi thức Công giáo (bên ngoài) vẫn có thể được coi là không thành bí tích (bên trong) khi bị mắc vào những yếu tố nêu trên. Nếu cuộc hôn nhân quả thật không thành sự, thì hôn nhân ấy cũng không có giây bí tích ràng buộc (sacramental bond). Do đó, tự nó, việc tái hôn trong trường hợp này sẽ không bị ngăn trở, hoặc bất hợp pháp, xét theo luật đạo Công giáo.

Tuy nhiên, để việc cử hành hôn nhân mới được thật sự hợp pháp, giáo luật yêu cầu hai người phải làm thủ tục tiêu hôn, và phải nhận được phán quyết tiêu hôn chính thức (nullity decree) của giáo quyền trước khi tiến hành nghi thức hôn phối lại (xem Giáo luật số 1085: 2).

b) Trong bổn phận mục vụ của mình, “vị Chủ Chăn (Giám mục) phải lo liệu sao cho các tín hữu của mình bảo toàn bậc sống hôn nhân theo tinh thần Kitô giáo, thăng tiến ơn gọi gia đình theo đường trọn lành” (GL. 1063). Và, các ngài phải thu xếp sao cho “sự lo liệu, trợ giúp nói trên được tổ chức cẩn thận” (GL. 1064). Điều đó nghĩa là Tòa án Hôn phối trong Giáo hội được thiết lập như một cơ quan cụ thể để chăm sóc cho sự thiện ích thiêng liêng về nhiều mặt của gia đình Công giáo. Chắc chắn Tòa án ấy không phải chỉ ‘để cấp giấy cho phép người ta tái hôn’ hầu ‘áp dụng luật cả nể của Maisen’.

Thật ra, ở đây cũng không phải là vấn đề ‘cả nể’. Vì, không có luật lệ nào của con người (cho dù là luật Maisen thời xưa hay luật Giáo hội thời nay) được đặt cao hơn và phải ‘cả nể’ hơn là luật Thiên chúa. Nếu một cuộc hôn nhân đã thành sự bí tích, nghĩa là đã thật sự được Chúa đóng ấn và liên kết, thì Giáo hội không bao giờ có quyền tháo gỡ. “Sự gì Thiên chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mt. 19:6). Nhưng, khi tuyên bố một cuộc hôn nhân ‘tiêu hôn’, Giáo hội chỉ làm công việc điều tra, suy xét và xác định rằng hôn nhân ấy đã không thành sự vì những lý do đặc biệt nêu trên.

HÔN NHÂN TÌNH YÊU VÀ TÔN GIÁO

Thưa Cha, con là một thanh niên Công giáo rất tin tưởng đạo của mình. Con có quen một người bạn gái ngoại đạo. Trước đây cô ta có ý muốn xin học đạo và rửa tội, nhưng sau này, cô ta tự ái và bỏ ý định ấy chỉ vì một lần nghe thấy cha mẹ con đặt điều kiện bắt ép cô phải theo đạo mới cho con làm đám cưới.Hiện nay, cô ấy vẫn còn bất mãn lắm. Cô chủ trương “đạo nào cũng tốt”, nếu con muốn cưới cô thì đạo ai nấy giữ. Nếu con không chịu thì cô sẽ chia tay. Xin cha góp ý giúp con phải suy nghĩ và làm sao cho đúng.

N.V. Dần

Đây là một vấn nạn rất phổ thông nơi các gia đình Việt nam. Câu hỏi của anh có thể gợi ý suy tư về nhiều vấn đề khác nhau như : cách hướng dẫn của cha mẹ, hôn nhân và tín ngưỡng trong đời sống vợ chồng, tình yêu và đức tin nơi người trẻ,.

Trước nhất, ý kiến của cha mẹ anh rất chí lý. Tuy là luật Hội thánh hiện nay cho phép người tín hữu Kitô lấy người không công giáo qua phép chuẩn dị giáo, nhưng giáo hội cũng nhắn nhủ rằng chỉ xin phép chuẩn này trong những trường hợp mà bên không công giáo có lý do chính đáng khiến chưa sẵn sàng tòng đạo (dĩ nhiên là với điều kiện rằng người phối ngẫu công giáo phải được tự do giữ đạo, đồng thời con cái phải được rửa tội trong Đức tin công giáo) (xc. GL. 1125). Kinh nghiệm cho thấy rằng, có những người phối ngẫu không công giáo, trước thành hôn thì hứa theo đạo, nhưng khi đã làm đám cưới xong thì quên bẵng lời hứa hoặc thiện chí tìm hiểu, nhập đạo.

Tuy nhiên, nếu cha mẹ tỏ bày lập trường cách khéo léo, mềm mỏng thì sẽ tốt đẹp hơn. Xét về mặt tâm lý và văn hóa Việt nam, sự đối thoại giữa những người khác biệt tín ngưỡng luôn luôn là một vấn đề tế nhị. Như chúng ta thấy, thái độ ‘đóng cửa lòng’ của cô bạn anh không có nghĩa là cô có ác cảm với đạo công giáo, mà chỉ là do sự ‘bất mãn’ với cách thức có vẻ ‘ăn chắc mặc bền’ của cha mẹ anh. Điều này cũng là một sự tự vấn cho người công giáo trong nghệ thuật cảm hoá người chưa biết Chúa.

• Nhưng, phải nghĩ sao về việc lấy nhau rồi đạo ai nấy giữ ?

Trong hôn nhân, chủ trương ‘đạo ai người ấy giữ’không phải là một điều tốt nhất. Đời sống vợ chồng phải là một sự kết hợp trọn vẹn, từ thể xác đến tinh thần, khi hạnh phúc cũng như lúc buồn phiền. Theo nguyên tắc thì, khi đi vào hôn nhân, các người phối ngẫu phải cố gắng làm tất cả những gì có thể làm để san bằng những dị biệt hầu hiệp thông trọn vẹn hơn trong mọi phương diện. Vấn đề tâm linh là một phương diện rất quan trọng của đời người. Thế nên, sẽ thật đáng tiếc nếu, trong khi cảm thông và chia sẻ với nhau mọi sự, vợ chồng còn giữ lại sự dị biệt về tín ngưỡng, và chia cách nhau ở mức độ sâu thẳm nhất của tâm hồn là niềm tin tôn giáo. Làm sao hai người phối ngẫu có thể chia sớt cho nhau trọn vẹn niềm vui những khi thành công, hạnh phúc, và an ủi, đỡ nâng tinh thần nhau trong những cơn rủi ro, bệnh hoạn, tang tóc, nếu quan điểm tâm linh của hai người về những thực tại này khác biệt?

Hơn nữa, đi vào đời hôn nhân, tất nhiên ta phải nghĩ đến việc sinh sản con cái. Mà nói đến việc sinh con, thì cũng phải nghĩ đến việc giáo dục con. Trong việc giáo dục tinh thần, đào tạo tâm hồn con cái, nếu vợ chồng không nhìn cùng một hướng, không nói chung một ngôn ngữ, không dạy cùng một bài học thì làm sao có thể hoàn thành sứ mạng ấy? Nếu bị chi phối vì sự khác biệt tôn giáo giữa cha và me, con cái sẽ không có một hướng đi rõ ràng về tâm linh; và do đó, chúng có thể sinh ra hoang mang, khủng hoảng tâm hồn.

• Vậy cụ thể, phải làm gì trong hoàn cảnh hiện nay của anh ?

Hiện tại, điều làm anh băn khoăn có lẽ là không biết có nên…‘bỏ của chạy lấy người’ hay ‘bỏ người mà giữ lấy của’. Chuyện của anh cũng là một kinh nghiệm giá trị cho các bạn trẻ. Thường thường, chẳng ai mong muốn rơi vào trường hợp khó xử thế này. Nhưng để tránh khỏi trường hợp ấy, không gì tốt hơn là nên đề phòng. Nghĩa là, từ khi bắt đầu đi vào tình yêu và nghĩ đến chuyện hôn nhân tương lai, các bạn trẻ phải can đảm ghi vào ‘danh sách tiêu chuẩn’ của mình yếu tố tôn giáo. Phải thẳng thắn và thực tế trao đổi với nhau về vấn đề hệ trọng này trước khi con tim hai người phát biểu tiếng ‘yêu’. Ông bà ta thường nói ‘cắm sào sâu khó nhổ’. Một khi con tim đã ‘khởi động’, lý trí thường ‘đứt bóng’. Lúc ấy, có băn khoăn hay không thì cũng chỉ còn biết ca bài ‘..nói ra nhiều cũng vậy thôi!’.

Tóm lại, vì sự hoà hợp hôn nhân và niềm tin Kitô hữu rất quan trọng cho hạnh phúc gia đình anh trong tương lai, anh nên cố gắng tạo một cơ hội để cha mẹ và bạn gái mình có thể trao đổi lại về vấn đề này trong tinh thần cảm thông và xây dựng. Sự đối thoại chân thành, với tinh thần xây dựng sẽ giúp giải quyết nhiều phức tạp trong tương quan con người.

Lm. Đa Minh Trần Quốc Bảo, DCCT

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.