Không Ai Biết Trước Ngày Mai

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Tiếp theo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.“

Trong Giáo hội Công giáo có rất nhiều dòng tu. Mỗi một dòng tu đều có hiến pháp, tôn chỉ và đường hướng để hoạt động Tông đồ. Hội dòng nào cũng đều có luật dòng, có những tiêu chuẩn hướng dẫn trong hiến pháp để cho các tu sĩ thực thi trong đời sống hàng ngày và tự rèn luyện mình để nên thánh. Lý tưởng của đời tu sĩ là thánh hóa bản thân và phục vụ tha nhân. Với ba lời khuyên Phúc âm: Vâng phục, Khiết tịnh và Khó nghèo, các tu sĩ sẽ dùng nó để thánh hóa bản thân. Với đường hướng của hội dòng thì dù sống đời chiêm niệm (lao động và cầu nguyện trong khuôn viên tu viện) hay ra ngoài hoạt động tông đồ bằng những công việc giữa đời thì đích điểm vẫn là phục vụ tha nhân.

Tu sĩ chân chính nào thì cũng đều được đào tạo và phải tự rèn luyện mình để cố gắng càng trở nên giống Đức Giê-su Ki-tô bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Trên lý thuyết thì tu sĩ nào cũng đều biết rằng nếu mình muốn trở nên giống Chúa Giê-su Ki-tô hơn thì phải thuộc lòng và sống theo bản Hiến Chương Nước Trời, hay còn được gọi là Phúc Thật Tám Mối. Trong Tám Mối Phúc Thật thì Mối Thứ Năm dạy rằng: “Ai thương xót người, ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy.” Nhưng trong thực tế thì không phải hội dòng nào, tu sĩ nào cũng thực thi tốt điều này đâu. Như con đã thưa với Quý vị ở phần trước trong câu chuyện xuyên suốt “Không Ai Biết Trước Ngày Mai” rằng: trong Tổng Giáo phận Melbourne có 220 giáo xứ và có 36 hội dòng nam với rất nhiều cộng đoàn nhỏ rải rác khắp nơi trong Giáo phận. Thế nhưng khi Bề trên của Tổng Giáo phận kêu gọi thì chỉ có duy nhất Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew, Victoria dám nhận cho con về sống trong Tu viện.

Vì vậy, dựa vào Tám Mối Phúc thật ở Mối Thứ Năm: “Ai thương xót người, ấy là phúc thật…” và dựa trên thực tế những gì đã xảy ra qua trường hợp “khốn nạn, khốn khổ” của con, thì phải nói rằng: Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew, thuộc Tiểu bang Victoria, Úc Châu đã thực thi mối này – “mối thương người” một cách hết sức hoàn hảo. Thiết nghĩ cũng cần viết thêm rằng, Quý Cha và Quý Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew vào năm 2013 là những người có lòng thương người thực sự và họ là những con người cực kỳ can đảm. Chỉ có những người có lòng thương người thực sự và can đảm lắm thì mới dám “chứa chấp” một kẻ bệnh tật, chưa có địa vị, không có tương lai, không tiền không bạc, không bà con thân thích, đang dở sống dở chết trong nhà mình!? Chỉ có những Linh mục, những Tu sĩ có tấm lòng đại độ, không tính toán thiệt hơn, không sợ vạ lây, không khinh thường người nghèo, thì mới dám nhận con vào sống trong Tu viện trong thời điểm đó!? Chỉ có những con người có lòng thương người thật sự, không mong đền đáp, thì mới dám mở cửa lòng, mở rộng vòng tay, mở rộng trái tim yêu thương và mở rộng hai cánh cửa Nhà Dòng để đón một kẻ khốn cùng, ngồi xe lăn vào sống chung trong Tu viện!? Thực sự các Cha, các Thầy Dòng Chúa Cứu Thế thời điểm đó hết sức gan dạ: gan dạ vì cho con vào Tu viện ở thời điểm đó thì chẳng khác gì tự vác một quả bom nổ chậm vào đặt trong nhà mình. Vì vào thời điểm đó thì chuyện sống chết của con ngay cả các bác sĩ cũng không dám bảo đảm là sẽ kéo dài được bao lâu! Các Cha, các Thầy trong Tu viện không những là can đảm mà còn liều lĩnh nữa. Lỡ như hồi đó con chết đột ngột trong Tu viện thì các Cha, các Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế lãnh đủ – các ngài đâu tránh khỏi những rắc rối về cái chết của con!? Chắc chắn các cơ quan của chính phủ sẽ từng bước làm thủ tục và điều tra về cái chết của con….!? Riêng chuyện mở cửa Nhà Dòng để cho người ta vào điều tra lần này lượt khác cũng đã rắc rối nhiều rồi, chứ chưa kể đến nhiều chuyện phiền hà khác!

Cho nên, nếu có ai hỏi con: Tu sĩ Dòng nào trên thế giới sống có lòng thương người và bác ái nhất? Con sẽ không ngần ngại trả lời rằng: các Cha, các Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew vào những năm 2013 – 2014, là những Tu Sĩ sống đầy ắp tình thương và bác ái nhất đối với tha nhân và nhất là với người nghèo khổ. Con sẽ trả lời khẳng khái như vậy nếu ai nói sai thì con chịu trách nhiệm và sẵn sàng giải thích về những gì con nói. Các thế kỷ trước vì con chưa được sinh ra nên con không rõ, nhưng trong thế kỷ 20 và thế kỷ 21 này thì con chưa thấy một hội dòng nào dám nhận một bệnh nhân như con (không phải người của nhà dòng) vào sống trong tu viện cả. Nếu ai biết đã có trường hợp một nhà dòng nào đó đã từng nhận một bệnh nhân dở sống dở chết vào sống chung trong Tu viện với các tu sĩ thì làm ơn cho con biết với để con tìm đến học hỏi thêm!

Như Quý vị đã biết: trong suốt thời gian gần trọn hai năm nằm trong nhà thương thì vào khoảng từ cuối năm thứ nhất, chuyện ăn uống của con đã có hai người phụ nữ người Việt ở Melbourne tình nguyện, thay phiên nhau để giúp con việc ăn uống (con đã nêu tên hai vị ân nhân đặc biệt này trong các bài viết trước). Còn lại thời gian khi không có sự hiện diện của hai người phụ nữ này thì các y tá phải chăm sóc việc ăn uống cho con.

Nhà thương St Vincent ở Melbourne là một nhà thương của Giáo hội Công giáo tại Melbourne. Năm 1889, khi đó mới có 5 Nữ tu của Dòng Nữ Tử Bác Ái ở Melbourne. Vào những ngày đầu đặt chân đến Melbourne, các Nữ tu này đã ước mơ xây dựng một nhà thương để phục vụ bệnh nhân ở Thành phố này. Với sự giúp đỡ của một số linh mục và các mạnh thường quân, năm 1893 thì các Nữ tu này đã xây dựng được một nhà thương nho nhỏ tại vị trí mà nhà thương St Vincent đang tọa lạc tại Melbourne. Lúc đầu thì nhà thương nhỏ này chỉ chứa được gần 100 bệnh nhân. Trải qua hơn một thế kỷ, hiện nay (2011) thì nhà thương này đã có 880 phòng cho bệnh nhân nằm điều trị với tất cả 5 ngàn nhân viên phục vụ. Trước đây nhà thương St Vincent này do các nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái điều hành và phục vụ. Nhưng vào những thập niên cuối của thế kỷ trước thì số nữ tu của Dòng này đã giảm dần. Và vào thời điểm con nằm trong nhà thương này (2011 – 2013) thì số nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái đã dần dần thiếu hụt rồi thiếu hẳn, không còn đủ nhân sự để điều hành và quản lý nhà thương này nữa. Cho nên, Tổng Giáo phận Melbourne và Hội dòng Nữ Tử Bác Ái đã phải thuê người điều hành, thuê các bác sĩ, y tá, và nhân viên bên ngoài vào phục vụ. Tuy các nữ tu của Dòng Nữ Tử Bác Ái không còn điều hành và phục vụ tại nhà thương này nữa, nhưng các bác sĩ và y tá rồi các nhân viện trong nhà thương này vẫn theo cung cách và truyền thống phục vụ của các nữ tu thời trước. Chính vì thế, các bác sĩ, y tá, và các nhân viên ở đây phục vụ bệnh nhân rất tốt và tận tâm.

Sống trong nhà thương St Vincent này, một bệnh nhân hạng nặng như con, nếu muốn luôn luôn có y tá ngồi bên, đút cho ăn mỗi bữa như người mẹ đút cho trẻ thơ ăn, thì họ vẫn cứ vui vẻ làm. Họ có thể làm từ ngày này qua tháng khác mà không hề kêu ca hay trách móc điều gì. Trong suốt thời gian con ở trong nhà thương này thì họ chưa bao giờ nói nặng lời với con hoặc cằn nhằn, than phiền hay khó chịu về con cả. Vì ở trong đó ai cũng biết con là “người thật việc thật” – bệnh nặng thật và đã khuyết tật thật chứ không phải là kẻ lười biếng hay giả làm. Các y tá vui vẻ đút thức ăn cho con ăn, bưng nước, bê sữa cho con uống vì họ đã thấy rõ đôi tay con còn quá yếu, lọng cọng, chưa đủ sức để tự cầm nổi chiếc xiên hay chiếc muỗng để tự lấy thức ăn cho vào miệng được.

Vì ở trong nhà thương được các y tá lo cho nên tuy con đã được xuất viện, đến Dòng Chúa Cứu Thế tại Kew để ở, nhưng vào thời điểm này thì sức khỏe của con vẫn còn rất yếu. Chân tay con vẫn còn bị tê cứng. Ở tại nhà thương thì các nhân viên cũng đã tập cho con cách cầm dao, cầm xiên, cầm muỗng, để tự cắt thức ăn và tự tay đưa thức ăn vào miệng. Tuy nhiên, mỗi lần tập cho con thì các nhân viên đã phải dùng dây thun buộc xiên, buộc muỗng hay buộc con dao chặt vào các ngón tay của con thì con mới từ từ tự lấy thức ăn, rồi tự đút thức ăn vào miệng mình được. Dù phải dùng dây thun buộc xiên, muỗng chặt vào các ngón tay nhưng mỗi lần con dùng bữa thì đã tốn rất nhiều thời gian và mỗi lần ăn kiểu giống con rô-bốt như thế thì thức ăn rơi vãi khắp nơi.

Con còn nhớ rất rõ, bữa ăn tối đầu tiên trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế là một thách đố rất lớn đối với con. Tối hôm đó, đến giờ cơm tối, con cũng đã di chuyển bằng chiếc xe lăn vào phòng ăn với các Cha, các Thầy. Đọc kinh ăn cơm xong, con ngồi trên chiếc xe lăn điện, ngồi từ xa xa, ướm thử xem mình có thể tự lấy được thức ăn cho mình không? Ngồi từ xa ướm thử, con nghĩ rằng mình có thể tự lấy thức ăn được, nhưng khi di chuyển chiếc xe lăn tới gần sát cái bàn để thức ăn thì mới biết rằng: cái bàn để thức ăn nó cao quá tầm với của mình. Thấy con cứ loay hoay bên cạnh chiếc bàn, một ông thầy đã tới và bảo con chạy xe lăn quay lại, ngồi sẵn nơi bàn ăn để thầy lấy thức ăn mang tới cho con. Sau khi con điều khiển chiếc xe lăn ngồi ngay ngắn nơi bàn ăn rồi thì ông thầy đó bê đĩa thức ăn đến đặt trên bàn ngay chỗ con đang ngồi rồi mời con ăn. Vì nghĩ mình là khách của nhà dòng, nên con ngồi chờ các Cha, các Thầy lấy thức ăn xong và ngồi vào bàn ăn, con mới bắt đầu cầm dao, cầm xiên để cắt thức ăn. Chẳng may mắn cho con, tối hôm đó đầu bếp Tu viện làm món thịt bò nướng, ăn kèm với khoai tây nguyên củ. Miếng thịt bò nướng thì lớn và hơi dai, còn mấy củ khoai tây thì vừa tròn vừa hơi cứng lại vừa trơn. Ăn theo kiểu người Tây: tay trái con cầm chiếc xiên, tay phải con cầm con dao I-nốc. Con cố gắng để dùng dao cắt củ khoai tây làm đôi để đưa vào miệng nhưng mỗi lần đặt dao lên củ khoai tây để cắt thì củ khoai tây ấy cứ lăn đi nơi khác. Tay trái của con dùng cái xiên để giữ, còn tay phải cầm con dao để cắt, nhưng cả hai tay đều đang quá yếu nên khống chế củ khoai tây không được, nó cứ chạy vòng vo trong cái đĩa ăn. Xiên và dao giống như đôi chân của một cầu thủ bóng đá cứ vờn đi vờn lại củ khoai tây trong cái đĩa lớn, không làm sao giữ cho nó nằm yên để cắt làm hai mà ăn được! Thấy con cầm con dao và chiếc xiên vờn đi vờn lại trong đĩa mà không cắt củ khoai tây được, nên một ông thầy đã chủ động đến giúp con cắt tất cả các củ khoai tây nhỏ ra làm hai và cắt luôn miếng thịt bò lớn giúp con. Sau khi được ông thầy giúp đỡ, con đã từ từ dùng xiên lấy thức ăn đưa vào miệng mình. Chuyện ăn uống của bữa tối hôm đó tuy có trục trặc chút xíu ban đầu nhưng rồi mọi chuyện coi như đã tạm ổn. Tuy nhiên, việc ngủ một mình trong một căn phòng ở Tu viện cũng là lần đầu tiên và đây cũng vấn đề hết sức nan giải.

Trước khi xuất viện thì các nhân viên vật lý trị liệu của nhà thương cũng đã tập cho con di chuyển từ chiếc xe lăn lên giường và từ giường xuống lại chiếc xe lăn. Khi đến Dòng Chúa Cứu Thế ở thì nhân viên vật lý trị liệu có đưa cho con một miếng ván. Miếng ván này sẽ có chức năng trở thành chiếc cầu trượt từ xe lăn qua chiếc giường và từ giường qua chiếc xe lăn. Chiếc xe lăn điện của con là loại xe lăn đời mới nên có nhiều chức năng hỗ trợ bệnh nhân. Ví dụ, có muốn nâng cao hay hạ thấp chiếc xe lăn đều rất dễ dàng, chỉ bấm nút là xong. Chiếc xe lăn chạy bằng điện này có thể điều chỉnh để trở thành một chiếc giường di động tạm thời cho bệnh nhân ngủ một vài giờ trên nó. Còn chiếc giường cũng có chức năng hỗ trợ bệnh nhân. Con có thể dùng điều khiển chiếc giường rồi bấm nốt nâng cao lên hoặc hạ thấp xuống. Chiếc giường này cũng có thể dùng điều khiển bấm nút, nâng phía đầu lên cao hơn hoặc cả trên đầu và phía dưới chân cao hơn, còn khoảng giữa thấp cũng là chuyện dễ dàng.

Khi còn nằm trong nhà thương, mỗi lần con muốn đi ngủ thì con cũng tự điều khiển chiếc xe lăn đậu song song và sát chiếc giường trước. Sau đó, y tá sẽ đưa điều khiển cho con để con điều khiển cho chiều cao của chiếc giường thấp hơn chiều cao của chiếc xe lăn điện. Con phải điều chỉnh như thế vì để từ chiếc xe lăn qua chiếc giường có độ dốc để con dễ trượt. Khi chiều cao đã đúng theo ý mình rồi thì y tá đưa cho con tấm ván trượt để làm cầu nối cho hành trình lên giường của con. Y tá đứng bên cạnh để lỡ con gặp phải sự cố thì họ sẽ kịp thời giúp. Nhưng đêm nay, đêm đầu tiên trong Tu viện, đêm mà chỉ mình con tự sắp xếp cho việc lên giường của mình. Do đó, lòng con không khỏi bồi hồi lo lắng. Con lo lắng vì lỡ như cuộc hành trình từ xe lăn qua giường mà trục trặc, con rơi xuống đất thì ngày mai các Cha. Các Thầy sẽ trả con lại cho nhà thương St. Vincent như hai bên đã thống nhất với nhau trước khi con đến Tu viện.

Vì nếu “sai một ly có thể đi ngàn dặm”, nên con đã ngưng lại vài phút để cẩn thận, ôn lại những bài đã tập khi còn ở trong nhà thương. Sau đó, con bắt đầu tuần tự các bước để tự di chuyển mình từ chiếc xe lăn điện lên chiếc giường để ngủ. Lần đầu tiên làm chuyện ấy nên con chưa mạnh dạn. Nhưng cuối cùng rồi con cũng phải tự làm từng bước, từng bước để lên giường ngủ. Ở nhà thương thì chỉ cần 5-7 phút là hành trình lên giường của con dứt điểm. Còn đêm đầu tiên làm chuyện ấy một mình, con đã phải mất gần 30 phút mới di chuyển mình từ chiếc xe lăn điện qua chiếc giường với khoảng cách chỉ vỏn vẹn dài 2 gang tay. Nếu xét về tốc độ di chuyển thì con đang di chuyển với một vận tốc cực kỳ chậm chạp. Tuy chậm thật, nhưng rồi chuyện lên giường ngủ của con đêm đầu tiên ấy cũng đã thành công.

Ngủ trong nhà thương St Vincent, Melbourne sau gần trọn 2 năm, con đã phải trải qua nhiều đêm thổn thức, nằm nghe đầy những tiếng ồn ào: nào là tiếng kêu bíp bíp của máy móc, tiếng chuông báo động, tiếng chuông báo có người chết, tiếng chuông cấp cứu, tiếng chân chạy vội vàng thình thịch của bác sĩ, y tá, nhân viên trong nhà thương, tiếng kêu rên, tiếng khóc lóc, tiếng thở dài của các bệnh nhân, tiếng ngáy bất bình thường và thiếu nhịp nhàng của những bệnh nhân bị chứng khó thở…

Đêm nay, đêm đầu tiên trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế cũng là đêm đầu tiên mà con có được một không gian êm đềm và thanh tịnh nhất so với khoảng thời gian trước đó. Bởi vậy, trước khi nhắm mắt để dần vào giấc ngủ, con đã nhớ lại hình ảnh các bệnh nhân mà con đã từng có thời gian sống chung trong cùng nhà thương. Con đã nằm yên lắng đọng tâm hồn, để cho đôi tai nhớ lại những tiếng thở dài, những tiếng kêu la, tiếng khóc lóc quằn quại giữa đêm trường khuya vắng. Nghĩ lại những tháng ngày chịu đựng vừa qua, con thầm tạ ơn Chúa đã ban cho con sức mạnh để không ngã lòng. Nghĩ lại những tháng đau đầu, nhức óc đã qua, con cám ơn các Cha, các Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế vô cùng! Trong hoàn cảnh khốn cùng của con, ngoài Chúa ra, chính các Cha, các Thầy trong Dòng Chúa Cứu Thế là những người đã cho con tìm lại niềm hy vọng. Sống trong thế giời hôm nay, nhiều linh mục, tu sĩ chỉ “đến để được phục vụ”, chỉ biết nhắm mắt lo vun vén cho bản thân mình, cho gia đình mình, quên quan tâm đến những mảnh đời thiếu may mắn, thì các Cha, các Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew lại quên mình, dám mở rộng trái tim, mở rộng tấm lòng và mở luôn cánh cửa Nhà Dòng để đón nhận một bệnh nhân khốn khổ như con. Những tháng năm cực kỳ gian nan đó, ngoài Chúa ra, chính các Cha, các Thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew, Victoria vào những năm 2013 – 2014 đã giúp con tìm lại được chút niềm tin nơi các Tu sĩ, để cho con vui sống và tiếp tục hành trình ơn gọi không mấy bằng phẳng của mình.

Còn Tiếp