Không Ai Biết Trước Ngày Mai

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Tiếp theo

Trong cuộc sống cái mà con người ta cần nhất có thể nói đó là một căn nhà – một nơi để người ta tránh nắng tránh mưa, để nghỉ ngơi, để thư giãn sau những những giờ làm việc vất vả. Ở nơi đó người ta có thể tận hưởng những khoảnh khắc sum vầy, vui vẻ, hạnh phúc bên người thân. Ở nơi đó cũng có thể giúp người ta giải toả mọi cảm xúc về tinh thần sau khi trải qua những thời khắc căng thẳng, mệt mỏi do áp lực của công việc. Đó cũng chính là nơi mà con người được nuôi dưỡng và là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của cuộc sống. Chính vì thế, khi nói đến cách sống, cách ăn, cách ở của mỗi con người, ông cha ta đã có câu “An cư lạc nghiệp”. Câu tục ngữ này có hai vế, “an cư” và “lạc nghiệp”, trong đó “an cư” muốn nói đến sự yên ổn, có một nơi ở ổn định, thuận lợi mà không phải lo nghĩ nhiều. Còn “lạc nghiệp” tức là những niềm vui, thành công, phát triển trong công việc, trong sự nghiệp.

Trong khuôn khổ của bài viết về câu chuyện tháng này, con mạn phép mượn bốn chữ ‘‘an cư lạc nghiệp’’ để trình bày về cái thời gian mà con ở trọ trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế và làm việc thiện nguyện tại nhà thương St George ở Kew.

Thực ra, điều mà tạm gọi là ‘‘an cư’’ của con vào thời điểm này hiểu nôm na là con đã có một nơi ở: một căn phòng bình thường, có giường có chiếu để nằm; có cái bàn, cái ghế để ngồi đọc kinh, đọc sách ; có cái nhà vệ sinh để tắm rửa, vệ sinh…Nói chung, một căn phòng riêng khá đầy đủ những vật dụng cần thiết cho một con người sống trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế. Còn cái mà con tạm gọi là ‘‘lạc nghiệp’’ ở đây nó rất đơn sơ, tức là con đã có một việc làm tình nguyện tại nhà thương St George ở Kew mà con đã trình bày trong các câu chuyện lần trước. Mượn cụm từ ‘‘an cư lạc nghiệp’’ cho nó có vẻ nền tảng và mang tính bền vững một chút, nhưng thực chất vào thời điểm này con vẫn là một kẻ không nhà, không tiền – một bệnh nhân đang ở trọ trong một Tu viện và đang làm một công việc không lương tại một nhà thương. Tuy con đang là kẻ ở trọ và đang làm việc không lương, nhưng đây lại chính là khoảng thời gian bình an và hạnh phúc nhất của con kể từ thời điểm mà con bị tai nạn rồi nhập viện, nằm viện, rồi xuất viện cho đến nay.

Con còn nhớ, khi nhà thương St Vincent ở Melbourne chuẩn bị cho con xuất viện thì họ đã mời Đức Giám mục Christopher Prowse, Giám mục Giáo phận Sale, đại diện gia đình con tới nhà thương để họp. Trong cuộc họp đó, các bác sĩ chuyên khoa đã cho Đức cha biết tình hình sức khỏe của con và mục đích chính của cuộc họp là thông báo cho Đức cha biết con phải xuất viện và cần một nơi để ở. Về phía nhà thương, qua cuộc họp này, hối thúc Đức cha tìm chỗ ở để con xuất viện. Vì theo quy định của nhà thương St Vincent Melbourne thì một bệnh nhân không được phép ở trong nhà thương liên tục 2 năm. Còn về phía Đức cha Christopher Prowse thì chăm chú nghe các bác sĩ báo cáo kết quả về tình trạng sức khỏe của con. Kết quả không như mong muốn mà là con không bao giờ tự ngồi dậy được, không bao giờ tự đứng hay tự đi lại được nữa,…và căng nhất là con cần một y tá thường trực để hỗ trợ con 24/24. Con đã trở thành một bệnh nhân thuộc diện ‘‘high care’’ – cần chăm sóc đặc biệt. Có nghĩa là con không tự lo cho bản thân mình được chuyện gì hết, mà cần người ta giúp đỡ mọi sự từ việc ăn uống, tắm rửa, lên giường, xuống giường, lên – xuống xe lăn…

Sau khi nghe báo cáo về tình trạng sức khỏe và tương lai mịt mù của con như thế thì Đức cha Christopher Prowse đã quyết định luôn trong cuộc họp là: ‘không nhận thầy Tạo nữa và Giáo phận Sale hiện tại không có nơi nào cho thầy ở để xuất viện’. Với một quyết định dứt khoát như thế, con tự nhiên trở thành một người bệnh không nhà, không tiền, không người bảo lãnh, không người thân nơi đất khách quê người. Với quyết định bất ngờ của Đức Giám mục của Giáo phận Sale quyết định như thế, tình cảnh của con trở nên hết sức éo le. Theo lẽ thường, nếu không có một tổ chức nào giúp đỡ thì sớm muộn con sẽ phải mang bệnh trầm trọng trở về Việt Nam để  chờ chết!

Biết được hoàn cảnh của con như thế, nhà thương St Vincent Melbourne đứng ra bảo lãnh rồi tìm luật sư giỏi để tìm cách giúp đỡ, lo liệu cho con có đủ điều kiện ở lại Úc điều trị. Đồng thời, nhà thương St Vincent đã cử nhân viên nhà thương St Vincent Melbourne đã gặp trực tiếp Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Melbourne trình bày và nhờ ngài giúp đỡ cho trường hợp đáng thương của con. Nghe nhân viên của nhà thương St Vincent trình bày sự việc xong, Đức Tổng Giám mục Denis Hart đã nhận lời giúp đỡ con.

Là một người luôn tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, con đã nhận ra sự quan phòng nhiệm mầu của Chúa đối với con trong thời khắc khó khăn đó. Dẫu đang phải đối diện với vô số khó khăn và nguy cơ phải mang bệnh về Việt Nam chờ chết rất có thể xảy ra, nhưng con vẫn luôn vững tin và suy nghĩ về một câu mà người đời hay nói: ‘‘Khi một cánh của đóng lại thì nhất định một cánh cửa khác sẽ mở ra. Cuộc sống luôn là những điều bất ngờ nối tiếp nhau, đôi khi những hạnh phúc mỹ mãn có thể sẽ tan vỡ trong phút chốc. Cũng giống như vậy, ở nơi sơn cùng thủy tận, lối ra biết đâu lại là một ngã rẽ?’’ Đúng vậy! Đúng là một sự quan phòng nhiệm mầu của Chúa đã cho con thấy. Cũng chính vì lý do con bị Giáo phận Sale buông bỏ nên con mới được nhà thương St Vincent đứng ra bảo lãnh và nhận được sự giúp đỡ của Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Melbourne.

Sau khi nghe nhân viên của nhà thương St Vincent trình bày về sự việc của con, Đức Tổng Denis Hart đã cho Đức Ông Tony Ireland và Đức Ông Greg Bennet âm thầm giúp đỡ con. Đức Ông Tony Ireland đã vào tận nhà thương gặp gỡ ban giám đốc của nhà thương để tìm hiểu thêm một số vấn đề. Rồi ngài cũng đã vào tận phòng con để hỏi han rồi động viên con rằng: ‘‘thầy hãy yên tâm dưỡng bệnh, chúng tôi sẽ tìm cách giúp đỡ thầy.’’

Đức Ông Greg Bennet, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne cũng đã đến nhà thương gặp ban giám đốc nhà thương St Vincent để trao đổi về chuyện của con. Phía nhà thương cho Đức Ông Greg Bennet biết là thầy Tạo cần phải xuất viện, nên trước mắt cần một nơi cho ông thầy ở để dưỡng bệnh. Trao đổi xong, Đức Ông Greg Bennet trở về viết thư gửi tới các cha xứ và các Hội dòng nam trong Tổng Giáo phận để hỏi xin cho con một căn phòng để ở. Thư kêu gọi giúp đỡ đã gửi tới các cha xứ khá lâu nhưng sau một thời gian khá dài chẳng có cha nào lên tiếng nhận con về ở cả. Chờ đợi hơn một tháng, cuối cùng các cha các thầy Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew mới nhận lời cho con về ở. Phải công nhận rằng, các cha các thầy Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew thời đó là những người hùng, những con người liều lĩnh, không ngại gánh vác trách nhiệm. Các vị đã dám cưu mang một bệnh nhân không phải là thành viên của hội dòng mình, cho về sinh sống trong Tu viện. Bởi vậy, khi nhắc đến thời gian mà con đã được phép tá túc trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew là nhắc đến chuyện ân tình. Con mang ơn các cha các thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew nhiều lắm!

Khi nhắc đến khoảng thời gian ấy, con chỉ xin mạn phép mượn bốn chữ ‘‘an cư lạc nghiệp’’ để nói lên tâm tình tri ân đối với các cha các thầy đã dám cưu mang con trong những tháng ngày gian nan nhất của con sau khi xuất viện. Nếu trong những tháng ngày ấy mà các cha các thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế không mở rộng trái tim, mở rộng vòng tay yêu thương để đón nhận con thì không biết ‘‘kẻ vô gia cư’’ này có còn sống, còn tồn tại đến nay hay đã âm thầm qua đời từ dạo ấy!? Vì thời gian ấy chẳng có cha xứ nào, chẳng có hội dòng nào trong Tổng Giáo phận Melbourne này dám nhận con cả! Có lẽ các ngài sợ nhận con về trong nhà xứ rồi lỡ chẳng may con ‘‘chết bất đắc kỳ tử’’ các ngài phải lãnh trách nhiệm!? Vì ‘‘không ai biết trước ngày mai’’. Đó là sự thật – một sự thật khi nói ra thì nó có vẻ hơi phũ phàng!

Để quý vị hiểu rõ hơn tại sao con phải trả phòng lại cho Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế, thiết nghĩ, con cũng nên mạn phép để nhắc lại sự việc một chút. Số là, trong khi con bị bế tắc hoàn toàn, không có lối thoát như con đã trình bày phần trên, thì quý cha, quý thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew đã mở rộng vòng tay và mở rộng trái tim nhân ái để cưu mang, cho con về tá túc. Trước khi con xuất viện từ St Vincent, Melbourne thì cha Bề trên và cha phó Bề trên của Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế đã tới nhà thương St Vincent, Melbourne gặp ban điều hành của nhà thương để bàn thảo về việc con đến Tu viện ở. Cha Bề trên và cha phó Bề trên của Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế đã thỏa thuận với ban điều hành của nhà thương rằng: quý cha, quý thầy trong Tu viện rất hân hoan đón nhận ‘’ông thầy’’ về ở. Nhưng nếu về Tu viện mà tình trạng sức khỏe của ông thầy càng ngày càng xấu thêm, hay ông thẩy bị tai nạn như: té, ngã, hoặc có nguy cơ ‘tắt thở’ bất thình lình thì người của Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế sẽ liên lạc ngay lập tức với nhà thương St Vincent để xe cứu thương tới chở ông thầy trả về lại ‘‘nơi xuất xưởng’’ – đó là nhà thương St Vincent, Melbourne. Còn thời hạn ông thầy được ở trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế bao lâu thì Bề trên Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế và Tổng Đại diện của Tổng Giáo phân Melbourne đã thống nhất với nhau là: tùy vào lòng hảo tâm của quý cha, quý thầy trong Tu viện. Lúc nào nhà Dòng có nhu cầu cần lấy lại phòng thì người của Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế sẽ liên lạc với Đức Ông Greg Bennet, Tổng Đại diện của Tổng Giáo phận Melbourne để lo tìm nơi ở khác cho ông thầy.

Chính vì các điều kiện ràng buộc như vậy cho nên bản thân con cũng không biết trước thời gian mình sẽ được may mắn sống an bình, hạnh phúc với quý cha, quý thầy trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew là bao lâu?! Vì thế, mỗi sáng mai thức dậy thấy mình đang ở trong Tu viện và chưa nghe ai bảo mình phải chuyển đi là biết mình đang được sống thêm một ngày trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế nữa. Do đó, trong thời gian ấy, có những đêm con phải nằm trằn trọc, thao thức và băn khoăn không biết mai đây nếu quý cha, quý thầy trong Tu viện này không cho mình ở nữa thì rồi mình sẽ đi đâu và về đâu? Tuy biết rằng mình có ước muốn sinh sống mãi trong Tu viện này thì cũng không thể được, nhưng ngày qua ngày trong lòng con cứ mong sao mình chưa phải rời Tu viện này để rồi lại phải đi tìm một nơi khác tá túc cho qua ngày đoạn tháng. Ngày qua ngày con cứ phải sống trong cảnh phập phồng, thấp thỏm, lo âu về chuyện mình sẽ phải trả phòng rồi di chuyển đến một nơi khác.

Và rồi một ngày, ‘’chuyện gì phải đến thì sẽ đến’’ – Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế đã thông báo cho Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne và thông báo luôn cho con biết: Tu viện cần lấy lại căn phòng của con đang ở để cho quý cha và quý thầy từ Brighton về sinh sống trong Tu viện này. Đây là chương trình của nhà dòng.

Người ta hay nói: ‘‘ước mơ đã trở thành hiện thực’’. Nhưng trường hợp của con lúc này phải nói ngược là: ‘‘lo âu của con đã thành hiện thực’’! Dù đã được biết ngay từ lúc chưa đến Tu viện là mình về đây chỉ được phép ở tạm thời thôi chứ không phải là vĩnh viễn – nhưng đến lúc nghe được thông báo chính thức là mình sẽ phải trả phòng lại cho Tu viện thì trong lòng con cảm thấy bị hụt hẫng và u buồn. Con cảm thấy hụt hẫng bởi vì chuyện phải rời tu viện là điều chắc chắn, còn chuyện để tìm cho mình có một nơi ở mới lại là điều hết sức bấp bênh, chưa có gì bảo đảm cả.

Như những gì đã thỏa thuận từ trước – sau khi Bề trên Dòng Chúa Cứu Thế thông báo cho Đức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Melbourne thì Đức Ông Greg Bennet, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne, lại một lần nữa vội vàng viết một bức thư ngỏ, gửi tới tất cả các linh mục trong Tổng Giáo phận kêu gọi các cha xứ giúp đỡ con để con có được một nơi tạm thời sinh sống. Trong thư ngỏ lần này, để các cha yên tâm, Đức Ông Greg Bennet, Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne có viết thêm: ‘‘Tình hình sức khỏe của thầy Tạo hơn một năm nay rất ổn định và việc đi lại có tiến triển tốt. Hơn một năm nay sinh sống trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế mọi sinh hoạt của thầy bình thường, không có chuyện gì bất trắc xảy ra cả…’’.

Cũng như lần trước, thư kêu gọi giúp đỡ con đã được gửi đi khá lâu, nhưng mãi gần một tháng trời mới có một linh mục can đảm, dám nhận con về nhà xứ ngài để ở. Vị linh mục đó không ai khác là cha Thăng Vũ. Cha Thăng là một người anh em cùng học chung với con tại Đại chủng viện Corpus Christi, Melbourne. Nhưng vào thời điểm này thì cha Thăng đã là linh mục chánh xứ, kiêm luôn 3 nhà thờ: nhà thờ St Bernadette’s Church, 89 Bond St, Ivanhoe West; nhà thờ Mary Immaculate’s Church, 4 Waverley Ave, Ivanhoe; và nhà thờ Mother of God’s Church, 56 Wilfred Rd, Ivanhoe East. Cha Thăng là người có trái tim đầy yêu thương với tấm lòng luôn rộng mở trước nỗi đau và nhu cầu của an hem. Ngài dự tính nhận con về và cho con ở riêng tại một nhà xứ.

Như quý vị biết, dẫu con đã xuất viện nhưng cho đến thời điểm này, con vẫn đang là bệnh nhân ngoại trú của nhà thương St Vincent, Melbourne. Cho nên, con vẫn đang trực thuộc các bác sĩ chuyên khoa của nhà thương này điều trị và các nhân viên xã hội của nhà thương vẫn đang tiếp tục hướng dẫn và giúp đỡ con. Chính vì thế, khi con đến đâu sinh sống thì các bác sĩ của nhà thương St Vincent và các nhân viên xã hội của nhà thương này đều là những người phải được biết trước về tình hình và điều kiện sinh hoạt nơi con sắp đến ở. Theo nguyên tắc làm việc của họ: Trước khi con đến đâu thì họ sẽ cho người đến khảo sát địa hình, điều kiện sinh hoạt nơi mà con sắp sửa đến ở có đủ tiêu chuẩn và có phù hợp với tình trạng sức khỏe của con hay không. Nếu họ thấy nơi đó đủ tiêu chuẩn và an toàn cho việc sinh hoạt hàng ngày của con thì họ mới đồng ý cho con đến sinh sống. Còn nếu nơi nào không bảo đảm và không đủ điều kiện thì họ sẽ không cho con đến đó ở.

Sau khi cha Thăng đồng ý đón con về nhà xứ ngài tại Ivanhoe để sinh sống thì nhà thương đã cử nhân viên xã hội và nhân viên tập vật lý trị liệu cho con đến xem xét chỗ ở trước. Nhưng không may mắn cho con! Tiến trình thương lượng và thảo luận về nơi ở mới của con giữa nhân viên xã hội của nhà thương St Vincent và Hội đồng mục vụ giáo xứ tại Ivanhoe cuối cùng không đạt kết quả. Lý do đơn giản vì nhân viên nhà thương St Vincent đến khảo sát nhà xứ và đề nghị Hội đồng mục vụ giáo xứ mở rộng cửa nhà tắm, nhà vệ sinh thêm một chút để con dùng xe lăn ra vào cho thuận tiện. Khi nghe đến chuyện ‘ông thầy đang phải ngồi xe lăn’ di chuyển trong nhà thì Hội đồng mục vụ giáo xứ đã sợ liên lụy và quyết định luôn là không nhận ông thầy về ở trong nhà xứ nữa. Có lẽ người ta e sợ rằng, ông thầy ở một mình trong nhà xứ có thể bị té ngã hoặc chết bất cứ lúc nào. Mà lỡ như ông thầy chết ‘bất đắc kỳ tử’ thì Hội đồng mục vụ giáo xứ cũng không thể nào ‘phủi tay’, trốn tránh trách nhiệm. Vì lý do đó nên họ đã thẳng thừng từ chối việc tiếp nhận con. Cho nên, đã là con người thì Tây cũng như ta thôi, không ai muốn chuyện ‘‘ách giữa đàng tự quàng vô cổ’’ cả! Đây cũng là một sự thật! Một sự thật có vẻ cũng phũ phàng! Vì ‘‘không ai biết trước ngày mai’’ cả!

Với quyết định từ chối nhận con về giáo xứ của Hội đồng mục vụ giáo xứ như thế thì cha Thăng dù là cha xứ cũng không thể nào can thiệp hay làm gì hơn để giúp đỡ con được nữa. Trường hợp này cũng có thể nói, cha Thăng đã ‘lực bất tòng tâm’. Dẫu cha Thăng là linh mục chánh xứ nhưng khổ một nỗi vì ngài là linh mục chánh xứ ở xứ Úc chứ không phải là linh mục chánh xứ ở Việt Nam. Cho nên, ngài có muốn giúp anh em mà Hội đồng mục vụ giáo xứ người ta không đồng ý thì cũng đành ‘bó tay’ chịu thua thôi! Ở Việt Nam thì linh mục chánh xứ còn có thể quyết định chuyện này chuyện kia mà đôi lúc không cần bàn hỏi ý kiến giáo dân, còn ở xứ Úc đây thì khác: Nếu giáo dân không đồng ý chuyện gì đó mà linh mục cứ đơn phương, vội vàng quyết định theo ý riêng mình thì ‘coi chừng’ với họ – có khi vị đó phải vào tù ngồi nhởn nhơ ‘‘bóc lịch’’ chưa biết bao lâu!

Với lý do việc thảo luận giữa nhân viên nhà thương St Vincent và Hội đồng mục vụ giáo xứ tại Ivanhoe bất thành nên con lại phải ‘nằm chờ’ trong Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Kew thêm một thời gian nữa.

Một thời gian khá lâu sau đó, có một vị linh mục người Úc nghe tin con không được chấp nhận về sống trong nhà xứ của giáo xứ cha Thăng tại Ivanhoe, ngài đã gặp trực tiếp Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne để xin nhận con về nhà xứ ngài ở. Vị linh mục đó chính là cha Michael McEntee. Vào thời điểm này ngài là cha xứ của giáo xứ St Thomas the Apostle; kiêm ba nhà thờ: nhà thờ St Thomas the Apostle, 251 Diamond Creek Road, Greensborough North; nhà thờ Sacred Heart, 25 Gipson Street, Diamond Creek; và nhà thờ St Peter, 1053 Kinglake Road, Hurstbridge.

Khi nhắc đến vị linh mục này, tự nhiên con liên tưởng đến câu chuyện dụ ngôn ‘Người Samaritanô Nhân Hậu’ mà Chúa Giê-su đã kể trong Tin Mừng. Con xin được mạn phép nhắc lại câu chuyện mà Chúa Giê-su đã dùng để trả lời cho câu hỏi của một luật sĩ ‘‘Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”. Dụ ngôn Chúa Giê-su kể được tóm tắt như sau: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giêri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.”

Khi kể dụ ngôn này xong, Chúa Giê-su hỏi ngay vị luật sĩ rằng: ‘‘Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”

Người luật sĩ đó trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.”

Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.” (x.Lc 10,29-37).

Tuy liên tưởng đến dụ ngôn ‘‘Người Samaritanô Nhân Hậu’’ rồi lại lấy đó để so sánh với hoàn cảnh và sự việc của con thì hơi bị khập khiểng, không đúng cho lắm. Vì dụ ngôn ‘‘Người Samaritanô Nhân Hậu’’ thì nạn nhân là một người đang đi đường, có nhiều của cải, bị rơi vào tay những kẻ cướp. Anh ta bị lột hết mọi thứ trên mình, bị đánh đập nhừ tử, dở sống dở chết, nằm bất tỉnh trên vũng máu. Còn con không phải là kẻ đi đường, cũng không phải là kẻ có tiền, cũng không bị rơi vào kẻ cướp nào cả. Có chăng là con đã bị bệnh tật cướp đi sức khỏe, cướp đi sự bình thường vốn có, cướp đi đôi chân khỏe đẹp của mình và bị bầm dập toàn thân không phải là những kẻ cướp đánh đập mà là bị các bác sĩ dùng cưa, dùng dao, dùng kéo sắc để lột da, để cắt xương, xẻ thịt. Người đi đường bị đánh dở sống dở chết rồi nằm mê man bất tỉnh trên vũng máu giữa đường. Nạn nhân trong dụ ngôn bị người ta đánh cho đến nỗi đổ máu thành vũng. Còn con cũng bị đổ máu, nhưng không do ai đánh mà là bị vi trùng, vi rút nó đánh cho máu biến chất – các bác sĩ phải rút máu trong thân thể con ra và xin máu những ân nhân khác đổ vào cho cơ thể con hoạt động. Con không bị cướp đánh nhưng bị vi trùng, vi khuẩn chúng đánh cho tơi bời, đến độ con phải hôn mê bất tỉnh 74 ngày đêm. Con không bị cướp đánh nên không phải nằm trên vũng máu như nạn nhân trong dụ ngôn, nhưng con lại phải nằm trên giường bệnh liên tục 688 ngày và cuối cùng xuất viện trên một chiếc xe lăn điện. Nạn nhân trong dụ ngôn đã được người Người Samaritanô Nhân Hậu bồng lên lưng ngựa đưa về quán trọ nhờ người săn sóc và chữa trị. Còn con không được ai bồng lên lưng ngựa cả, chỉ được cha Michael McEntee tới Dòng Chúa Cứu Thế mời về nhà xứ ngài để ở. Thật sự khi lấy câu chuyện của nạn nhân trong dụ ngôn ‘Người Samaritanô Nhân Hậu’ và sự việc của bản thân con thì nó không hoàn toàn giống nhau. Nhưng sở dĩ con mạn phép trích câu chuyện này ra đây là có ý muốn nhắc đến tấm lòng cao cả và hết sức nhân hậu của một vị linh mục người Úc – cha Michael McEntee, ngài đã mở rộng trái tim và giang rộng vòng tay đón con về nhà xứ của ngài để ở.

Sở dĩ cha Michael McEntee quyết định nhận con về nhà xứ ngài sinh sống là vì ngài đã nghe biết chuyện ‘đàm phán’ giữa các nhân viên nhà thương St Vincent, Melbourne và Hội đồng Mục vụ tại giáo xứ của cha Thăng ở Ivanhoe bất thành. Cho nên, vào một buổi chiều nọ, cha Michael McEntee đã chủ động tới gặp Đức Ông Greg Bennet, Tổng Đại diện Tổng Giáo phân Melbourne để xin nhận con về ở với ngài tại nhà xứ giáo xứ Thánh Tôma Tông đồ, số 251 đường Diamond Creek, vùng Greensborough North, Vic 3088.

Sau khi gặp Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Melbourne, cha Michael McEntee đã chủ động đến Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Kew để gặp con. Ngài đã đến và giống như một ‘sứ giả’ đem tin vui đến cho con vậy. Ngài đến gặp Bề trên Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế trước và sau đó ngài nhờ cha Bề trên gọi con đến phòng khách của Tu viện để nói chuyện. Tuy đây là lần đầu tiên được biết ngài và cũng là lần đầu tiên được nói chuyện với ngài, nhưng con cảm thấy cha Michael McEntee rất thân thiện, cởi mở giống như thể là một người mà con đã được quen biết từ lâu.

Ngài chào con xong rồi mở lời luôn: ‘‘Tôi có nhận được thư ngỏ của Đức Ông Greg Bennet gửi tới tất cả các cha xứ trong Tổng Giáo phận Melbourne để xin cho thầy một chỗ ở. Tôi cũng đã nghe biết là cha Thăng ở Ivanhoe đã có kế hoạch nhận về giáo xứ ở Ivanhoe để ở với ngài. Nhưng tuần trước thì tôi lại nghe là kế hoạch của cha Thăng đưa thầy về Ivanhoe ở đã không thành. Nên chiều hôm qua tôi đã đi gặp cha Tổng Đại diện và tôi quyết định thu xếp cho thầy về ở với tội tại giáo xứ Thánh Tôma Tông đồ. Tuy giáo xứ này cách xa thành phố, nhưng rất yên tĩnh và thuận lợi cho việc dưỡng bệnh của thầy. Hơn nữa, phương tiện giao thông công cộng của khá thuận tiện. Từ thứ Hai đến thứ Sáu thì cứ 15 phút lại có một chuyến xe buýt qua cổng nhà thờ. Còn ngày thứ Bảy, Chúa Nhật và các ngày nghỉ công cộng thì cứ 30 phút lại có một chuyến. Nếu thầy muốn đi xuống thành phố thì thầy có thể bắt xe buýt từ cổng nhà thờ đến ga xe lửa. Rồi từ ga xe lửa thầy đi về thành phố Melbourne cũng rất thuận tiện. Ga xe lửa cách nhà thờ chỉ gần 3 cây số thôi. Ga xe lửa này là ga chính nên có rất nhiều chuyến tàu qua lại mỗi ngày. Tôi nói sơ qua vài nét vậy để thầy có thể hình dung rồi nếu thầy muốn thì tôi rất sẵn lòng đón thầy về ở với tôi trong nhà xứ.’’

Thật đúng là ‘‘đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh’’ – Còn gì vui sướng và hạnh phúc hơn! Trong lúc con đang từng phút từng giây chờ đợi giống “Như nai rừng mong mỏi, tìm về suối nước trong… như đất khô cằn mong chờ trời cao đổ mưa xuống’’ thì Chúa đã gửi cha Michael McEntee đem tin vui tới. Ngài chính là ‘vị cứu tinh’ của con trong bối cảnh lúc này! Vì thời điểm này con đang đứng trước một tương lai hết sức là mịt mù và đen tối. Số phận của con hết sức hẩm hiu và bi đát. Một viễn cảnh về tương lai của con lúc này giống như: “Một con kiến đen, bò trên một tảng đá đen, trong một đêm đen” vậy! Nói chung, tương lai của con nó xấu, nó mịt mù, nó tối tăm và nó đen thui như mực – không còn màu sắc nào đen đậm hơn để đem ra mà so sánh với tương lai của con vào thời điểm này nữa! Nhưng rồi số phận con đã được thay đổi và tương lai của con như thể bớt đi chút mịt mù, bớt đi nét đen đủi và đã có một tia hy vọng nho nhỏ đang le lói bên kia đường hầm kể từ phút giây mà cha Michael McEntee đến Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế gặp gỡ con.

Qua cuộc nói chuyện hết sức cởi mở của cha Michael McEntee, lòng con đã được ấm lên và chứa chan niềm hy vọng. Sự hiện diện của cha Michael McEntee và những lời chia sẻ chân tình của ngài tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế ở Kew chiều hôm đó đúng là một ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã dành cho con qua cha Michael McEntee.

Còn Tiếp