Không, Ai Biết Trước Ngày Mai

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Không ai biết trước ngày mai. Cò thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì  việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Theo thời gian, với sự chăm sóc tận tình của các bác sĩ và y tá, cùng với vô số lời cầu nguyện của các Đức cha, các Cha, bà con giáo dân ở Melbourne và khắp nơi, tình trạng sức khỏe của con đã từ từ phần nào tiến triển.
Sau khi các bác sĩ nối cuống họng và thông dây thanh quản cho con thì con đã bắt đầu nói được ú ớ. Chờ đến lúc con đã nói được thành tiếng và rõ ràng hơn chút thì Đức cha Christopher Prowse và cha Giuse Nguyễn Hồng Ánh vào bàn bạc với con về việc anh trai con sẽ ra về hay ở lại. Nếu con muốn thì Đức cha sẽ xin Bộ Di trú gia hạn visa cho anh trai con ở thêm 3 tháng hoặc 6 tháng nữa. Con đã thưa với Đức cha và cha Ánh là: hãy để cho anh trai con trở về Việt Nam. Con rất buồn và đau lòng để nói lên phải chờ mãi đến tối mới vào được vì hôm đó không có ai rảnh rỗi để chở anh con vào.
Quyết định của con để cho anh trai con trở về Việt Nam đã dứt khoát. Con nhớ ngày 29 tháng 9 năm 2011 chính là ngày mà visa của anh trai con hết hạn. Và ngày 28 tháng 9 năm 2011 là ngày mà con phải trải qua một ca phẫu thuật khá nguy hiểm và thời gian dài nhất so với các lần phẫu thuật khác.
Sáng ngày 28 tháng 9 năm 2011 con được người ta đẩy vào phòng mổ. Con thấy các bác sĩ và y tá đã mặc đồ, trùm mũ màu xanh xanh, mang găng tay và dao kéo, thuốc men đã sẵn sàng để thực hiện công việc. Trước khi thực hiện ca phẫu thuật, một bác sĩ cầm tờ giấy đứng trước mặt con và nói rõ cho con biết về những việc họ sắp thực hiện. Con yêu cầu bác quyết định đó. Tuy nhiên, con phải quyết định như thế vì thời gian con mới tỉnh, chưa nói được nhưng con cũng đã nghe chuyện phiền hà và những vất vả của anh trai con trong thời gian ở Úc. Anh trai con không biết tiếng Anh, chỗ ở cũng không có. Vì nhà thương này không cho phép người nhà bệnh nhân ở qua đêm trong nhà thương.
Tuy bà con giáo dân Việt Nam ở Melbourne đã rất quan tâm và cứ thay nhau dành chỗ để giúp cho anh trai con có nơi để tá túc và ăn uống. Nhưng thời gian 90 ngày không phải là ít. Việc đi lại của anh trai con cũng rất khó khăn. Anh trai con không biết dùng phương tiện công cộng để đi lại. Chính vì thế việc đến thăm con ở nhà thương cũng đều phụ thuộc hoàn toàn vào tình thương và sự giúp đỡ của người khác. Tuy con nằm bất động trên giường, nhưng con cũng đã nghe và biết, có nhiều lần anh trai con muốn vào nhà thương thăm con trong buổi sáng, nhưng sĩ cho con xem tờ trên giấy đã viết những gì. Con đọc từ trên xuống và choáng váng khi thấy chữ “… the right leg will be amputated…” – có nghĩa là con sẽ bị cưa chân bên phải. Đọc đến đây con bàng hoàng và trong lòng con một cảm giác buồn đau vô hạn. Con nhìn thấy chữ ký trên tờ giấy đó là chữ ký của anh trai con. Sau này con mới biết: khi các bác sĩ quyết định cắt chân của con thì họ yêu cầu con hoặc người nhà của con phải ký. Hồi đó con chưa thể ký được, nên anh trai con đã ký thay. Trước khi anh trai con ký thì người thông dịch giải thích cho anh trai con: “Các bác sĩ sẽ cố gắng làm tốt nhất cho em trai của anh.” Anh trai con đâu hiểu việc “làm tốt nhất” cho em trai mình là cắt bỏ một cái chân!?
Lúc đó tâm thần con bấn loạn và hoang mang vì con đã được học và biết rằng, Giáo hội Công giáo sẽ không truyền chức linh mục cho những ai bị cụt tay, cụt chân hoặc mất đi một phần nào trên cơ thể.
Trong giây phút hoảng loạn đó, con tự nhủ với lòng mình: “Vậy là lý tưởng để trở thành một linh mục của mình đã chấm hết!” Chính vì ước vọng để trở thành linh mục trong con đã ăn sâu vào máu và đã chiếm trọn hoàn toàn ý lực sống hàng ngày của con, nên khi biết lý tưởng phấn đấu của mình đã đến hồi kết, hồi tuyệt vọng, con đã buồn đau hơn bao giờ hết!
Các bác sĩ vẫn còn đứng chung quanh và chằm chằm nhìn con. Họ là những “lương y như từ mẫu” đang đứng đó nhìn con mà con có cảm tưởng như chính họ là những người đang chuẩn bị cắt đứt bước tiến đến chức linh mục của con. Vì thế, con đã đề nghị với họ để cho con suy nghĩ và cầu nguyện ít phút rồi họ muốn làm gì thì hãy làm. Trong những giây phút ngắn ngủi để quyết định vấn đề ‘một mất một còn’ đó, con đã thầm thì với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa thấu hiểu lòng con, Chúa biết con muốn trở thành một linh mục. Chúa biết nếu con bị cắt chân thì ước muốn của con không bao giờ là hiện thực. Trong giây phút này, xin Chúa soi sáng và ban ơn cho con, để con đưa ra một quyết định đúng đắn cho tương lai của mình.” Cầu nguyện và suy nghĩ xong con đã từ chối, không cho các bác sĩ cắt chân bên phải của con.
Một bác sĩ giải thích cho con: “Vô số vi trùng đang ở ngay nơi đầu gối bên phải của anh. Nếu chúng tôi không cắt bỏ chân phải của anh từ đầu gối trở xuống thì nay mai vi trùng sẽ xâm lấn lên phần trên. Khi đó anh không chỉ mất chân phần dưới từ đầu gối trở xuống, mà chúng tôi sẽ phải cắt luôn toàn bộ cái chân bên phải của anh. Tệ hơn, nếu vi trùng tiếp tục xâm nhập vào tim của anh thì anh sẽ phải bất đắc kỳ tử.” Một bác sĩ cho con biết: “Nếu họ để lại cái chân cho con thì cũng chỉ để làm kiểng mà thôi, không bao giờ dùng chân này để đứng lên hay đi lại được.” Bác sĩ còn khuyên con: “Sau khi cắt bỏ khúc chân của anh, chúng tôi có thể thay vào cho anh một chân gỗ, anh cũng có thể đi lại được như thường.” Con nói với họ: “Tôi là một chủng sinh, từ nhỏ cho đến giây phút này tôi luôn phấn đấu để trở thành một linh mục. Thời gian để tôi trở thành một linh mục chẳng còn bao xa. Nếu các anh cắt chân của tôi có nghĩa là các anh cắt luôn lý tưởng và cắt luôn niềm hy vọng của tôi. Luật bên Giáo hội Công giáo chúng tôi là: không truyền chức cho những người bị cụt tay, cụt chân hoặc mất đi một bộ phận nào trên cơ thể. Do đó, tôi quyết định để lại cái chân.”
Tuy con nói vậy, nhưng thấy nét mặt các bác sĩ chẳng có gì thay đổi, trông họ có vẻ đang chuẩn bị sẵn sàng để cắt chân con. Vì thế, con phải nói với họ cách mạnh mẽ rằng: “Tôi đã bị tắt thở nhiều lần rồi. Tôi không sợ chết nữa. Tôi muốn chết một cái chết cho đầy đủ, chết cho đàng hoàng. Tôi không muốn sau khi chết mà tôi lại phải “cò cò” một chân để vào thiên đàng gặp Chúa.” Thấy con quả quyết như vậy nên các bác sĩ tạm thời dừng lại việc cắt chân bên phải của con. Họ vẫn để con nằm im trên bàn mổ và họ đã ra khỏi phòng và đi họp.
Khoảng một giờ đồng hồ sau, tất các các bác sĩ và y tá quay lại phòng mổ. Một bác sĩ nói với con: “Chúng tôi đã họp, bàn bạc và quyết định để cái chân lại cho anh. Chúng tôi làm theo ý anh, nhưng chúng tôi sẽ không bảo đảm mạng sống cho anh nếu vi trùng xâm nhập lên phần trên rồi lấn vào tim và anh sẽ phải chết.” Con đã nói với họ: “Tôi đã quyết định và tôi chấp nhận mọi rủi ro về quyết định này.” Sau đó, một bác sĩ nói với con: họ sẽ chích một mũi thuốc vào xương sống của con. Liều thuốc này có tác dụng làm cho hai chân con tê liệt hoàn toàn. Hai chân con sẽ bị tê liệt hoàn trong trong thời gian ít nhất là 6 tháng. Bác sĩ còn cho biết, nếu con là người không may mắn thì đôi chân con sẽ bị liệt suốt cả đời. Tuy “không ai biết trước ngày mai” và chính con lúc đó cũng không biết mình sẽ là người may mắn hay không may mắn
– con cũng không biết trước được là sau khi tiêm liều thuốc đó vào xương sống thì đôi chân con sẽ bị tê liệt chỉ 6 tháng rồi có cảm giác bình thường trở lại, hay là số kiếp mình không may rồi hậu quả là đôi chân sẽ bị liệt suốt đời như lời của bác sĩ đã cảnh báo!? Tuy đưa ra một quyết định khá mạo hiểm và bấp bênh như thế con đau lòng lắm, nhưng vì không còn cách nào khác để còn nuôi được một chút hy vọng mong manh: còn đôi chân là con còn có thể làm linh mục. Đau lắm, xót xa lắm và khổ tâm vô cùng, cho nên, con chỉ trông nhờ vào lòng thương xót của Chúa mà thôi.
Bác sĩ chích liều thuộc vào xương sống của con khi con còn tỉnh táo. Sau đó họ chụp thuốc mê và con bắt đầu đi vào một giấc ngủ rất dài đến quá nửa đêm con mới tỉnh dậy trong phòng hồi sức. Các bác sĩ đã làm gì, để lại cái chân theo ý con hay họ đã cắt chân của con rồi con hoàn toàn không biết. Do đó, khi mở mắt trong phòng hồi sức, thứ mà con muốn nhìn thấy trước tiên là các ngón chân và cái chân của con. Con muốn nhìn cho biết chân con còn hay mất. Nhưng vì thân con đã bị tê liệt hoàn toàn nên con không thể ngẩng đầu lên để nhìn xuống chân. May thay, it phút sau có một cô y tá vào phòng. Con đã hỏi: “Cô ơi! Cái chân của tôi đang còn hay đã mất?” Cô ta trấn an tôi và nói: “Đôi chân của anh vẫn còn nguyên vẹn.” Vẫn chưa yên tâm và chưa thực sự tin vào lời của cô y tá, con đã năn nỉ cô ta hãy nâng cái giường phía đầu con lên, để con có thể nhìn xuống chân mình coi có nó còn hay đã mất. Cô ta nâng phía đầu giường lên và con nhìn thấy đôi chân con đã nằm im lìm trong hai cái hộp gỗ giống hai cái hòm nhỏ, không đậy nắp trên. Con cố nhìn và con đã thấy ngón chân cái của con và rồi thấy cả bốn ngón kia đang ở đó. Con mừng lắm và thầm cám ơn các bác sĩ đã giữ đúng lời hứa là để lại cái chân cho con. Nhắc đến sự kiện này, con cũng cần kể lại một câu chuyện xảy ra vào đêm cuối năm 2011, có nghĩa là sau ca phẫu thuật đó hơn 3 tháng.
Khi gần hết giờ thăm bệnh ban đêm, đột nhiên có ba người phụ nữ vào thăm con: hai chị từ Queensland tới và một chị người Melbourne. Lúc đó có chị Maria Nguyễn Thị Ngắm đang ngồi trong phòng đọc Kinh Lòng Thương Xót cầu nguyện cho con. Vào chào hỏi con xong, hai chị từ Queensland tới sát chỗ con đang nằm và lật cái chăn đang đắp trên người con lên, rồi luồn tay xuống dưới, sờ đi sờ lại đôi chân của con. Con thấy việc làm của hai chị này không bình thường. Nhưng vì không muốn hai chị đó buồn, nên con cứ nằm im để cho họ muốn sờ cái gì thì cứ tự nhiên sờ. Sờ mó từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới một lúc rồi có một chị nói: “Chúng con tạ ơn Chúa vì Chúa đã làm một phép lạ cả thể cho ông thầy.” Chị ta nói nhưng con không hiểu chị ta đang nói gì. Sau đó hai chị đua nhau nói: “Chúng con từ Queensland tới đây để tận mắt xem phép lạ nơi cơ thể thầy. Chúng con được biết đôi chân của thầy đã bị cắt từ lâu. Vì các bác sĩ ở Melbourne đã không thể giết được các con vi trùng trong đôi chân của thầy. Cho nên, họ đã phải cắt đôi chân của thầy, bỏ trong thùng nước đá, niêm phong rồi chuyển lên bệnh viện Sydney bằng máy bay cho các giáo sư và bác sĩ ở Sydney điều trị. Chúng con nghe nói họ đã điều trị thành công và đã gửi đôi chần về lại Melbourne cho các bác sĩ ở đây ghép lại cho thầy. Điều chúng con nghe quả là không sai. Tạ ơn Chúa, đôi chân thầy tuy đã mất, nhưng nay đã trở lại.”
Tuy trước khi các chị đến, con đã bị đau và bị co giật khá nhiều lần, nhưng khi nghe hai chị đó nói chuyện “phép lạ” đó, con đã quên hết đớn đau và phải cười thầm trong bụng. Để cho hai chị sờ mó để kiểm chứng đôi chân, rồi tạ ơn Chúa thoải mái xong, con mới nói cho mấy chị biết: “Những chuyện các chị vừa nói là sai sự thật. Đôi chân của em vẫn còn nguyên chưa bị cắt đứt và chưa lìa xa em bao giờ.”
Sau đó con mới từ từ kể cho ba chị nghe chuyện các bác sĩ định cắt chân con ngày 28 tháng 9 năm 2011. Rồi con cũng cho các chị biết, việc anh trai con ra về nhưng vẫn không được biết kết quả ca phẫu thuật đầu gối của con như thế nào. Vì đêm đó, anh con chờ hết giờ thăm bệnh nhưng ca mổ của con vẫn chưa xong, nên anh con phải về nhà người thân ở Deer Park để sáng mai ra phi trường Tullamarine, Melbourne để trở về Việt Nam đúng giờ. Sau đó, một lần nữa con xác tín cho các chị biết rằng: Chân con vẫn là chân thật, đôi chân vẫn chưa bị cắt. Nghe con nói cụ thể sự tình về đôi chân, cả mấy chị mới biết rằng, những gì người ta truyền miệng từ Melbourne tới Queensland cho các chị nghe về chuyện đôi chân của con đều không đúng sự thật.
Trước khi chào con ra về để đón pháo hoa đêm giao thừa, cả bốn chị đạo đức đã cùng nhau đọc một chuỗi kinh Lòng Thương Xót Chúa để cầu nguyện cho con bớt đau và mau bình phục.
Còn Tiếp

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.