Không Ai Biết Trước Ngày Mai, SỐ THÁNG 12, 2017

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Câu chuyện trong tháng trước con đã chia sẻ về những hồng ân của Thiên Chúa dành riêng cho con. Những hồng ân đó Chúa không trực tiếp ban cho con mà là qua những bàn tay của những con người tốt bụng. Có thể nói, sự thăm viếng, quà cáp và những tờ bạc đô-la là những niềm vui lớn mà ân nhân và thân nhân, bà con người Việt ở Melbourne đã an ủi con rất nhiều và mang đến cho con nhiều niềm vui lớn. Tuy nhiên, “người ta sống đâu chỉ nguyên bởi bánh”, do đó, đời sống tinh thần vẫn là thứ rất quan trọng, nhất là đối với một bệnh nhân “gần đất xa trời” như con. Mỗi một khi đã nằm liệt giường thì người bệnh sợ cô đơn hơn là sợ đói. Phải liên tục đối diện với “cô đơn” trong thời gian 688 đêm như con, hầu hết thời gian chỉ mình con với con, mở mắt trong đêm rồi lắng lo, suy nghĩ, rồi sợ hãi. Thật sự, cô đơn đáng sợ và kinh khủng lắm!

Con biết, một người đi tu mà cứ than thở về sự cô đơn thì không được hay cho lắm – có khi lại bị thiên hạ hiểu lầm và cho rằng: anh chàng hay cô nàng này cô đơn là vì đã thất tình và đang sống sai ơn gọi. Nhưng trong thực tế, được sinh ra, lớn lên, rồi trải nghiệm giữa cuộc đời, có lẽ ai ai cũng đã đôi lần từng than thở: “Sao ta cảm thấy lạc lõng và cô đơn quá!” Cô đơn thường bắt nguồn từ một nỗi thất vọng nào đó. Vì thế, dù là các bậc vĩ nhân thì họ cũng thường cảm thấy cô đơn. Cô đơn vì họ khó kiếm ra người nào đó cũng vĩ đại như mình. Dù là các linh mục hay tu sĩ thì cũng đã đôi lần cảm thấy cô đơn. Các ngài cô đơn không giống như kiểu cô đơn trong lời của bài hát: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn – đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Các ngài cô đơn không phải do thiếu thốn về mặt tình cảm lứa đôi, không phải do bị cám dỗ về vấn đề ái tình namnữ hay do vì bị bồ bỏ, “thất tình” mới đi tu. Các ngài cảm thấy cô đơn là vì có những lúc các ngài không được tha nhân cảm thông hoặc có khi bị ai đó hiểu lầm. Đôi lúc các ngài bị cô đơn vì thiên hạ tự “thần thánh hóa” các ngài và từ từ tạo ra một khoảng cách – một khoảng cách lớn giữa “thần thánh” và “người phàm”. Không riêng chỉ những người đi tu hay những người bình thường, dù là các bệnh nhân tâm thần đi nữa, thì họ cũng cảm thấy cô đơn. Những người tâm thần cô đơn vì họ khó kiếm ra người loạn trí cùng kiểu, cùng “ngáo đá” như mình…

Một khảo sát vào năm 2016 của tạp chí Journal of Clinical Nursing trên 1.300 (một ngàn ba trăm) người trưởng thành ở Úc đã phát hiện hơn 1/3 những người đàn ông ở tuổi tứ tuần thú nhận thường xuyên rơi vào trạng thái cô đơn: trong khi độ tuổi ít có cảm giác này là từ 13-19 tuổi và ngoài 50 tuổi. Bản thân con đây lúc bị tai nạn rồi bị liệt thì tuổi đã hơn 40 nhưng chưa ngoài 50. Con là một người có tâm sinh lý bình thường, nên con cũng vậy thôi: đã có nhiều lúc cảm thấy rất cô đơn. Nếu được phép điểm lại những giai đoạn đã qua trong đời, có lẽ thời gian con cảm thấy cô đơn nhiều nhất đó là thời gian con nằm liệt giường trong nhà thương St. Vincent ở thành phố Melbourne, Úc Châu từ đầu năm 2011 đến đầu năm 2013.

Có thể nói: Nỗi cô đơn của con trong thời gian đó là cô đơn được hiểu đúng theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen của nó. Nếu hiểu “cô đơn là những lúc chỉ có mình ta với ta, buồn không có ai tâm sự, vui không có ai để sẻ chia…”, thì thời gian dài hai năm nằm liệt giường trong nhà thương chính là thời gian con cô đơn nhất. Trong thời gian ấy, có những lúc con cảm thấy bản thân mình thực ra cái gì cũng không có và có cảm giác như thể bị cả thế giới bỏ rơi mình. Cô đơn nhất là những lúc đêm về: Mỗi khi giật mình tỉnh giấc, con phải đối diện với bản thân, chỉ “mình ta với ta” đang tự vẫy vùng trong những bế tắc, trong những mối suy tư chồng chéo, dằn vặt làm xé nát tâm can. Cô đơn nhất là những lúc con vừa mới chợp mắt ngủ yên được một chút, bỗng bị những cơn đau làm tỉnh giấc đột ngột giữa đêm khuya, rồi sau đó con phải nằm nghiến răng chịu đựng, cứ thế nuốt nước mắt vào bụng, rồi không tài nào chợp mắt để ngủ lại được nữa. Cô đơn nhất là khi ký ức con dồn dập lùa về những kỷ niệm đẹp, những niềm vui, những thành công mà con đã từng có trong thời trai trẻ.

Trong cuộc sống, lúc còn khỏe mạnh đã đôi lần con từng khuyên những học trò con và những người trẻ rằng: “Đừng nuối tiếc quá khứ, đừng quá lo lắng cho tương lai, hãy sống tốt cho những phút giây hiện tại.” Nhưng đến phiên mình, gặp hoàn cảnh bế tắc, thì việc “đừng tiếc nuối quá khứ” và “đừng quá lo lắng cho tương lai” sao mà khó thực hiện đến thế! Người xưa đã nói rất đúng: “Nói thì dễ, làm thì khó.” Khi còn khỏe mạnh, con cũng thường khuyên những người khác rằng: “Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được, bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho những mất mát.” Đến lượt mình, xem đi xét lại, mình có gì đâu để mà “quý trọng những gì bạn đang có”? Mình đang nằm bất động như một khúc gỗ trên giường, có nhúc nhích được nữa đâu để mà “lên kế hoạch cho tương lai…”. Tất cả những lời khuyên mà con đã dành cho người ta năm xưa có thể hữu ích cho họ phần nào đó, nhưng bây giờ đem những lời khuyên ấy áp dụng cho bản thân con lúc này thì chẳng hề có một chút tác dụng tích cực nào nữa. Nhắm mắt ngủ được thì thôi, còn đêm khuya bị những cơn đau hoành hành, không ngủ được là con lại nghĩ vẩn nghĩ vơ, rồi buồn, rồi tủi, rồi lại cảm thấy cực kỳ cô đơn.

Trước khi chưa bị tai nạn chưa bị liệt, đã có nhiều lần con rất phấn khởi hát vang những lời ca đầy lạc quan rằng: “Tôi không còn cô đơn buồn khô héo bên giòng đời. Tôi không còn cô đơn mặc cho năm tháng trôi xuôi. Tôi không còn cô đơn dù rằng bờ vai vất vả, chuyện lòng ngổn ngang mấy ngả, lênh đênh tìm một mái nhà – Tôi đã gặp niềm vui từ khi lắng nghe lời Người. Tôi đã gặp niềm vui bừng lên trong đáy tim tôi. Tôi đã gặp niềm vui từ ngày tình yêu sáng tỏ, mở rộng hồn tôi bé nhỏ, dắt tôi đến miền tôi mơ…”. Những lời này mà hát trong lúc mình khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn thì thật là tuyệt vời! Nhưng thú thật, khi đã trở thành một “phế nhân” không hơn không kém đang nằm im lìm trên giường bệnh, thì con không thể mở miệng để hát lại những lời đầy lạc quan trong bài “Tôi không còn cô đơn” đó nữa! “Không còn cô đơn” sao được khi mà ngày ngày con cứ nằm liệt trên giường bệnh để cho người ta tự do muốn làm gì trên thân xác mình thì làm! “Không còn cô đơn” sao được khi mà con muốn ăn miếng gì hay muốn uống chỉ một ly nước lã thôi thì cũng cần đến sự giúp đỡ của người khác? “Không còn cô đơn” sao được khi mà thời gian dài hơn một năm con chỉ nằm trên giường bệnh, nhìn bóng đèn điện nê-ông trên trần nhà, chứ chẳng bao giờ được ra ngoài nhìn ánh sáng mặt trời hay thưởng thức chút khí trời cho đỡ ngột ngạt? “Không còn cô đơn” sao được khi con nằm trong nhà thương 688 ngày đêm mà không hề được thấy mặt anh chị em ruột thịt hay những người thân yêu từ nơi mà mình đã được sinh ra và lớn lên? “Không còn cô đơn’ sao được khi mà mọi nguồn động viên cho con đã đến lúc thưa dần theo thời gian năm tháng? “Không còn cô đơn” sao được khi mà mọi tia hy vọng trong con lúc này dường như đã dần dần bị dập tắt? “Không còn cô đơn” sao được khi mà lý tưởng suốt cả cuộc đời của con được trở thành một linh mục” đã gần như đến hồi chấm dứt? “Không còn cô đơn” sao được khi mà con có thể sẽ bị trả về Việt Nam sau khi xuất viện trên chiếc xe lăn, không vợ, không con, không tiền không bạc? “Không còn cô đơn’ sao được khi mà lâu lâu có người vào bàn con đừng suy nghĩ đến chuyện làm linh mục nữa; tìm một “singel mum” (bà góa) không cần nhan sắc, không kể tuổi tác, miễn là bà góa đó có nhiều đô-la, rồi năn nỉ người ta lấy mình làm chồng để rồi người ta lo cho đoạn đời tật nguyền còn lại của mình?…???. Nhiều, nhiều, nhiều lắm những khó khăn trước mắt mà lúc này con không thể nào “không còn cô đơn” được. Ai không may mắn mà phải rơi vào tình cảnh éo le như con, thì cô đơn là chuyện phải đến thôi, mạnh mẽ cách mấy cũng không thể nào tránh được. Dù con không hề muốn bị cô đơn, nhưng nó cứ mãi đeo bám bên mình không tài nào dứt ra được!

Từ xưa đến nay, con đọc “Thương xác bảy mối” rất thường xuyên, có điều con chưa thấm và chưa hiểu trọn nghĩa của câu: “Thứ bốn viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.” Nhưng khi con nằm liệt giường trong nhà thương lâu ngày, con mới bắt đầu thấm thía và học được một điều: bệnh nhân cũng giống như những tù nhân, họ rất cần sự thăm viếng, sự hiện diện của người thân. Nếu là vậy thì thực ra, cô đơn không phải là không có thuốc chữa. Tuy nhiên, thuốc chữa cô đơn không phải là những liều thuốc tây hay mấy chén thuốc bắc. Khi con cô đơn thì con cần nhất là sự hiện diện của những người thân yêu. Khi nằm trên giường bệnh một mình co ro điều con ước mong nhất là thấy mặt anh chị em ruột thịt, cháu chắt, và bà con thân thuộc đứng, ngồi xung quanh giường bệnh của mình. Khi con cô đơn thì dù chỉ một ánh nhìn, một nụ cười, một cái bắt tay, một câu hỏi thăm của ai đó thôi thì mọi cơn đau và nỗi niềm cô đơn sẽ tan biến. Những thứ đó sẽ hiệu nghiệm hơn cả ngàn viên thuốc tây. Khi con cô đơn mà ai đó vào thăm, ngồi bên giường bệnh, chỉ thỏ thẻ thôi, không cần nói nhiều, có khi chỉ cần nhìn con thôi thì con cũng đã được niềm ủi an rất lớn. Hoặc ai đó vào thăm con, đưa mắt nhìn những vết thương trên mình con, rồi không ngại chuyện bị lây bệnh, không sợ vi trùng, từ từ cúi mình gần con, dùng đôi bàn tay nhè nhẹ thoa dịu các vết thương của con, làm như thế thì con đã cảm thất nó hiệu nghiệm hơn cả trăm chén thuốc bắc hay nghìn liều thuốc giảm đau.

Nằm triền miên trong nhà thương, quỹ thời gian thì bao la, nên con đã từng vỗ về và an ủi mình rằng: “Sông có khúc, người có lúc”. Thế nhưng, để con tự lý giải cho con khi nào đến “lúc” thì không hề tìm ra được một đáp án rõ ràng. Cứ quẩn quanh lâu ngày như vậy, nên con đã đành tạm tin rằng con người có “số phần” nào đó như cụ Nguyễn Du đã viết: “Ngẫm hay muôn sự tại trời – Trời kia đã bắt làm người có thân – Bắt phong trần phải phong trần – Cho thanh cao mới được phần thanh cao.” Tuy không biết trước số phận của mình, những mỗi người đều có và phải trải qua: quá khứ, hiện tại và tương lai. Có những người có cuộc sống ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai đều rất sung sướng. Cũng có những người có cuộc sống ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai đầy những khó khăn. Có những người có cuộc sống ở quá khứ sung sướng, nhưng ở hiện tại và tương lai lại vất vả tư bề. Và cũng có những người có cuộc sống ở quá khứ và hiện tại rất sung sướng, nhưng cuộc sống ở tương lai của họ lại gặp muôn ngàn trắc trở, gian nan. Nói chung, ai cũng có cuộc sống ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đối với con thì quá khứ cũng chẳng suôn sẻ và tốt đẹp bao nhiêu; hiện tại thì quá ư là trục trặc; tương lai tuy chưa đến nhưng theo ‘người ta’ dự đoán thì cũng chẳng sáng sủa gì. Vì thế, con đã tự khuyên mình rằng: đừng nên mãi nghĩ về quá khứ. Vì nếu mình có quá khứ đẹp đẽ thì nó cũng qua mất rồi, còn mình đã có quá khứ không vui và rồi mình cứ nghĩ nhiều về quá khứ đau buồn đó thì nó chỉ mang tới cho mình những giọt nước mắt đắng cay mà thôi. Gặp hoàn cảnh éo le như con, con đã tự rút bài học cho riêng mình là: đừng nên quá nghĩ nhiều về tương lai. Tương lai là thời gian chưa đến. Vạch kế hoạch và chuẩn bị cho tương lai là điều tốt, nhưng nếu ta suy nghĩ nhiều về tương lai có khi nó chỉ mang lại cho ta những mối lo sợ. Trước khi bị tai nạn, con đã lên kế hoạch cho một chuyến du lịch dài ngày: từ Úc qua Roma và Âu châu rồi về Việt Nam thăm quê hương. Nhưng tất cả kế hoạch cho hành trình đó hiện vẫn chỉ là những “kế hoạch chết” còn nằm y nguyên trong máy vi-tính của con.

Chia sẻ về “nỗi cô đơn của một bệnh nhân” con tự nhắc mình rằng: hãy cố gắng sống ở phút hiện tại với nụ cười trên môi như trẻ thơ để xua đi nỗi cô đơn trong đời. Sống vui vẻ với những nụ cười luôn nở trên môi sẽ mang lại cho mình nhiều niềm vui trong cuộc sống. Người ta nói: “Giây phút hiện tại cùng với những kinh nghiệm trong quá khứ sẽ giúp ta trưởng thành và lớn lên trong tương lại.” Trải qua kinh nghiệm về “cô đơn” con cũng luôn tự nhắc mình rằng: mỗi khi có thể, mình phải cố gắng đi thăm viếng các bệnh nhân trong nhà thương, trong các viện dưỡng lão và những người già neo đơn đang sống một mình tai gia. Vì đã từng bị cô đơn lâu ngày và có chút kinh nghiệm về cô đơn, nên nếu giờ này ai hỏi con: “Một bệnh nhân nằm liệt giường thì cần thứ gì nhất?” Con sẽ không ngần ngại và trả lời ngay rằng: “Một bệnh nhân nằm liệt giường thì điều cần nhất không phải là tiền, không phải là nhân sâm, không phải của ăn của uống hay thuốc tiên mà là sự hiện diện của những người thân và sự viếng thăm của bà con thân thuộc.” Những bệnh nhân sắp chết nằm trong nhà thương ở Úc Châu này sẽ không phải lo lắng đến chuyện tiền bạc, thuốc men. Chuyện ăn uống và thuốc men của các bệnh nhân thì đã có chính phủ hỗ trợ. Hơn nữa, những bệnh nhân liệt giường sắp hấp hối thì họ cũng chẳng thiết tha gì đến chuyện ăn chuyện uống nữa. Dù bệnh nhân thất nghiệp, ăn trợ cấp của chính phủ nếu họ muốn góp tiền để mua một miếng đất chôn mình và một cái hòm đẹp chẳng khó khăn gì. Nếu họ tham gia vào các chương trình “tương trợ” thì sau khi chết họ có thể còn dư một khoản tiền lớn để lo việc ma chay cho chính mình và giúp đỡ những người thân còn sống nữa. Những thứ mà bệnh nhân cần không phải là bằng vật chất, tiền bạc nữa mà hoàn toàn bằng tinh thần. Thứ mà dùng tiền bạc không mua được đó chính là thời gian và những lần thăm viếng của tha nhân dành cho họ. Thứ mà dùng tiền bạc không mua được đó chính là sự hiện diện của những người trong gia đình, trong họ hàng, dòng tộc. Thứ mà dùng tiền bạc không mua được đó chính là sự quan tâm của những người trong làng, trong khu phố, trong cộng đồng, trong hội đoàn, trong giáo xứ. Thứ mà dùng tiền bạc không mua được đó chính là lòng thương xót của con cái, anh chị em, bà con thân thích và những người thân dành cho họ.

Kính thưa Quý vị! Nếu có dịp để chia sẻ với những người trẻ về kinh nghiệm sống thì con vẫn cứ lặp lại những lời mà con đã từng chia sẻ với họ trong những năm xưa rằng: “Sống trong cuộc đời ta đừng nuối tiếc quá khứ, đừng quá lo lắng cho tương lai, hãy sống tốt cho những phút giây hiện tại.” Đồng thời, con sẽ khuyên họ thêm rằng: “Hãy dành thời gian đi thăm viếng các bệnh nhân trong các nhà thương hay trong các nhà hưu dưỡng, thăm những người già yếu cô đơn và thăm những người đang bị giam cầm trong các trại cải tạo.” Vì ở những nơi đó, những anh chị em của ta đang mong chờ và đang rất cần sự hiện diện, sự quan tâm và lòng thương xót của chúng ta dành cho họ.

Nếu được phép suy tư thêm một chút thì con sẽ nhắc lại câu nói của người xưa: “Đời có vay, có trả.” Những việc tốt ta làm hôm nay cho tha nhân: những người ốm đau, neo đơn, già cả thì sau này đến lượt mình tuổi cao sức yếu, sống trong cảnh cô đơn sẽ có những người trẻ ở các thế hệ sau đoái thương, thăm viếng và an ủi mình. Cho dù các thế hệ trẻ sau này không hiếu thảo, không tôn trọng người bệnh và người già cả, không biết sống yêu thương kính trên nhường dưới, không đổi xử tốt với ta thì vẫn còn có Chúa Giê-su sẽ ban thưởng cho ta. Vì Chúa Giêsu đã nói rõ trong Tin Mừng là đến ngày phán xét chung, vị Vua Cả Trời Đất sẽ phán với người lành rằng: “Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ. Vì … xưa Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta”. Khi ấy những người lành đã sống một đời yêu thương bệnh nhân và người neo đơn già cả sẽ thắc mắc rằng: “Lạy Chúa, có khi nào chúng con thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày mà chúng con đến viếng Chúa đâu?” Vua Giê-su sẽ đáp lại: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Và rồi Ngài sẽ dồn Thánh Phê-rô mau mở cửa thiên đàng cho những người đã từng có lòng thương xót, năng viếng thăm các bệnh nhân và những người neo đơn sống đời cơ cực.

Còn Tiếp