Không Ai Biết Trước Ngày Mai – tiếp theo, số tháng 11, 2017

La-da-rô Antôn Phạm Xuân Tạo

Không ai biết trước ngày mai. Có thể hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình ở dương gian. Vì thế, việc cần làm hôm nay ta đừng để đến ngày mai.

Đúng như lời bác sĩ kia đã hứa, sau gần ba tuần con được chuyển từ phòng số 13 lầu 6 lên phòng số 7 ở lầu 9. Có thể nói, con đã được chuyển từ một nơi “tối tăm đầy lo âu” đến một nơi “đầy ánh sáng của những tia hy vọng ”. Tuy vào thời điểm này, bệnh tật con vẫn còn đó và tương lai con cũng chưa có gì là sáng sủa, nhưng ít ra khi được chuyển vào phòng này thì chuyện sợ chết đột ngột trong con bắt đầu dần dần nguôi ngoai.

Khi được chuyển vào phòng số 7 lầu 9, con không còn có dịp để nhìn các bác sĩ, y tá, nhân viện đẹp mỗi ngày nữa, nhưng từ nay con bắt đầu cảm thấy có bớt đau đớn hơn. Trên cơ thể con các vết mổ cũng đã từng bước lành lại. Và nhất là, con nhận được nhiều ân huệ từ Thiên Chúa, qua những bàn tay đầy tình bác ái, yêu thương của rất nhiều người.

Người ta nói: “Sống ở đời được cái này thì mất cái kia”. Đúng vậy, tuy con không còn được nhìn thấy “người đẹp” mỗi ngày như khi còn ở lầu số 6, nhưng ở lầu số 9 này con lại đón nhận được nhiều bà con khắp nơi ở tiểu bang Victoria vào thăm viếng con. Sau khi con mới tỉnh dậy thì con thấy mỗi ngày chỉ có vài ba người vào thăm con. Vì con là người sợ cô đơn nhất, nên hồi đó con đã thầm thì khấn xin với Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận rằng: “Trọng kính Đức Hồng Y! Ngài đã ở tù 13 năm và ngài đã rất thấm nhuần về nỗi thống khổ khi phải sống cô đơn, con khấn xin ngài làm phép lạ để giúp con bớt đi cảnh cô đơn. Vì con là một kẻ mồ côi, một người đơn độc không hề có anh chị em ruột thịt hay bà con thân thích nào ở đất nước này.”

Không biết có phải Đức Hồng Y đã giúp con hay không, nhưng kể từ thời gian này thì số người vào thăm con tăng gấp nhiều lần. Trước đây mỗi lần chỉ một người hoặc vài người vào thăm, còn nay thì không chỉ vài ba người mà hầu như ngày nào cũng có cả hội đoàn vào với con. Trước đây, người ta chỉ vào thăm rồi âm thầm cúi đầu chào con ra về, còn trong thời gian này các hội đoàn không những vào thăm hỏi mà còn cất lên những lời nguyện cầu sốt sắng và rền vang bằng những bài Thánh ca ngay trong phòng bệnh tại nhà thương. Hầu như hội đoàn nào vào thăm con cũng đều dành thời gian lần hạt Mân Côi hoặc đọc kinh Lòng Thương Xót cầu nguyện cách riêng cho con rồi mới ra về. Các hội đoàn và ân nhân vào thăm con không chỉ mang theo tinh thần suông, nhưng hầu hết các ân nhân còn mang đến cho con nhiều món quà bằng vật chất, đó là những đồng tiền đô-la có giá trị.

Trước khi chia sẻ đôi điều về lòng quảng đại của các ân nhân, thiết nghĩ, con cũng cần thưa lại sơ qua về những việc bác ái thiết thực mà bà con người Việt ở Melbourne đã ưu ái dành cho con trong thời gian kể từ lúc con mới ngã bệnh cho đến mãi hôm nay. Tuy thời gian hôn mê bất tỉnh 74 ngày đêm thì con không hề hay biết chuyện gì, nhưng từ từ con đã được nghe những người trong cuộc kể lại cho con tường tận từng sự việc qua từng thời gian khác nhau.

Người thân cho con biết: Khi con còn nằm trong ICU trong nhà thương ở Sale với tình trạng của con là “thập tử nhất sinh” hay có thể nói mạng sống của con như ‘nghìn cân treo sợi tóc’ thì con đã bắt đầu thụ ơn của các ân nhân. Vì có lẽ ai cũng biết con là một chủng sinh nghèo nên ngoài thân xác con ra chẳng có gì đáng giá để bán. Gia sản của con lúc này chỉ có mớ sách tu đức, triết học và thần học, cộng thêm một số đồ đạc lặt vặt chẳng đáng giá bao nhiêu. Cho nên, cha Giuse Nguyễn Hồng Ánh và một số linh mục đã kêu mời bà con giáo dân người Việt ở Melbourne giúp đỡ. Bà con giáo dân người Việt ở Melbourne đã quyên góp được một số tiền khá lớn để mua cho con một cái hòm. Con nghe nói, có gia đình đã hứa với cha Giuse Nguyễn Hồng Ánh là nếu ông thầy Tạo qua đời thì gia đình sẽ niệm tình xót thương và xin biếu ông thầy một món quà đẹp. Món quà đẹp đó chính là một cái hòm. Có gia đình khác lại hứa, nếu ông thầy Tạo chết thì gia đình sẽ cho nửa số tiền để thanh toán tiền mua hòm. Và rất nhiều người Việt ở Melbourne đã đóng góp tiền để góp mua cho con một cái hòm đặc biệt. Chương trình góp tiền mua hòm cho thầy Tạo coi như đã hoàn thành. Thầy Tạo tắt thở hẳn lúc nào thì vào hòm lúc đó, không còn phải đợi chờ gì nữa. Tuy khoản tiền bà con quyên góp để mua hòm cho thầy Tạo đã đủ, nhưng tiền để chi cho việc chuyển xác thầy Tạo bằng máy bay từ Úc về Việt Nam vẫn chưa có. Do đó, với lời kêu gọi của cha Ánh và một số Linh mục người Việt ở Melbourne, bà con giáo dân Việt Nam ở Melbourne lại phát động một đợt quyên góp nữa. Số tiền quyên góp đợt này sẽ là khoản tiền để đưa xác thầy Tạo về quê nhà chôn cất. Nhưng như con đã nói: “Không ai biết trước ngày mai…”, sau một thời gian sống-chết chập chờn, thoi thóp trong cảnh hôn mê “bất tỉnh nhân sự”, Chúa đã cho con mở mắt sống tiếp. Sau 74 ngày đêm nhắm mắt, hôn mê bất tỉnh, con đã tái mở mắt để nhìn trời, nhìn đời và nhìn lại tất cả anh chị em, bạn bè, thân nhân và nhất là có dịp để nhìn lại, để cám ơn những ân nhân đã có lòng quảng đại giúp đỡ con về tiền bạc và những lời kinh nguyện chân thành mà mọi người đã dành cho con trong thời gian con bị bệnh tưởng chừng như không còn hy vọng cứu vãn được nữa. Tuy ngày con mở mắt sống tiếp cũng chính là ngày tạm ngưng ‘chương trình’ góp tiền để đưa xác thầy Tạo về quê. Nhưng thật ra, rất nhiều bà con người Việt ở Melbourne vẫn tiếp tục giúp đỡ còn nhiều cả về tinh thần lẫn vật chất.

Có thể nói: Thời gian được chuyển vào phòng số 7 ở lầu số 9 chính là quãng thời gian mà con nhận được nhiều ân huệ nhất: Ân huệ từ Trời, từ cuộc đời và từ những con người tốt bụng. Nghe tin con gặp hoàn cảnh chẳng lành, bà con người Việt mình cứ rỉ tai nhau rồi người này dẫn người kia vào để tận mắt nhìn thấy một “mảnh đời kém may mắn” đang nằm im lìm trên giường bệnh. Trong thời gian này, bà con người Việt vào thăm con không chỉ bằng tinh thần suông, mà hầu hết mỗi người vào thăm đều giúp con những món quà bằng vật chất quý giá. Có người cho con cách công khai, có người có lẽ sợ con tủi thân, nên đã tế nhị, âm thầm bỏ tiền dưới gối, rồi lúc ra về ghé tai dặn dò y tá lấy tiền dưới gối con nằm và cất giữ cho con. Ngoài việc cho con tiền, nhiều người còn bỏ thời gian, công việc để nấu cho con những món ăn đầy chất bổ dưỡng. Hai ân nhân mà suốt đời con phải tri ân đó chính là Dì Maria Bùi Thị Hạnh (ở Richmond, Melbourne) và chị Maria Giuse Trần Thị Ngắm (ở Fiztroy, Melbourne).

Sở dĩ hai vị ân nhân này đã giúp đỡ con bời vì: Thời gian mấy tháng đầu thì việc ăn uống thức ăn do nhà thương cung cấp không có vấn đề gì gây khó khăn cho con cả. Nhưng sau mấy tháng ăn thức ăn của nhà thương liên tục thì con đã phát ngán và rồi không thể nào tiếp tục ăn được thức ăn do nhà thương cung cấp nữa. Mỗi lần nhân viên đưa thức ăn vào phòng, mới chỉ ngửi thấy mùi thức ăn thôi thì con đã ói liên tục. Với tình trạng này, các bác sĩ đã khuyên cha Giuse Nguyễn Hồng Ánh là mua thức ăn Việt Nam cho con ăn, hy vọng tình trạng sức khỏe của con sẽ ổn hơn.

Kể từ ngày đó, cha Ánh đã liên hệ với Dì Hạnh và Dì đã tình nguyện nhận lời lo chuẩn bị thức ăn mỗi ngày ba bữa cho con. Hồi đó, mỗi ngày ít nhất ba lần Dì Hạnh đã bỏ biết bao công lao và thời gian để lo chuẩn bị cơm, cháo và rồi đem vào nhà thương, ngồi đút cho con ăn mỗi ngày ba bữa. Có thể nói, Dì Hạnh chăm sóc con trong thời gian đó giống như một người mẹ kiên nhẫn ngồi đó đút cơm, đút cháo cho đứa con thơ của mình vậy. Việc ăn uống của con coi như tạm ổn. Nhưng rồi mấy tháng sau, Dì Hạnh và gia đình phải về Việt Nam thăm quê nên Dì đã liên hệ và bàn bạc với chị Ngắm để chị thay Dì Hạnh chăm sóc con trong thời gian Dì vắng mặt. Chị Ngắm đã vui vẻ nhận công việc lo chuẩn bị cơm cháo cho con trong suốt thời gian Dì Hạnh ở Việt Nam. Cũng giống như Dì Hạnh, chị Ngắm cứ lủi thủi kéo theo một chiếc xe đẩy nhỏ mỗi ngày ba lần từ Fitzroy vào nhà thương cho con bất chấp trời nắng hay mưa. Riêng chị Ngắm, ngoài việc chuẩn bị, lo cơm cháo cho con thì mỗi ngày chị đều dành thời gian ngồi bên giường con để cầu nguyện cho con bằng việc đọc Kinh Lòng Thương Xót. Ngày nào con khỏe thì con cùng đọc chung với chị, còn ngày nào con mệt thì một mình chị đọc kinh cầu nguyện cho con rồi mới ra về.

Sau thời gian thăm quê từ Việt Nam về, Dì Hạnh gặp chị Ngắm và hai người tự thương lượng với nhau: Dì Hạnh chuẩn bị và đem cơm, cháo cho con vào bữa ăn sáng và bữa ăn tối, còn chị Ngắm nhận trách nhiệm lo cơm, cháo vào ban trưa cho con. Thời gian gần hai năm như thế không phải là ngắn. Chỉ có những người có tình yêu thương và có lòng bác ái thật sự thì mới dám hy sinh và giúp đỡ con như thế. Cho nên, việc tri ân và ghi ân đối với hai ân nhân đặc biệt này là việc quan trọng con phải đáp đền suốt cả cuộc đời. Vì nếu không có sự giúp đỡ tận tình, vô vị lợi của hai vị ân nhân đặc biệt này thì có lẽ con đã qua đời trong nhà thương không phải do bệnh mà là do bị đói.

Lời của các tiền nhân Việt Nam đã dạy con rằng: “Ơn ai một chút chớ quên…”. Vì vậy, một người đã từng thụ ơn không chỉ là một chút mà là nhiều vô số kể như con đây, thì lẽ nào con không cố gắng để sống trọn một đời tạ ơn: Tạ ơn Chúa, tạ ơn cuộc đời và tạ ơn những người đã “làm phúc” cho con ít nhất từ ngày con bắt đầu bị bệnh đến nay. Để kết luận câu chuyện của tháng này, con xin phép nhắc lại một câu chuyện có thật về hành động tỏ lòng biết ơn của một thanh niên người Hoa. “Người thanh niên 18 tuổi Hoàng Kha mắc bệnh loạn dưỡng cơ, căn bệnh khiến người bệnh bị liệt dần từ chân lên, cuối cùng sẽ chết vì tim ngừng đập. Người bị mắc bệnh này thường không sống quá 18 tuổi .Một đài truyền hình biết chuyện này đã đưa tin về tình trạng và hoàn cảnh của Hoàng Kha. Ngay sau khi bản tin kết thúc, điện thoại nhà Kha bắt đầu reo lên không ngừng. Những khán giả trong nước cũng như Hoa kiều ở nước ngoài gọi đến để hỏi địa chỉ nhà Kha và khích lệ em.

Chỉ trong vài tháng tiếp theo, các mạnh thường quân đã gửi đến nhà Kha 500 khoản tiền với tổng số hơn 80.000 nhân dân tệ tương đương 10.000 USD.

Năm 2003, Kha đề xuất tâm nguyện cuối cùng với cha là đi gặp những nhà hảo tâm đã âm thầm gửi tiền giúp mình, để nói một tiếng cảm ơn. Kể từ lúc đó, hai cha con đã mất khoảng hai tháng mỗi năm rong ruổi trên chiếc xe máy tái chế đi tìm ân nhân khắp mọi miền đất nước.

Chiều 29 tháng 7 năm 2006, Hoàng Kha đến một khu chung cư ở tỉnh Liêu Ninh. Kha cầm bó hoa hồng thắm bằng đôi tay yếu ớt của mình và tặng bà Tôn Tố Cần: “Thưa Bà, cảm ơn bà đã quan tâm và khích lệ cháu sáu năm trước. Lòng hảo tâm của bà đã giúp cháu và cha cháu vượt qua tuyệt vọng. Hôm nay cháu và cha cháu đến đây để nói lời cảm ơn trước mặt bà”. Câu nói chưa dứt mà cả ân nhân lẫn người cảm ơn đều đã nước mắt lưng tròng.

Chuyến đi của hai cha con Hoàng Kha thật là khó khăn. Mỗi ngày chiếc xe chỉ có thể đi được quãng đường 100km. Hoàng Kha ngồi trong thùng xe nhỏ cũng không thoải mái, cứ 1-2 giờ họ phải dừng lại nghỉ một chút. Nhưng họ không bao giờ muốn ngừng lại. Suốt ba năm nay họ đã đến được mấy chục thành phố, đi được quãng đường dài hơn 13.000km và đã nói lời tri ân với 300 ân nhân. Chỉ còn 600km nữa anh và cha sẽ kết thúc hành trình cảm ơn của mình. Hoàng Kha cho biết với những người không thể đến gặp mặt trực tiếp thì anh sẽ cảm ơn họ trong lòng. Anh cũng mong muốn sau này khi qua đời sẽ hiến giác mạc của mình cho người cần thay giác mạc.”

Câu chuyện trên được trích từ một tờ báo Bắc Kinh và đã được báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật ở Việt Nam đăng lại ngày 13 tháng 8 năm năm 2006, khiến con và rất nhiều người đọc đã suy nghĩ về lòng biết ơn. Qua câu chuyện trên giúp con rút ta được bài học về hành trình “Tạ ơn”. Lòng biết ơn và việc cám ơn ân nhân không chỉ là ngày một ngày hai mà phải là một hành trình kéo dài suốt cả cuộc đời.

Về phần mình, một kẻ đã từng thụ ơn của rất nhiều ân nhân, con muốn lắm, muốn học theo cách đi gặp gỡ để cám ơn từng ân nhân của mình như chàng thanh niên tên Hoàng Kha trong câu chuyện. Nhưng vì điều kiện sức khỏe, vì đôi chân không còn lành lặn như xưa, nên con chưa thể bắt chước Hoàng Kha bằng hành động “đi tìm ân nhân để cám ơn từng người một” được. Chính vì vậy, con chỉ dám xin phép mượn “tinh thần” của nhân vật Hoàng Kha trong câu chuyện trên là “con sẽ cám ơn họ trong lòng.”

Tận dụng cơ hội và qua Báo Dân Chúa Úc Châu, con cũng xin tri ân và ghi ân quý ân nhân luôn mãi trong lòng con! Mỗi lần bước lên bàn thờ dâng lễ hay trong các giờ kinh nguyện cầu mỗi ngày, con sẽ nhớ đến từng ân nhân, kể cả những ân nhân của con đã qua đời; con sẽ liên tục khẩn nài Thiên Chúa, thay con để ban muôn phúc lành hồn-xác và bình an đích thực trong tâm hồn cho tất cả ân nhân và gia quyến. Con sẽ khấn cầu Thiên Chúa giúp con “trả công vô cùng cho tất cả bà con người Việt ở Melbourne, Úc Châu, đã làm phúc cho con” trong suốt thời gian qua.

Còn Tiếp