Lạy Cha, Lạy Cha, Sao Cha Bỏ Con? Bị Chúa Cha bỏ rơi

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

“Lần đầu tiên tôi phải tự bào chữa trước tòa, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi (…) Nhưng có Chúa ở với tôi và ban sức mạnh cho tôi: để rồi, cả trong hoàn cảnh đó, tôi có thể rao giảng sứ điệp của Chúa” (2Tm 4,16-17).

Những lời này của Thánh Phaolô phản ảnh kinh nghiệm của chính tôi trong những năm cam go của cảnh tù đày. Không phải vì các giáo hữu và linh mục của tôi đã bỏ rơi tôi. Nhưng không ai có thể làm gì được cho tôi. Tôi hoàn toàn bị cô lập và cảm nghiệm tình trạng bị bỏ rơi. Nhưng “Chúa ở cùng tôi”; vì thế, cả khi Ngài ẩn mặt, Chúa Cha vẫn không bỏ rơi chúng ta.

Nhà tù nơi tôi bị giam trong những tháng đầu tiên tọa lạc tại khu vực có nhiều tín hữu Công giáo nhất trong thành phố Nha Trang, nơi tôi đã làm giám mục trong 8 năm.

Từ phòng giam, sáng tối tôi đều nghe tiếng chuông nhà thờ chính tòa ngân vang, và suốt ngày, tôi nghe những tiếng chuông của bao nhiêu giáo xứ và nhà dòng. Tôi ước mong được dời đi thật xa, lên miền núi để khỏi phải nghe những tiếng chuông ấy.

Ban đêm, trong cái thinh lặng của thành phố, tôi nghe lại tiếng sóng Thái Bình Dương mà tôi đã từng nghe thấy từ cửa văn phòng tòa giám mục của tôi. Không ai biết tôi ở đâu, mặc dù nhà tù chỉ cách nhà tôi vài cây số. Tôi sống trong tình trạng thật vô lý!

Tối ngày 1 tháng 12 năm 1976, như tôi đã kể, người ta đưa tôi từ nhà tù Thủ Ðức xuống tàu Hải Phòng. Tối hôm ấy, trong khi chờ đợi, họ bắt chúng tôi ngồi xuống đất. Xa xa, cách đó 3 cây số, tôi thấy ánh điện của thành phố Saigòn, trung tâm của giáo phận mà tôi đã được bổ nhiệm làm Giám Mục Phó ngày 24 tháng 4 năm 1975. Tôi biết rằng mình sắp bị đưa đi xa khỏi nơi này. Ðau khổ ấy làm tôi rùng mình. Tôi nghĩ đến Thánh Phaolô Tông Ðồ lúc giã từ các kỳ mục thành Êphêsô tại Milêtô, khi biết rằng sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa.

Còn tôi thì không được giã từ những người thân của tôi. Tôi cũng không thể an ủi hoặc để lại cho họ lời khuyên nào. Trong thâm tâm, tôi giã từ họ, nhất là Ðức Tổng Giám Mục cao niên Phaolô Nguyễn Văn Bình tốt lành của tôi. Tâm hồn tôi đau đớn, khi nghĩ mình sẽ không bao giờ còn được nhìn lại họ nữa. Cho đến nay, tôi vẫn chưa gặp lại họ.

Tôi cảm thấy niềm đau khổ mục tử sâu xa trong tất cả những điều đó, nhưng tôi có thể làm chứng rằng Chúa Cha không hề bỏ rơi tôi và Ngài đã ban sức mạnh cho tôi.

Những lúc ta bị bỏ rơi

Có lẽ tất cả chúng ta, nhiều lần cũng đã sống những giờ phút bị bỏ rơi như thế.

Chúng ta cảm thấy không được thông cảm, nhiều lần bị thất vọng, bị phản bội. Chúng ta cảm thấy không đủ sức và đơn độc trước những nhiệm vụ lớn hơn sức chúng ta. Chúng ta tiếp xúc với những đau khổ khốc liệt của Hội Thánh, của cả một dân tộc. Có những lúc, cả ánh sáng đức tin và tình thương dường như cũng bị tắt ngúm làm chúng ta rơi vào buồn thảm và lo âu.

Có những đêm tối của tâm hồn, vắn hay dài đã làm tối sầm niềm tin về sự hiện diện của một vị Thiên Chúa trong ta. Thật ra, Ngài vẫn ở gần kề và mang lại cho cuộc đời chúng ta một ý nghĩa.

“Ðôi khi lại có những đêm tối mặc chiều kích thời đại và tập thể, như thời đại ngày nay, trong đó, – như Ðức Gioan Phaolô II đã nhận xét thật chí lý – con người, mặc dù đã chinh phục được nhiều sự, nhưng vẫn có nguy cơ rơi xuống vực thẳm của tình trạng bị bỏ rơi, bị cám dỗ vì chủ thuyết hư vô, cảm thấy sự vô lý của bao nhiêu đau khổ thể lý, tâm lý và tinh thần” (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, V/3 (1982), pp.1141-1412).

Thánh Phaolô đã nói về những lúc bị bỏ rơi trầm trọng nhất: “…nguy hiểm do người đồng hương, nguy hiểm do dân ngoại, nguy hiểm trong thành phố, nguy hiểm trong sa mạc, nguy hiểm trên biển”. Sau cùng Thánh nhân cho thấy chính điều buồn thảm nhất đối với Ngài, điều làm cho Ngài càng gần Chúa Giêsu hơn: “Những nguy hiểm do những kẻ giả danh anh em” (2Cr 11,26).

Mầu nhiệm Thập Giá

Ðây là luật của Tin Mừng: “Nếu hạt lúa rơi xuống đất mà không chết đi, thì vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, thì sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 12,24).

Và chính Chúa Giêsu là người đầu tiên sống luật đó: Ngài đã chết thật, nhưng sự sống dồi dào phát xuất từ cái chết ấy lại càng thật hơn.

Sự sống ấy đắt giá dường nào!

Chúa đã xuống trần vì yêu thương chúng ta, để thi hành chương trình cứu độ trần thế trong niềm hiệp nhất trọn vẹn với ý Chúa Cha.

Maximô Hiển Tu đã viết: “Vì tình yêu vô biên đối với loài người, Chúa đã thực sự và do bản tính trở thành chính người mà Ngài yêu thương” (Massimo il Confessore, Ambiguorum liber: PG 91, 1084).

Ðó là sự hạ cố khôn tả của Thiên Chúa mà Thánh Phaolô cho chúng ta được chiêm ngưỡng qua bài ca nổi danh của Thư gửi giáo đoàn Philiphê, khi Thánh nhân trình bày cho chúng ta Chúa Kitô trong tác động từ bỏ thiên tính của Ngài, để mặc lấy thân phận nô lệ, và trở nên gống người phàm như chúng ta (cf Phil 2,6-8).

Ðó là hình ảnh một Thiên Chúa hiến thân trọn vẹn, ban chính mạng sống mình đến tận cùng cho đến độ chịu treo trên Thập Giá, nơi đó Ngài gánh tất cả tội lỗi của trần gian. Và đến nỗi, mặc dầu “vô tội” (Mt 27,4), là “người công chính” (1Pr 3,18), Ngài đã chấp nhận trở nên giống như người tội lỗi.

“Chúa Kitô đã chuộc chúng ta khỏi vị nguyền rủa vì lề luật – có nghĩa là khỏi tội lỗi – và vì chúng ta, Ngài trở nên kẻ bị nguyền rủa”, như thánh Phaolô đã quả quyết (Gl 3,13).

Ðó là sự trao đổi kỳ diệu giữa Thiên Chúa và loài người: “Sự trao đổi yêu thương” (commercium caritas) như thánh Augustinô đã nói; và là “sự trao đổi cứu độ” (commercium salutare) như lời Thánh Lêô Cả (Sermo 54,4: PL 54,321).

Chúa Giêsu bị bỏ rơi

“Thiên Chúa đã đối xử với Người như kẻ có tội”, đó là lời chúng ta đọc thấy trong thư thứ 2 của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (cf 2Cr 5,21).

Và chính trên Thánh Giá, Chúa Giêsu khi sắp lìa đời, đã hướng về Chúa Cha và kêu lên: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?” (Mc 15,34; Mt 27,46).

Tiếng kêu huyền nhiệm của một vị Thiên Chúa cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi. Trong những giờ phút tột đỉnh của cuộc đời, Chúa Giêsu bị loài người phản bội, các môn đệ không còn ở với Ngài nữa. Và giờ đây, Thiên Chúa, vì Thiên Chúa mà Ngài vẫn gọi là Cha, Abba, cũng thinh lặng. Chúa Con cảm thấy sự trống rỗng do sự vắng bóng của Cha, mất cảm giác về sự hiện diện của Cha. Xác tín chắc chắn mình không bao giờ bị cô độc (cf Ga 16,32), luôn luôn được Cha lắng nghe (cf Ga 11,42), và là dụng cụ tùy ý muốn Chúa Cha, nay nhường chỗ cho lời khẩn xin đầy lo âu.

Bấy giờ, điều sâu thẳm nhất của Ngài dường như trở nên lu mờ: đó là sự kết hiệp thân tình của Ngài với Cha, đến độ Ngài không còn cảm thấy là Con nữa. Ngài kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, Thiên Chúa của con”, chứ không gòn gọi Thiên Chúa là “Cha” nữa.

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đi sâu vào mầu nhiệm cao siêu ấy và viết lại như sau: “Ta có thể nói rằng những lời kêu cầu về tình trạng bị bỏ rơi này đã phát sinh do mối dây liên kết mật thiết giữa Chúa Con và Chúa Cha, và vì Chúa Cha đã “để cho sự gian ác của tất cả chúng ta” (Is 53,6) đổ xuống trên Chúa Con. Và theo như Thánh Phaolô sẽ nói về sau này: “Ðấng không hề biết tội, Thiên Chúa đã coi như Ngài là kẻ tội lỗi để mưu ích cho chúng ta” (2Cr 5,21). Cùng với gánh nặng kinh khủng đó, bao trùm “toàn thể” sự ác quay lưng lại với Thiên Chúa, chứa đựng trong tội lỗi, Chúa Kitô, do sự kết hiệp sâu xa trong tình con thảo với Cha, nhận thức được, một cách không thể diễn tả được theo kiểu loài người, sự đau khổ vì bị xa cách Chúa Cha, bị Cha từ bỏ, bị đoạn giao với Thiên Chúa” (Salvifici doloris, n.18: EV 9,650).

Thánh Gioan Thánh Giá cũng quả quyết rằng: “Ðó là tình trạng bị bỏ rơi thê thảm nhất mà Chúa Giêsu cảm nghiệm trong cuộc sống trần thế của Ngài (…). Theo thể thức ấy, Chúa Kitô bị hủy diệt và hầu như trở nên hư không”.

Tuy nhiên, Thánh nhân cũng nói thêm rằng: “Chính trong lúc cùng cực như thế, Chúa Kitô đã hoàn tất công trình kỳ diệu nhất, hơn cả những công trình Ngài đã thực hiện trên trời dưới đất trong cuộc sống trần thế đầy những phép lạ và kỳ công. Công trình kỳ diệu ấy chính là sự hòa giải và kết hiệp nhân loại với Thiên Chúa bằng ân thánh” (Gioan Thánh Giá, Salita del Monte Carmelo, 12, c.7, par.11, in: Opere, Rôma, 1979-4, pp.92-93).

Vì thế, tột đỉnh đau khổ mà Con Thiên Chúa phải chịu mở rộng trước mắt chúng ta tột đỉnh tình yêu Ngài dành cho chúng ta.

Trong một kinh nghiệm nồng nhiệt, Chiara Lubich đã nói:

“Ðể chúng con được hiệp nhất, Chúa đã chịu xa cách Chúa Cha.

Ðể chúng con được khôn ngoan, Chúa đã trở nên “dốt nát”.

Ðể chúng con được trở nên vô tội, Chúa đã trở thành người “tội lỗi”.

Ðể chúng con Hy Vọng, Chúa đã hầu như tuyệt vọng.

Ðể Thiên Chúa ở trong chúng con, Chúa đã cảm nghiệm tình trạng bị xa cách Thiên Chúa.

Ðể chúng con chiếm hữu Thiên Ðàng, Chúa đã cảm nghiệm Hỏa ngục.

Ðể chúng con được vui sống trên mặt đất này giữa hàng trăm anh chị em, Chúa đã chịu cảnh bị gạt bỏ khỏi trời đất, khỏi loài người và thiên nhiên.

Chúa là Thiên Chúa, là Thiên Chúa của con, là Thiên Chúa của tình yêu thương vô bến bờ của “chúng con” (C. Lubich, Perché fosse mostro il cielo, in: Città Nuova, 1975,3, p.35).

Hiệp nhất với Chúa Cha

Nhưng chúng ta được phép nghĩ rằng, trong giờ phút cùng cực Chúa Con cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi, cả Chúa Cha cũng sống cùng một “cuộc khổ nạn tình yêu” như Chúa Con (cf Origene, Homilia 6 in Ezechielem, 6: PG 13, 714).

Thực vậy, khi trao ban Con mình, nghĩa là để cho Người đi tới tận cùng sự xa cách Thiên Chúa do tội lỗi gây nên, cả Chúa Cha cũng hiệp thông một cách nào đó với tất cả sự đau khổ của nhân loại, tình yêu cao vời của Ngài đối với nhân loại cũng đưa Ngài tới chỗ đó.

Chúa Con, khi cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi, đã tái phó thác cho Cha bằng một tác động tình yêu vô biên: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Qua đó, Ngài chứng tỏ mình là một với Chúa Cha trong tình yêu thương; là một với Cha trong Thánh Thần tình yêu liên kết Cha Con với nhau.

Vì thế, một cách huyền nhiệm nhưng rất thực tế, kinh nghiệm bị xa cách Chúa cũng bao gồm kinh nghiệm về sự hiệp nhất với Chúa Cha cách rất trọn vẹn.

Như Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết một cách rất sâu xa: “Tình trạng Chúa Con bị Chúa Cha bỏ rơi trong Thánh Linh có chứa đựng trọn vẹn tình yêu mang lại ơn cứu độ: sự hiệp nhất hoàn toàn của Chúa Con với Chúa Cha trong Thánh Linh” (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, VII/1 (1985), p.918).

Trạng thái năng động (dinamica) kỳ diệu ấy của tình yêu Thiên Chúa, mọi đau khổ của chúng ta được đón nhận và biến đổi, mọi trống rỗng được lấp đầy và mọi tội lỗi được cứu chuộc. Tình trạng chúng ta bị bỏ rơi, bị xa cách Chúa, nay được vượt thắng.

Tôi hoàn tất trên thân xác tôi…

Có một mầu nhiệm sâu thẳm trong tiếng kêu của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, tiếng kêu ấy gồm tóm mọi tiếng kêu của nhân loại. Ðó là tiếng kêu sinh ra “tạo vật mới”, khi tái sinh chúng ta làm con Thiên Chúa.

Nhưng sự sinh ra ấy không thể hoàn thành mà không có chúng ta. Tình yêu tột độ của Chúa Giêsu thúc đẩy chúng ta sống mọi đau khổ như Ngài và trong Ngài, theo mức độ được ban cho chúng ta. Và chúng ta có thể làm được điều ấy.

Chúng ta có thể làm được, nếu biết nhìn nhận trong mọi đau khổ của bản thân và tha nhân một bóng dáng đau khổ vô biên của Chúa, một khía cạnh, một nét mặt của Ngài. Mỗi khi đau khổ xuất hiện, chúng ta không xua đuổi nó, nhưng tiếp nhận nó trong thâm tâm, như thể chúng ta đón nhận Chúa. Và rồi nếu quên mình đi, chúng ta đáp ứng đầy yêu thương những gì Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta trong giây phút hiện tại, nơi tha nhân mà Người đặt trước chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ cảm nghiệm rằng rất nhiều khi đau khổ tan biến như thể nhờ phép mầu và chỉ còn lại trong tâm hồn tình yêu mà thôi.

Khi nêu cao giá trị của mỗi đau khổ như thể chúng là một trong vô số khuôn mặt của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và khi kết hiệp những đau khổ ấy với đau khổ của Ngài, chúng ta bước vào chính trong sức năng động của đau khổ – yêu thương, tham dự vào ánh sáng, sức mạnh, an bình của Chúa, và tìm lại được trong chúng ta một sự hiện diện mới mẻ và sung mãn hơn của Thiên Chúa.

Tôi nhớ lại kinh nghiệm của tôi trong những năm đen tối của cảnh tù đày. Trong thẳm sâu những đau khổ của tôi, có một vài tâm tình mang lại cho tôi an bình trong tâm hồn: tôi không bao gờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi. Tôi tự nhủ: chính Thiên Chúa là Tình Thương sẽ xét xử tôi, chứ không phải thế gian, không phải Nhà nước, không phải guồng máy tuyên truyền. Tất cả sẽ qua đi, chỉ còn lại một mình Thiên Chúa là không thay đổi. Tôi ở trong tay Mẹ Maria. Tôi phải trung thành theo gương các Tiền Nhân Tử Ðạo của tôi, trung thành với giáo huấn tôi đã học từ mẹ hiền khi còn nhỏ.

… Vì nhiệm thể là Hội Thánh

Nhưng kết hiệp mọi đau khổ với khổ đau của Chúa Kitô trên Thánh Giá cũng có nghĩa là cùng với Ngài và trong Ngài trở nên dụng cụ cứu độ.

Ở đây tôi nghĩ đến chúng ta là các linh mục. Tại sao các tín hữu hành hương đến làng Ars, một lòng một ý, sát cánh nhau quanh bàn thờ trên đó Thánh Gioan Maria Vianey cử hành Thánh Lễ? Và tại sao các tín hữu hành hương tham dự Thánh Lễ của Cha Piô ở San Gioavanni Rotondo bị thu hút vì mầu nhiệm diễn ra trước mắt họ, đến độ họ không còn cảm thấy thời gan trôi qua nữa?

Vì họ thấy trước mắt một linh mục đồng hóa với Chúa Giêsu trên Thánh Giá đến độ có thể nói được như Thánh Phaolô: “Tôi bổ túc trong thân xác tôi những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, để mưu ích cho thân mình Ngài là Giáo Hội” (Cl 1,24)!

Trong mỗi Thánh Lễ, như cha sở họ Ars, như Cha Piô, chúng ta được bao quanh bởi toàn thế giới với tất cả những nơi đó “Thiên Chúa đang khóc”, với tất cả những tội lỗi và mọi đau khổ của nhân loại. Chúng ta nghe thấy điều đó bằng đôi tai của chúng ta, cảm thấy đau đớn bằng trái tim của chúng ta và hãy để cho Thánh Linh cầu nguyện trong chúng ta với “những tiếng rên xiết khôn tả” (cf Rm 8,26). Tất cả chúng ta có thể kết hiệp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang ngự trên bàn thờ. Và chúng ta có thể đồng hóa với Ngài. Như thế, trong đức tin, chúng ta có thể “đầy vui mừng cả khi Chúa tỏ lộ vinh quang của Ngài cho mọi người” (1Pr 4,13).

Chúa Kitô chịu đóng đinh là Hy Vọng của chúng ta.

“Bởi vì, nếu chúng ta chịu đau khổ nhiều với Chúa Kitô, chúng ta cũng sẽ được chứa chan niềm an vui của Ngài” (2Br 1,5).

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.