Lạy Mẹ Xin Yên Ủi Chúng Con

Nó càng thêm tuổi càng khó ngủ, cả đêm cứ thao thức suy tư về chuyện gia đình, chuyện thiên hạ, chuyện đạo, chuyện đời. Nó ao ước có được sức khoẻ như trước đây chừng 5 năm, để có thể biến đêm thành ngày và đổi kiến thức, thời gian cho bệnh viện thành tiền lương, để đem về nuôi vợ con và nuôi thân.

Càng suy nghĩ, nó càng buồn trước những bất lực của nhiều sự việc. Ngày mới đến Úc, vì nó biết được chút ít tiếng Anh, nên bọn chủ farm chửi dân mình khi hái trái Dâu quá ẩu (trái to thì hái, còn trái nhỏ bỏ lại), nó nghe thì tức, chứ bà con lại nhe răng cười. Đôi khi nó dịch và nhắc nhở bà con, họ còn nói lại: “Nó chửi mặc nó chứ, có tiền bỏ vào túi mình là được”.  Vì thế mà bà con cứ hái trái to, trái lớn bỏ vào khay, còn trái nhỏ bỏ lại, khiến cả giồng Dâu bị hư vì trái nhỏ chín rục không ai hái.

Bây giờ nó không còn suy nghĩ đến những chuyện đi hái Dâu, chuyện làm trong hãng xưởng, chuyện làm trong bệnh viện nữa nữa, nhưng mà nó lại suy nghĩ đến chuyện sống đạo giữa đời, trong hoàn cảnh của những người Dân Chúa đang sống tha phương nơi xứ lạ quê người. Lòng nó buồn rời rợi, nó chỉ biết chạy đến cùng Đức Mẹ và hát bài: Lạy mẹ xin yên ủi của Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên.

ÐK. Lạy Mẹ xin yên ủi chúng con luôn luôn. Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn. Vì đời con gieo rắc biết bao đau thương. Và tràn lan gai góc vướng trên con đường.

  1. Ớ Mẹ rất nhân từ. Mẹ quên sao được hôm xưa. Lời Mẹ hứa khi ở trên núi kia. Lúc mà Chúa sinh thì, Mẹ đứng âu sầu lặng yên. Là Mẹ chúng con Mẹ xin lĩnh quyền.

Hồi mới đến Úc, đa số các cụ lớn tuổi bị cú sốc của sự khác biệt về Văn hoá, phong tục, tập quán, thời trang, tiếng nói, thông tin, truyền hình, và nhất là sự giáo dục theo kiểu phương Tây. Còn đa số giới trẻ thì sung sướng, thích thú vì được tự do hội nhập với nếp sống mới.

Các cụ cầu mong cho có các linh mục người Việt để giảng lời Chúa bằng tiếng Việt, chứ đi lễ cha Tây thì chỉ đi cho tròn bổn phận, chứ có biết gì đâu mà gọi là tham dự thánh lễ. Phần phụng vụ Lời Chúa thì các cụ nghe người Tây đọc mà không hiểu họ đọc gì, giảng gì. Phần xưng tội thì cứ xưng bằng tiếng Việt, xong rồi đợi cha giải tội nói, thế là xưng tội xong.

Kiếm đỏ con mắt chưa thấy tiệm tạp hoá Á châu, chứ nói chi đến nhà hàng Việt Nam. Cũng nhờ thế mà số tiền đi chợ tốn rất ít. Khi có tiệm ăn ở vùng Richmond mọc lên, thì các gia đình trẻ thường rủ nhau cuối tuần đi ăn cho đỡ nhớ quê hương.Nhìn lại quãng thời gian trôi qua và nhìn lại giới trẻ ngày nay sống đạo. Nó chạnh lòng thương xót cho giới trẻ. Những em bé thiếu niên, thanh niên thời ấy đã bị bỏ quên việc học đạo và sống đạo từ ngay trong gia đình cho đến giáo xứ. Hồi ấy, những thanh niên còn độc thân thì lo tìm cách làm để có tiền, mua được chiếc xe để may ra kiếm được cô bồ ở trong các trung tâm tiếp nhận người mới đến Úc. Còn những người đã có gia đình đi theo thì lo đi làm để cố gắng mua được căn nhà để an cư. Hồi thập niên 1980. Người ta thường gặp gỡ nhau để may ra kiếm được việc làm, cho dù là làm chui hay làm thật. Làm chui thì đi rửa chén cho các nhà hàng Tàu, đi hái trái cây và lãnh tiền trợ cấp thất nghiệp. Còn những ai đi làm chính thức thì lo có thêm việc, thêm giờ để tiền lương khấm khá hơn.

Dân số người Việt tỵ nạn ngày càng gia tăng vào những năm 1984, tại các vùng như Footscray, Richmond, Springvale đã khiến cho các tiệm tạp hoá được hình thành. Các nơi gởi đồ như vải vóc, thuốc men về Việt Nam qua đường hàng không của nước Pháp.

Kể từ đó, những người “độc thân tại chỗ” như nó, đều tiết kiệm tối đa để gởi về cho bố mẹ, vợ con. Còn những người đã có gia đình đi vượt biên cùng, thì họ dành dụm để có tiền mặt mua nhà. Giá một căn nhà vào năm 1985 ở Footscray giá khoảng ba mươi ngàn đô cho căn nhà gỗ, nhà xây của người Ý bán với giá năm mươi ngàn.

Người dân tỵ nạn Úc càng ngày, càng gia tăng, cho nên giá nhà cũng tăng theo và cơ hội thì không có hoài. Chính vì thế mà người tỵ nạn có đầy đủ gia đình thì đã có nhà cửa ổn định chỉ sau vài năm đặt chân đến nước Úc. Còn những người như nó thì vẫn cứ ký ca, ký cóp cho đủ tiền mua cho đủ thùng quà 10 hay 15 ký lô để gởi về Việt Nam cho gia đình.

Nó cứ ngỡ rằng đời mình còn dài, sức khoẻ còn dai thì cứ gởi hết, dốc hết tìền này về cho cha mẹ, vợ con và chờ ngày tái ngộ.

Đấy là lý do thanh niên như nó thời ấy, không ăn chơi, không cờ bạc, không rượu chè, mà ngược lại chúng nó đã làm đến nỗi quên cả “cái thân mình” vẫn không có cái nhà để ở. Có ai thấu cho lòng nó hay không?

Cũng may cho nó, chứ vào thời ấy mà nó đã có “cái nhà, cái gia đình mới”, thì vợ con của nó đâu còn lý do nào để được đi sang Úc mà ở nữa. Bạn bè của nó cũng trong hoàn cảnh ấy, mà có nhiều người đã lỗi hẹn lời thề hôn nhân. Tình cảm con người thì lai láng, xác thịt thì nặng nề, linh hồn thì yếu đuối, cho nên chỉ trừ ra những người như nó phải giả dại làm ngơ, cộng thêm với sự ăn uống kham khổ do không biết nấu ăn, và phải tìm việc để làm cỡ 10 đến 14 giờ một ngày, thì may ra mới còn giữ được đời sống độc thân tại chỗ mà thôi.

Trí óc nó lại vang vẳng lời bài hát tiểu khúc số 2: “Khấn Mẹ giữ linh hồn và xác con hằng trinh trong. Lòng luôn hớn hở hát khen Nữ Vương. Quyết còn sống ngày nào thờ kính con Mẹ khoan dung. Và không quyến luyến thú vui thế trần”.

Nhờ ơn Chúa, Đức Mẹ gìn giữ nó bằng cách cho nó gặp gỡ được các ông bà đạo đức. Họ đã cầu nguyện cho nó, và nhờ thế nó mới có thể thắng được sự dữ cám dỗ. Bây giờ nhiều người trong số các cụ ấy đã không còn tại thế, và chắc đang hưởng nhan thánh Chúa trên nước thiên đàng. Họ là những người cha, người mẹ tinh thần của nó, và họ đã thương mến và chỉ bảo, an ủi cùng cầu nguyện cho nó có cuộc sống ngày hôm nay. Các bà như Bà cụ Năng, bà cụ Hiên, bà cụ Ích, bà Hoa, Cụ cố Đông, ông bà Lượng, ông bà Nhân, ông bà Liêm, ông bà Vy là những người mà nó luôn nhớ đến trong lời cầu nguyện của nó.

Tháng Năm là tháng kính Đức Mẹ, nó suy nghĩ về những ơn mà Đức Mẹ đã cứu chữa nó thoát khỏi những cơn sóng to, bão lớn trên đường vượt biển. Ghe sông, máy nhỏ, thế mà đã đưa được 35 người vượt biển đến đảo Paulo-Tioman của Mã Lai.

Về sau mỗi lần đi ra bờ biển, nó nhìn những cơn sóng nhấp nhô trên mặt nước thì nó mới thấu hiểu được rằng: chỉ có phép lạ thì chiếc ghe của nó, mới thoát khỏi bị nhận chìm giữa những cơn sóng đầu bạc cấp 7, cấp 6.

Lạy Mẹ Maria là mẹ của con, tại sao đời con có đôi lúc con cảm nhận thấy rằng con sống xa rời tình của mẹ. Vì con biết, ở đâu có mẹ thì có Chúa Thánh Thần, có Chúa Giêsu, có Chúa Cha. Con đã thấy lòng mình nguội lạnh và như không còn có Thiên Chúa ở cùng nữa. Hồn con bất an, lo sợ, buồn sầu, và đau khổ. Nhiều sự khó đến với con hơn, mặc dù con chẳng còn làm gì để gây nên sự tội.

Mỗi lần Cộng Đồng Công Giáo có tổ chức lễ hội, thì các hội đoàn khác rất đông hội viên, còn hội Đạo Binh Xanh của Cộng Đồng rất ít người đi tham dự. Mẹ ơi phải chăng bây giờ người ta ít sùng kính mẹ hơn trước. Người ta đi dự lễ hội thì đông, nhưng lại ít có ai chịu gia nhập vào hàng ngũ làm quân binh của mẹ. Người hội viên già đã ít, nhưng giới trẻ thì lại càng ít hơn. Phải chăng lời kêu gọi của mẹ khi hiện ra ở Fatima: “Hãy ăn năn, đền tội; Hãy tôn sùng Mẫu tâm; Hãy năng lần hạt Mân côi” đã bị mọi người lãng quên.

Anh chị em Legio chúng con hình như đang bị tục hoá, và xa rời những kỷ luật của người hội viên. Chúng con đi họp như để giữ đúng lệ, hơn là để cùng nhau cầu nguyện, bàn thảo những chương trình, và phúc trình những công việc làm để hoán cải các linh hồn, loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

Trong buổi họp, nhiều anh chị em đã không lắng nghe cẩn thận, khi anh chị em khác phúc trình công tác. Họ phúc trình sơ sài vì sợ lộ tên tuổi của người mình đi thăm viếng. Các uỷ viên không nghiên cứu mục đích, cách thế của công tác trước khi phân công cho hội viên. Có nhiều khi họ họp nhau đọc kinh mà lòng kém tôn kính sự hiện diện thật sự của mẹ và của Chúa trong phòng họp.

Mẹ ơi! Đời sống đạo của hội viên Legio hoạt động còn kém yếu như thế thì trách thế nào cho được khi giới trẻ xa rời Thiên Chúa. Những lo lắng của con chỉ là một phần nhỏ, mà con còn đau buồn chán nản như thế, thì làm sao con tưởng tượng được sự đau đớn của mẹ lớn lao biết chừng nào.

Hình thức thì rình rang mà nội tâm thì trống rỗng. Hơn thế nữa các bậc chủ chăn của các xứ đạo thì quá nhiều việc, đến nỗi chẵng có thì giờ đến họp với các hội đoàn hàng tuần. Việc quan trọng nhất của hội đoàn Legio Mariae là được các linh mục hướng dẫn hàng tuần, và để mọi hội viên được cộng tác với các ngài trong công việc chăm lo cho đời sống linh hồn của giáo dân.

Những vấn đề mà nó lo lắng và đau buồn hiện nay là giới trẻ thanh niên công giáo ít được các cha xứ đạo chăm sóc đời sống linh hồn của họ một cách tích cực, và thiết thực. Có những cộng đoàn có hơn chục hội đoàn, nhưng chưa bao giờ có hội đoàn  nào dành riêng cho giới thanh niên, thanh nữ tuổi khoảng từ 18 đến 30.

Sự thiếu hụt về cán bộ truyền giáo cho giới trẻ thật trầm trong trong giáo hội ngày nay, vì thế chúng ta cần nên có những hội đoàn để giúp cho các Thanh Thiếu Niên Công Giáo tiếp tục sống đức tin, sau khi họ đã hết tuổi thiếu nhi. Bao gồm các sự hiểu biết về: giáo lý, luân lý, tín lý và giáo luật, để họ hiểu biết cách sống đạo cho đúng. Và để giúp cho các thanh niên sau khi chọn đời sống gia đình biết cách sống đạo và trung thành với lời hứa hôn nhân. Cũng như giúp cho các bạn trẻ chọn đời sống độc thân, biết hiến dâng thời giờ phục vụ cho Thiên Chúa và Giáo Hội.

Ai cũng biết tre già thì măng mọc nhưng chúng ta không chăm bón cho cây tre thì lấy đâu ra có măng để mọc. Những việc trọng đại như thế thì không thể quy trách nhiệm riêng cho một vị linh mục, mà phải là trách nhiệm của tất cả các vị chủ chăn đang coi sóc các cộng đoàn trên toàn cõi địa cầu, và là bổn phận chung của mọi người trong giáo hội. Mặt khác, nếu chúng ta chỉ chú trọng lo tìm kiếm con chiên ngoài đàn, mà không chịu chăm sóc cho những con chiên trong đàn, thì e có ngày sự đau khổ sẽ ập đến từng linh hồn của chúng ta. Lúc đó có người lại đổ thừa cho Chúa, cho Đức Mẹ đã bỏ rơi chúng ta.

Nếu mọi người cùng nhau chiến đấu với tham vọng xấu là tội lỗi, để biết ao ước, và quyết tâm làm điều lành, biết chăm sóc người già trong các viện dưỡng lão, kẻ yếu đau bệnh tật tại nhà, những trẻ em bị bỏ rơi nơi cô nhi, những thanh thiếu niên bỏ nhà đi hoang, lang thang ngoài hè phố hay trong các trại giam; Nếu mọi người biết bỏ cái tôi cùng nhau gánh vác phần rỗi của anh em, thì ma quỷ còn đâu chỗ đứng trên mặt đất, hay trong lòng con người ta.

Danh vọng ở đời là cơn cám dỗ mạnh nhất cho thế gian ngày hôm nay. Nhất là ở nơi các vị thủ lĩnh. Họ đã sống khiêm nhường biết bao khi còn hàn vi, thủa còn là học trò. Họ làm việc siêng năng biết bao khi chưa được người đời xưng tụng. Thế nhưng khi họ đã được trao quyền thì hách dịch, tự kiêu, ích kỷ và mong muốn được nhiều danh vọng hơn nữa. Họ đã quên đi Lời Chúa nói: “Kẻ làm lớn trong anh em phải là kẻ phục vụ cho anh em.”

Nếu là kẻ phục vụ thì phải nhớ thêm câu: “Đầy tớ thì không trọng bằng người chủ”. Vậy thì lấy quyền gì mà ta kiêu căng và hách dịch trong công việc giáo dục và phục vụ cho tha nhân.

Trong cộng đồng Công Giáo, số anh chị em giáo dân được đào tạo để đi dậy giáo lý tân tòng còn chưa có hay chỉ có một vài người cho cả Cộng đồng Công Giáo người Việt, thì làm sao họ giúp sức cho tất cả các vị chủ chăn thực hiện việc truyền giáo cho nổi.

Số anh chị em đi thăm viếng các gia đình cũng giới hạn vì phương tiện di chuyển, vì bận bịu công việc của gia đình họ, thì làm sao các linh mục hiểu biết hết tình hình sống đạo của giáo dân, để giúp đỡ họ kịp thời.

Truyền giáo không phải chỉ là việc rửa tội cho họ không thôi, mà còn phải làm gương sống cho họ noi, và phải hướng dẫn về Lời Chúa, cách thức sống phụng vụ, để họ trở nên chứng nhân của Chúa đến muôn đời.

Thử hỏi trong anh chị em Legio, đã có được mấy người đào tạo để đảm đang công việc ấy nhỉ. Các cuộc đại hội của Legio hàng năm, hay những khoá học tập đã mấy lần đưa ra chương trình huấn luyện đào tạo cho anh chị em trở thành các giáo lý viên, hoặc hiểu biết về cách thức đi thăm viếng, cách thức đối ứng với các vấn nạn của xã hội ảnh hưởng đến việc sống đạo của giáo dân.

Các cụ già đã học hỏi đời sống đức tin theo kiểu giáo lý từ thời 70 năm về trước, hiện có còn áp dụng thích hợp cho môi trường sống khoa học ngày nay nữa hay không?

Còn ai là người có phương tiện, thời gian cho bằng chính giới trẻ. Ai là người cứu rỗi họ, nếu không phải là chính họ và những người đồng trang lứa với họ. Ai biết rõ nhu cầu của họ bằng họ và cha mẹ của họ. Chính vì thế mà sự chăm sóc cho linh hồn của mọi người là công việc chính yếu của giáo dân. Gồm những người đã  được hướng dẫn bởi giáo quyền là các Giám mục, linh mục địa phương. Vì đây là trọng trách quan trọng hàng đầu của giáo phận song song với các mục vụ giáo dân khác.

Trước hết là chúng ta phải cùng chung vai, sát cánh với các linh mục trong việc đi tìm kiếm các thanh thiếu niên trong xứ đạo của mình. Lập sổ gia đình công giáo. Lập danh sách các thanh niên, thanh nữ trong từng giáo khu, nghề nghiệp của họ, trình độ học vấn của họ. Cũng nên tìm hiểu xem họ đã tham dự được bao nhiêu khoá về: giáo lý, kinh thánh, và về công tác tông đồ. Họ có đi dự lễ thường xuyên hay không, xưng tội lần cuối là cách nay bao lâu rồi. Muốn cứu rỗi linh hồn họ, chúng ta phải học hỏi, để hiểu biết về họ. Chúng ta sẽ ngạc nhiên vì rất nhiều xứ đạo chẳng có danh sách của thanh thiếu niên một cách rõ ràng, đầy đủ chi tiết. Chính vì thế mà chúng ta không thể nào gặp gỡ được họ để đến thăm, mời đi dự lễ, đi xưng tội hay mời đi tham dự các buổi tĩnh tâm.

Các thanh niên cần được các cha xứ dạy dỗ, bảo ban qua những hình thức hội đoàn, các thánh lễ dành riêng cho giới trẻ, và phải tích cực giúp đỡ họ đi làm công tác tông đồ giáo dân. Có được như thế, họ mới biết được đạo Công giáo là đạo ‘Tình Yêu’. Thiên Chúa đã đem tình thương đến cho mọi người, nhưng để cứu chuộc nhân loại, chúng ta cũng phải hợp tác với Người trong công việc cứu rỗi ấy.

Nó lại tiếp tục hát tiểu khúc 3: “Ðến giờ chết xin Mẹ ngự đến bên giường khuyên con. Và ban xuống cho chúng con những ơn. Ước gì chúng con được hầu sát ngay cạnh Mẹ liên. Từ nay hết lo lắng hết chán phiền.” 

Một vấn đề khác nữa đã làm cho trí óc nó suy tư và lo buồn đó là “Ly Dị”.

Ly dị hiện nay không còn chỉ xảy ra ở nơi các gia đình trẻ, mà nó còn xảy ra ở trong các gia đình của các bậc làm ông, làm bà nữa. Ôi đau đớn thay cho con dân của Chúa. Nguyên nhân thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến ly dị, nhưng tựu trung là con người ta đã không sống theo lời hứa của hôn nhân và của Lời Chúa, Đức tin vào Chúa không còn, và nhất là họ nghe theo nhiều lời khuyên của kẻ không có đức tin: Thày bói, bạn bè xấu hay những người không thuộc lãnh vực tâm lý chuyên môn, hay không hiểu biết nguyên nhân sai phạm.

Ở cái thời của nó, tuy cuộc sống khó nghèo nhưng chẳng bao giờ có gia đình nào trong giáo xứ ly dị cả. Các cụ lấy nhau theo kiểu cha mẹ đàng trai nhờ người làm mai mối, thế rồi họ nên duyên thành vợ thành chồng, và họ sống với nhau cho đến tóc bạc răng rụng mà vẫn còn thương, còn yêu. Có lẽ nhờ sự dạy dỗ của các cha xứ, của tập tục của làng, và của gia pháp. Cũng có lẽ nhờ sự tìm hiểu kỹ lưỡng về thân thế của giòng tộc… Thời của nó đã có chút văn minh hơn, lấy vợ từ tuổi đôi mươi, và nó không phải lấy gái trong làng, nhưng vợ nó ở cùng xứ đạo. Ngày nay các thanh niên nam nữ lập gia đình vào tuổi 28 đến 30, cái tuổi mà chúng cho là đã suy nghĩ chín chắn. Ấy thế mà cảnh ly dị sau ít năm cưới nhau vẫn cứ xẩy ra ngày càng nhiều. Tại sao vậy? chỉ có họ biết và Chúa biết, vì ai cũng cho mình là đúng cả, chẳng ai cho là mình sai.

Xét cho cùng thì tại anh, tại ả, và tại cả hai bên. Tại cả cái thời buổi sống, tại cả cái nước mà chúng ta đang sống, và nhất là tại chúng ta đã mất ơn sống của Chúa, cho nên ma quỷ đã ngự trị vào tâm, vào trí, vào linh hồn của chúng ta. Cứ mỗi khi có người phạm tội ly dị thì quỷ lại bày tiệc ăn mừng chiến thắng, còn Chúa Giêsu lại ôm mặt khóc vì xót thương cho linh hồn chúng ta.

Những hệ luỵ đi kèm theo sự kiện ly dị là gia đình tan vỡ, tình yêu hôn nhân bị thay thế bằng đau thương, mất mát, những con trẻ vô tội bị thiếu thốn tình mẹ cha, và bậc làm cha mẹ thì buồn rầu đến nỗi bỏ xứ đi xa cho tránh miệng đời. Phần lớn, những tình trạng ly dị xảy ra trong những gia đình có học thức, có tiền tài, danh vọng thế mới lạ chứ. Thật đúng là thuyền to, thì sóng lớn. Nếu không nhờ ơn Chúa thì nào ai đứng vững được ru. Chính vì thế có nhiều cụ già đi lễ cả ngày, từ sáng sớm lò mò lên xe tram đi đến nhà thờ Francis ở city để dự lễ, xong rồi các cụ lại đến nhà thờ St. Brendan, chiều lại đi đến Trung Tâm Vinh Sơn Liêm dự lễ, hỏi ra mới biết lý do là cụ đi nhiều lễ để mong Chúa nhận lời họ cầu nguyện, thay cho con cái của họ, gia đình chúng đang gặp sự khó. Lòng mẹ cha bao la đến thế là cùng.

Nó nghĩ chuyện đời, chuyện nhà rồi đành chép miệng buông câu nói của cổ nhân: “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”.

Lòng nó bỗng dưng thổn thức, dòng suối lệ chảy dài trên mặt của nó. Nó nhìn lên tượng Đức Mẹ LaVang và tự trong tâm trí nó vang lên lời bài hát: “Xin Mẹ nghe tiếng con khẩn cầu”, của một cụ đã dậy nó 45 năm về trước:

“Xin Mẹ nghe tiếng con khẩn cầu những khi âu sầu đau đớn. Xin Mẹ xuống muôn vàn sức cho hồn con an vui tháng ngày, giữa nơi lưu đày, nếu không có Mẹ thì đời con thành đời lầm than sầu khổ. Nếu không có Mẹ giữa nơi lưu đày, ngày gian nan con biết thở than với ai? Trần gian hỡi có ai buồn sầu, xa quê hương có ai âu sầu ? Mau chạy lại đây, bên Mẹ nhân thay, linh hồn ta sẽ sống đời vui say. Hôm nay con đến đây xin vì sự thương khó, Mẹ nỉ non bên Fatima dưới cây sồi. Xin thương xem những khi linh hồn con đau khổ, cho con luôn vui sống những ngày lưu đầy còn gian nan.”

Nhân dịp tháng hoa tháng kính Mẹ, con xin dâng lên Mẹ bó hoa thiêng liêng của đời con, bó hoa bao gồm những suy tư, lo lắng, và hy sinh của con về đời sống đạo của gia đình con, Cộng Đoàn của con.

Xin Mẹ thánh hoá của lễ con dâng, và nài xin Thiên Chúa ban thêm ơn thánh, để giúp cho chúng con sống xứng đáng làm con cái của Chúa. Amen.

Thụy Miên

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.