Lên trời về thăm lại quê hương

Thuỵ Miên.

Nếu không có lý do chính đáng và quan trọng, thì chắc không có ai muốn trở lại những nơi đã mà mình đã phải chạy trốn, những nơi mà mình phải đổi tất cả những vốn liếng để tẩu thoát. Cho dù thời gian đã trôi qua sau nhiều năm tháng, và con người cũng như quanh cảnh đã đổi thay. Tôi cũng thế, vì bỗng dưng thời gian gần đây, tôi hay nghĩ về người bố già của tôi đang còn sống ở quê nhà. Ông cụ đã gần tuổi 90, nhưng tóc vẫn chưa bạc hẳn như tôi. Điếc và ăn ít thì hẳn nhiên là bệnh của các người già. Tiền trợ cấp cho cụ thì tôi không bao giờ thiếu, nhưng tôi không gặp mặt cụ đã lâu, cho nên tôi quyết định về thăm bố một chuyến, vì biết đâu đây là lần chót.

Bị bại liệt trên máy bay

Quê hương xa nghìn trùng, cách biển nước bao la. Đành mượn cánh chim sắt đưa mình bay lên cao và vượt lên trên những từng mây, trải qua nhiều cơn gió, để đưa tôi về vùng trời đất của quê hương tôi. Chiếc máy bay của hãng Jesta rời sân bay Melbourne trễ hơn giờ hẹn 1 giờ đồng hồ, khiến cho tôi mệt mỏi ngồi chờ trong máy bay. Điều mà tôi sợ nhất trước khi đi là bị bệnh máu tắc nghẽn trong tĩnh mạch, khiến cho tôi bị liệt chân vì ngồi lâu trên máy bay. Ở đời cái mà mình lo sợ lại thường hay xảy ra. Khi máy bay đã bay qua vùng trời Darwin, tôi bỗng dưng thấy đau buốt chân bên trái. Cái đau xuất hiện ở bên hông của đùi bên chân trái, rồi lan tới bắp đùi và thế là tôi hết cục cựa, nhúc nhích. Cái đau của sự tắc nghẽn mạch máu khiến tôi càng lo sợ hơn, lúc này tôi nhớ đến túi thuốc trong đó có các loại thuốc chống đông máu như: Aspirin, Plavix. Nhưng, trời ơi tìm mãi trong túi xách tay mà không thấy, mãi về sau tôi mới nhớ ra là bỏ váo vali hành lý ký gửi mất rồi, thật là tôi có chút tuổi cho nên hoá ra lú lẫn. Cũng còn may, tôi nhanh trí gọi nhân viên xin hai viên thuốc Panadol để uống cho đỡ đau. Bia rượu cũng là thuốc

Tôi chợt nhớ lại những lần uống bia, rượu thì mặt tôi bị đỏ, tim đập thình thịch, các tĩnh mạch trên hai bàn tay của tôi bị nở và phình to ra giống như các rễ cây trương nước. Tôi bèn nói với chiêu đãi viên hàng không bán cho tôi một chai bia, để tôi uống với hai viên thuốc Panadol. Quả nhiên là tôi đoán đúng, vì khi tôi nốc một hơi hết chai bia nhỏ, thì tôi co ruỗi chân trái được ngay, và cơn đau nhức cũng dần dần biến mất. Ôi! Tạ ơn Chúa, thật là phép lạ và cũng là phương pháp tuyệt vời cho mọi người. Bia, rượu cũng là thuốc tốt chữa bệnh, xin các cụ ông, cụ bà hãy tập uống hàng ngày, để phòng ngừa bệnh máu nghẽn ứ trong tĩnh mạch hay trong động mạch, và nhất là khi phải ngồi trên máy bay đi du lịch.

Quê tôi hai miền Nam và Bắc

Tôi được sinh ra ở Hưng Yên, nhưng tôi đã được theo cha mẹ di cư vào miền Nam từ cuối năm 1954, sống và lớn lên thuộc vùng trời Biên Hoà. Ở nơi đây có những trường học, những nhà thờ mà tôi đã được dạy dỗ về học vấn cũng như giáo lý. Tôi đã trở thành anh trai “Biên Hoà” của nhiều em gái trong quá khứ. Những kỷ niệm đẹp và xen lẫn những vui buồn lẫn lộn trong đời tôi. Con sông Đồng Nai đã tắm mát cho tôi vào những buổi trưa hè nóng bức. Chiếc cầu Ghềnh Biên hoà, đã giúp tôi đi qua sông Đồng Nai, để đến được Cù lao Phố. Một cù lao có cây cối xanh tươi, có đình làng, có bà bán rượu nếp than, và bạn bè của tôi thời còn học bậc Trung học tại hai trường Khiết Tâm và Ngô Quyền.

Từ trên cao của vùng trời Việt Nam, tôi nhìn xuống phía dưới đất, tôi đã thấy nhiều hình ảnh của nhà cửa, phố xá của các tỉnh thành. Những hình ảnh ấy hình như vẫn giống như ngày nào đó đã cách đây hơn 40 năm. Những mảnh ruộng chạy dài được bao bọc bởi những nhánh sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu. Thỉnh thoảng màu xanh của bức tranh quê hương tôi lại được tô điểm bởi vài ngọn núi, ngọn đồi. Người ta bảo nước tôi thuộc về những nước đang phát triển về công nghiệp, hay nói rõ hơn nước Việt Nam của tôi là một nước quá chậm phát triển so với các nước Lào, Cam – Bốt, Mã Lai, Nam Dương.

Ruồi là người bạn dân

Đã 43 năm trôi qua, mà đường giao thông trong nước vẫn còn thiếu, vẫn còn nhỏ bé và cũ kỹ như ngày xa xưa. Những khu chợ cũ vẫn còn thô sơ và nhỏ bé. Những người bán hàng vẫn còn ngồi chồm hổm ở ngay giữa các lối đi. Những con ruồi vẫn tự do tung đôi cánh bay đi từ khu đổ rác đến từng hàng thịt, hàng cá, hàng rau, hàng đậu hũ, hàng bán nước trà sữa, và các quán ăn ở trong chợ.

Ruồi vẫn là người bạn thân nhất của mọi người dân tôi đang có mặt trong chợ, dù rằng chẳng có ai muốn kết thân với nó, nhưng cũng không có nỡ ra tay đập ruồi. Ruồi cũng xuất hiện tại các bệnh viện cho dù nhà thương có ra lệnh giữ gìn vệ sinh đến thế nào đi chăng nữa, thì những đám khạc nhổ của bệnh nhân xuống đường đi, cũng là những món hấp dẫn nhất đối với các con ruồi, khiến chúng bu lại đen kịt giống như chúng đã gặp được mẩu thức ăn thừa. Bệnh nhân đến với các bệnh viện thì đông y như đi xem lễ hội lớn, đủ mọi lứa tuổi. Tôi thầm nghĩ rằng giá mà phòng mạch của tôi có được con số bệnh nhân giống như thế nhỉ, thì kể là thành công to. Tôi cố gắng đi theo người bệnh từ khu cấp cứu, đến khu Nội, khu Ngoại khoa của Bệnh Viện Gia Định. Nơi nào cũng chật ních người. Có lẽ đông người nhất là khu bán thuốc của các Dược sĩ. Bệnh nhân đi mua thuốc và ngồi chờ đến phiên mình nhận và trả tiền mua thuốc, lúc nào cũng đông. Kẻ đứng người ngồi, đông đến nỗi nhân viên của bệnh viện phải dùng loa phát thanh: “Xin mọi người lưu ý và đề phòng kẻo bị móc túi”.

Có lẽ người bệnh quá nhiều, nên khó giữ gìn sạch sẽ, đã khiến cho những bức tường bên ngoài của bệnh viện cũng phải mặc chiếc áo cũ kỹ, màu sơn loang lổ bởi rêu mọc ở những bức tường thấm nước. Tôi đã thấm mệt bởi những mùi ẩm mốc, những mùi xú uế tạo ra bởi những thùng rác chưa được thu dọn, và vì thế cho nên, tôi vội từ giã bệnh viện với một nỗi lòng thương cảm cho dân tôi. Cảnh bệnh nhân chen chúc, chờ đợi còn gấp nhiều lần hơn nữa khi tôi đến với Bệnh Viện Ung Bướu.

Cái nóng bức không bao giờ thiếu

Trời đày dân tôi đã quá lâu rồi sao vẫn chưa chịu đổi thay. Dân miền Nam của chúng tôi đã phải chịu cái khí hậu nóng từ muôn đời cho đến nay. Dân tôi vẫn chưa được hưởng cái nắng ấm của người dân xứ lạnh. Tôi bắt chuyện với người chạy xe ôm về thời tiết: “Cái nóng ở quê mình sao mà nóng hỗn quá sức, nắng đen da thì hổng nói, nhưng cái nóng làm cho người ta bị đổ mồ hôi, ngứa ngáy, và khó chịu mỗi khi phải diện đồ đi ăn nói. Cũng vì thời tiết làm cho ra mồ hôi, cho nên quần áo của mọi người dễ bị bụi bám làm dơ bẩn, và mùi mồ hôi làm cho mọi người thấy khó chịu”.

Anh xe ôm cười nhe hàm răng còn xót lại 2 chiếc cửa, trả lời tôi: “Thia lia quen chậu mà anh. Mọi người đều chảy mồ hôi như thế, ngửi riết rồi cũng quen, có chi lạ đâu mà anh phải than trời”.

Anh ta tiếp tục câu chuyện với tôi bằng lời trách đời: “Chỉ trách trời sao lại sinh ra lắm kẻ có của ăn không hết, còn nhiều người thì tìm không ra”.

Tôi chợt nghĩ và muốn nói với anh rằng: Xin đừng trách trời, nhưng trước hết anh hãy trách kẻ cầm quyền lãnh đạo quốc gia không biết lo cho dân con đất Việt, một cách công bằng. Hay là lo cho người dân về an sinh như lời họ đã mị dân rằng san sẻ tài sản đồng đều cho mọi người. Hoặc họ thực hiện đúng như lời Chúa phán: “Hạ kẻ quyền hành xuống khỏi vị cao, và nâng kẻ hèn mọn lên”.

Kế đó anh hãy trách chính anh, vì anh quá thật thà, tin vào lời hứa của họ, mà anh không dám vùng lên để phản đối, khi đã biết mình bị lừa.

Đường phố không bao giờ thiếu mùi hôi thối

Tôi im lặng nhìn những người đi bộ trên vỉa hè đường phố. Họ đi cách vội vã, đầu đội nón để che nắng, miệng mũi bịt khẩu trang chắn bụi. Tôi tấm tắc khen họ tài giỏi, vì họ đã tự bịt miệng, mũi như thế mà vẫn thở được. Âu cũng là vì họ đã thành thói quen. Bị ai đó bịt miệng thì mới sợ chứ tự mình bịt thì cũng còn chừa chỗ để mà thở. Họ ngăn không cho mùi dơ bẩn đi vào bên trong đường thở của mình, thì mới hy vọng tuổi thọ của mình được kéo dài. Hơn thế nữa, họ cho rằng đường xá thì phải có mùi chứ sao lại không được: mùi hôi của rác vệ đường, mùi khói của xe máy, mùi thơm của cây hoa “Nguyệt Tuế” mà người ta trồng ở các công viên gần lề đường. Các rác thải được người ta cho xe rác đổ thành từng đống to, và lựa rác ngay trên đường cái, thì hỏi sao mà người đi bộ như tôi chẳng được hưởng mùi hôi của đường phố. Tại tôi không chịu đeo khẩu trang đó mà thôi.

Hỏi thăm đường

Tôi và anh xe ôm còn đang nói chuyện, thì bỗng có một chị đi bộ đến hỏi thăm đường tới Bệnh viện Ung Bướu. Anh xe ôm vì biết đoạn đường quá ngắn, nên nói và dùng tay chỉ chỗ cho chị: “Đi tới chỗ đèn đỏ đó, quẹo phải chừng 100 mét là thấy cái bảng Bệnh viện Ung Bướu”.

À! thì ra anh này nghèo chứ lòng vẫn còn đầy tình thương người. Anh không gian trá như lời đồn đãi về các người chạy xe Taxi, rằng: “Chúng chạy vòng vòng để tính thêm tiền”. Nghĩ cho cùng thì anh xe ôm này đoán chị ta là người miền quê lên thành phố thăm người than bị bệnh, hay biết đâu chính chị ta là người bị bệnh, nên chạnh lòng thương xót và chỉ đường.

Ở đất Sài Gòn này, không có người chỉ đường thì dễ gì mà tìm thấy nơi mình muốn tới. Ngoại trừ các ông chạy xe ôm, hay các chú lái Taxi thì quá rành đường vì nghề nghiệp.

Cũng may bị vợ bỏ sớm

Tôi từ giã anh xe ôm, để tiếp tục đi bộ dọc theo lề đường về hướng ‘Hàng Xanh’. Khi tôi dừng chân để tránh cái nắng tại một góc đường có người vá ruột xe gắn máy, thì tình cờ tôi lại được nghe một câu chuyện kể về cuộc sống của người dân thành phố. Cuộc đối thoại giữa người vá ruột xe và người khách hàng như sau:

  • Cũng may cho chú mày, bị con vợ nó bỏ bây giờ, chứ đợi mày già rồi nó mới bỏ thì chỉ có nước đi ăn mày.
  • Nhưng nó đi mang theo hết tiền bạc, tôi biết làm gì để mà sống?
  • Trời đất, mày nói thế mà nghe được hay sao? Một ngày mày ăn 3 bữa, mỗi bữa một ổ bánh mì không, tốn hết 3 ngàn, ba bữa ăn hết 3 ổ, nhân với 3 ngàn là thành 9 ngàn. Ăn xong rồi tìm vòi nước phông- tên mà uống cho lo bụng thế là sống qua một ngày.
  • Nhưng mà tôi biết làm gì để sống?
  • Thằng này nói nghe lạ phải không anh hai, anh ta quay qua tôi như muốn phân bua lời nói của mình, rồi nói tiếp:
  • Mày còn chiếc xe gắn máy, chạy rong các đường phố, để thu lượm những khung sắt hư, vụn rồi đem ra vựa ve chai mà bán mà lấy tiền mà sống.
  • Mày coi lại mày đi, chắc tại lười quá, nên con vợ mày nó mới bỏ. Chứ như tao đây làm cái nghề vá ruột xe đạp, xe gắn máy mà còn đủ tiền nuôi vợ, nuôi con.
  • Chàng thanh niên khách hàng im lặng. Ông thợ vá ruột xe nói tiếp:
  • Nghề nào cũng là phải chịu cực khổ mới mong có đủ ăn để mà sống. Chứ bây giờ chú em muốn ăn sẵn, nằm ngửa thì trời cũng bó tay luôn.

Tôi tiếp tục bước đi trên hè phố, trời nắng chang chang làm tôi khát nước, nhìn giá tiền một ly nước trái cây, chủ quán đề 10 ngàn đồng VN/ly. Tôi suy nghĩ: 3 ổ bánh mì không giá chỉ có 9 ngàn. Trời ơi sao mà mắc đến thế! Tôi đành đi bộ thêm 30 phút để về đến nhà anh bạn cho tôi ở nhờ. Tôi nhủ thầm với tôi: Ráng lên, chỉ còn 30 phút đi bộ nữa, thì tôi tha hồ mà uống nước vòi phông tên cho đã khát. Tôi gật gù đồng ý bước đi trong cái nắng của khung trời miền Nam thân yêu.

Miền Tây của đất nước tôi

Đẹp lắm ai ơi, cái vẻ đẹp vẫn hồn nhiên và trong sáng như 50 năm về trước. Cái vẻ đẹp của thiên nhiên đã tô son cho vẻ đẹp của con người. Tôi viết như thế, vì người dân ở đây sống trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, dù rằng thời gian đã trôi qua 43 năm. Những lời nói thật thà, đầy tình cảm của người miền Tây Việt Nam như: Mỹ Tho, Bến Tre, Cai Lạy, Trà Vinh, Sa Đéc, Cần Thơ, Cái Răng, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên khiến tôi tạ ơn Chúa vì được tiếp xúc với đồng bào và được lắng nghe tâm sự cũng như ước nguyện của họ. Cuộc sống của họ tuy nghèo nhưng không đến nỗi quá nghèo vì còn có đồng ruộng của cha ông để lại, có lúa có gạo, có sông nước, ao hồ, có cá, cua, tôm đồng. Tuy chân lấm tay bùn, nhưng cuộc sống rất hiếu khách, con cái học hành và tốt nghiệp đại học. So sánh với các em học sinh miền Đông, thì số em vào được bậc đại học ở miền Tây nhiều hơn. Nói như thế, thì biết cuộc sống của người dân miền Tây sung túc và cao hơn dân chúng sinh sống ở miền Biên Hoà, Tam Hiệp của chúng tôi.

Nhìn gương mặt của các bà, các cô miền Tây khiến tôi mê say vẻ đẹp nết na, hiền hoà. Từ tiếng nói nhỏ nhẹ, sự lễ phép thưa gởi, gia giáo trong gia đình cho đến việc đối thoại ở ngoài đường. Tôi đã so sánh họ với các cô em ruột của tôi, thì thấy rằng trái ngược và khác nhau thật xa. Chẳng vậy mà vợ tôi phải chịu đựng cách thiệt thòi trong cảnh: “chị dâu, em chồng”.

Những nhánh sông Tiền, sông Hậu, và cộng thêm hệ thống kênh đào đã làm tăng vẻ đẹp của miền Tây, tăng thêm sự trù phú cho những cánh đồng rộng bao la, bát ngát. Chỉ tiếc một điều là dân chúng chưa may mắn, có được một người lãnh đạo có thực tài. Để biến miền Tây Việt Nam trở thành một vùng miền giàu có, và nâng cao mức sống của người dân ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới.

Có người cho rằng tại dân mình nghèo. Vâng đúng thế, nhưng vẫn có nhiều người giàu có, quyền thế, để biến (Vùng quân khu IV ngày xưa) miền Tây Việt Nam, thành một vùng phát triển hơn, hay ít nhất là ngang hàng với quốc gia lân cận như Singapore.

Nhưng than ôi! Chẳng ai được phép làm, hay có thực hiện chỉ là những công trình nho nhỏ mà thôi. Đa số đất đai đều bỏ mặc cho trời nuôi dưỡng, cho sâu bọ tung hoành. Đường xá giao thông thì quá ít và chật hẹp, việc bảo trì phó mặc cho vài ông, vài bà lo mà bảo trì với cái xẻng, cái cuốc thô sơ. Có ông bộ trưởng giao thông nào chịu đầu tư mua máy móc tối tân, về để kiến thiết quốc gia đâu, bởi thế những con đường làng đành chịu mưa nắng, tạo thành những ổ gà, và chúng đã gây ra nhiều tai nạn cướp đi tính mạng của người dân.

Khí hậu nước Việt Nam khắc nghiệt, lúc thì nắng hạn, khi thì ngập lụt. Phong ba, bão tố hàng năm, đã gây nên nhiều thiệt hại cho người dân hiền lành. Họ chẳng mong gì hơn là có được ông lãnh đạo tỉnh tốt lành, đủ tài sức để chăm lo cho người dân có đủ cơm ăn, áo mặc, đê điều vững mạnh đủ sức chống bão, và hệ thống thoát nước nhanh để nhà cửa khỏi bị ngập lụt. Thế nhưng, các ông bà Tiến sĩ giấy chỉ biết lắc đầu bó tay.

Tuy miền Tây nước tôi còn phải chịu trăm ngàn cảnh thiếu thốn, nhưng nhìn chung vẫn là nơi đáng sống, và cần được sự trợ giúp để phát triển nhiều hơn nữa. Hy vọng năm mười năm sau, các con cháu thuộc thế hệ tương lai, biết cùng nhau nghiên cứu và tổ chức xây dựng cho miền Tây nước Việt Nam trở nên vùng đất trù phú, và có nền kinh tế giàu mạnh ngang với các cường quốc trên thế giới.

Muốn thế, các bạn trẻ hãy cố gắng học hỏi tất cả những ngành nghề mà các quốc gia tự do đang phát triển như về: y tế, khoa học, không gian và vũ trụ, nông nghiệp, công nghiệp, kiến trúc, và kỹ thuật.

Các bạn hãy quyết tâm học hành cho thật giỏi, để sau khi tốt nghiệp về xây dựng cho nước Việt nam sớm được hưởng nhờ. Các bạn hãy sống cho xứng đáng là người con dân đất Việt, dù bạn đang ở khắp năm châu, chúng ta không nên để cho bất cứ một dân tộc nào, có thể khinh bỉ chúng ta về những thói hư, tật xấu. Các bạn trẻ hãy đốt lên ngọn lửa hồng, nêu gương sáng cho thế giới ngắm chung.

Quê hương thật của tôi ở đâu

Tôi mong muốn đi thăm quê hương thật của tôi, nhưng lại sợ phải nằm mà đi. Không phải lên trời bằng máy bay, nhưng ngược lại xác của tôi phải được chôn sâu dưới lòng đất, thì hồn tôi mới được về quê hương thật. Tôi không biết ở quê hương ấy có những gì, cảnh vật ra sao, khí hậu thế nào, nhưng theo lần chuỗi Mân Côi, ngắm thứ Hai, năm sự Mừng: “Đức Chúa Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”.

Chúa ơi! Con yêu mến thế nào được vì chẳng biết tí gì về Nước Trời. Nơi ấy đã hẳn là người ta không còn lấy vợ, lấy chồng. Nhưng nơi ấy không biết có cần ăn, uống để mà sống hay không; Nơi thiền đàng có còn phải làm việc để được trả lương như ở thế gian này không; Con người có bị ốm đau, bệnh tật hay không? Càng suy nghĩ, con càng thấy mình mù tịt.

Nhưng theo Lời Chúa đã phán dạy, con tin rằng nơi quê hương thật ấy không có sự chết; Nơi ấy có các thánh nam nữ; có các thiên thần; có Đức Maria, Thánh cả Giuse, và Chúa Con. Nơi ấy có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Nơi quê hương ấy không có sự dữ, kẻ ác, và không có chiến tranh, nhưng nơi ấy có sự yêu thương, có an bình, có sự công chính, và. nơi ấy không có sầu khổ, thất vọng, cô đơn, nhưng nơi ấy tràn ngập niềm vui.

Con mong ước được về quê thật là Nước Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã hứa: Ở nhà của Cha Thày có nhiều chỗ. Thầy đi để dọn chỗ cho các con, vì Thày muốn thày ở đâu thì các con cũng ở đấy.”

Vâng! Thưa Chúa, chúng con biết rằng: Chúng con phải vác lấy thập giá của chúng con, để đi theo Chúa từng ngày trong đời sống tạm bợ ở thế gian này. Quê hương Việt Nam chỉ là quê hương tạm bợ, nơi mà con dân Việt được sinh ra và lớn lên. Quê hương Úc này cũng chỉ là nơi chúng con sinh sống tam bợ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Chết không phải là hết, nhưng nó là thời điểm chúng con bắt đầu đi về nhà Chúa để chịu phán xét riêng. Kinh nghiệm di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, đã cho chúng con biết có nhiều cản ngăn bởi phía địch thù. Cuộc hành trình đi về quê hương Nước Trời cũng nhiều nỗi gian truân bởi chúng con yếu đuối, bởi ma quỷ cám dỗ, bởi tiền bạc, danh vọng khiến cho nhiều người khi lâm chung vẫn có quyến luyến của cải thế gian, và quê hương tạm bợ.

Nếu đường đi về nhà Cha Chung dễ dàng, thì rất nhiều người đã dùng phi thuyền đi về nhà Cha từ lâu lắm rồi. Cin tin vào lời Chúa dạy: “Không phải những ai kêu lạy Chúa! Lạy chúa thì được vào nước trời đâu, nhưng còn phải thực hành những lời Chúa truyền dạy nữa thì mới được vào Nước Trời”.

Lạy Chúa! Dựa vào ơn Chúa mà chúng con có thêm đức tin, để sống làm chứng nhân cho Chúa về sự Phục Sinh của ngài, lan truyền Lời Chúa cho muôn dân bằng lời nói, việc làm, và bằng những việc hy sinh, bác ái cho tha nhân. Chúng con tin đây là những phương tiện tốt nhất, để sau khi xác chúng con đã chết, thì hồn của chúng con sẽ được hưởng nhan thánh Chúa. Chúng con tin rằng đến ngày tận thế thì xác của chúng con sẽ được sống lại để chịu phán xét chung. Hồn và xác của chúng con sẽ được kết hợp để trở nên một thân thể mới, để cùng với các thánh trên trời ngợi ca khen danh Chúa, và được hưởng nhan thánh Chúa đời đời trong tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tạm biệt nhé quê hương Việt Nam tôi yêu dấu

Tôi giã biệt bố tôi cùng các em, bạn thân và mọi người. Tôi hứa đem về Úc mọi kỷ niệm, hình ảnh, lời nói mà tôi có được trong chuyến đi thăm quê hương Việt Nam lần này. Tôi bước vào trong khoang của máy bay tìm ghế ngồi, và một lần nữa chiếc máy bay của hãng hàng không Jesta lại bay lên bầu trời cao vút, khoảng 11 ngàn mét, để đưa chúng tôi trở về nước Úc, một quốc gia có nhiều mỏ khoáng sản, và con người thì tràn đầy tình thương.

Bầu trời Úc lúc này đã chuyển sang mùa Đông, bên ngoài máy bay độ lạnh là: – 56 độ C. Khi máy bay đáp xuống phi trường Melbourne. Bởi giá lạnh và gió mạnh, đã làm da mặt của chúng tôi trở nên tái mét. Những chiếc áo lạnh dầy lại có dịp được đem ra mặc, như muốn khoe với mọi người rằng: Mùa Đông năm nay vẫn chưa đủ lạnh, để có tuyết rơi.

Bà con cần phải chờ thêm vài tuần nữa nhé, sẽ có những tua tổ chức đi trượt tuyết trên núi. Ai chưa đi thì hãy thử đi cho biết. Úc mà! Ai không đi núi tuyết thì sẽ không được gọi là dân của Sydney, Melbourne, Tasmania đâu. Hì hì.

Xin Thiên Chúa toàn năng đoái thương con dân Việt Nam, và xin phù trợ cho tất cả những ai đang cần đến lòng thương xót của Chúa. Xin cảm tạ ơn Chúa cho chuyến viếng thăm quê hương Việt Nam của con được trở về nhà bình an. Amen.