LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – Số tháng 10, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

2. Các đan viện trong lịch sử văn chương

Các đan viện còn là những trung tâm văn hóa hoạt động trong thầm lặng. Khi thôi nghĩ đến một đan sĩ cầm rìu đốn cây trong rừng, người ta sẽ tưởng tượng tới một tu sĩ Biển đức cặm cụi trên bàn viết. Những tác phẩm Giáo hội, những kiệt tác văn chương Latinh (Virgilius, Ovidius, Terentius, Horatius) đã được chép lại và có khi còn được chú giải, do những bàn tay chuyên biên chép làm việc đêm ngày trong tu viện. Nhờ có những cố gắng âm thầm kiên nhẫn này của các tu sĩ, mà giới trí thức thời Trung cổ đã giữ được mối liên lạc quí báu với kho tàng văn hóa thời Thượng cổ. Và chính cũng nhờ đấy mà, sau này hàn lâm viện Palatinat ở AixLa-Chapelle của triều đình bị ngọn lửa xâm lăng thiêu hủy, các tài liệu quan trọng về văn chương và triết học còn lưu giữ được (thư viện Reichneau, Saint-Gall, Mont-Saint-Michel và Fleury-surLoire), cho tới khi có máy in và cho tới thời Phục hưng.[32]

Trên đây chúng tôi đã nói đến đan sĩ Alcuinus trong phong trào trí thức Phục hưng” của Charlemagne. Ở đây, tưởng cũng nên nhắc đến những học viện Tours, Corbie, những đan viện Saint-Denis, Reichneau, Saint-Gall và Fulda, đều là những trung tâm nghiên cứu học hỏi, nơi đào tạo những vĩ nhân thế kỷ IX, như Hincmar thành Reims, Notker le Bègue, những sử gia như Eginhard, Haim Halberstadt, những nhà biên tập Bách khoa Toàn thư như Raban Maure, là người có lẽ đã sáng tác kinh Veni Creator. Trong thế kỷ kế tiếp, có hai sử gia Raoul Glaber, Oderic Vital và hai nhà thần học chân phước Lanfranc và thánh Anselmô.[33]

Trong lãnh vực giáo dục, chính các đan viện đã thiết lập những ngôi trường nhỏ dạy trẻ em trong vùng. Dưới thời Charlemagne, các đan sĩ Biển đức được ủy thác sứ mạng giáo dục công lập. Trên thực tế, phần lớn các nhà thông thái thời đại này là các tu sĩ hoặc những người đã được huấn luyện tại một đan viện. Nhiều giám mục, Giáo hoàng cũng xuất thân từ những nơi đó.

Cả nền văn hóa của Man di thời tiền Kitô giáo cũng được các giáo sĩ và tu sĩ bảo tồn và lưu truyền. Có những giáo sĩ quá ham mê văn chương thần thoại này, đến độ bị Tòa thánh khiển trách. Tất cả những gì chúng ta được biết về thi ca của các thi sĩ Ái Nhĩ Lan, Celtic, German hoặc Scandinavian, đều do các tu sĩ đã ghi chép lại. Dĩ nhiên, khi san định có thể các vị đã cắt xén, sửa đổi ít nhiều chi tiết cho phù hợp với tinh thần Kitô giáo hơn, nhưng nói chung phần cốt yếu vẫn được duy trì. Các đan sĩ Ái Nhĩ Lan coi việc bảo tồn ngôn ngữ và kho tàng văn chương của tổ tiên, như là một việc làm ái quốc nhất. Chính các tu sĩ Anglo-Saxon thế kỷ VIII đã sưu tập, có lẽ sửa chữa phần nào, thi phẩm Beowulf.[1] Ngoài ra, các tu sĩ còn sáng tác thêm nhiều thiên anh hùng ca có mầu sắc Kitô giáo, như Geoffroy Monmouth (+ 154) viết cuốn tiểu thuyết Anh hùng Bàn tròn (Les Héros de la Table Ronde). Còn phải nhìn nhận Giáo hội có nhiều công, trong việc khai sinh ra nhiều từ ngữ và văn chương Âu châu. Trên đây, chúng tôi đã nói đến hai thánh Cyrillô và Methođô với nền văn chương Slavo. Những thi ca đầu tiên trong văn chương pháp bắt nguồn từ nhiều bài “ca tiếp liên” (sequentia) của Giáo hội. Những thi ca đạo của Caedmon, một mục tử được hấp thụ tinh thần tu viện Whilby, và những câu truyện lịch sử tôn giáo của thi sĩ Cynewulf thế kỷ VIII, đã dọn đường cho nền văn chương Anglosaxon. Trong Đức quốc, thi phẩm Heliand được soạn bằng cổ ngữ German, nhằm trình bày cho dân Saxon những phép lạ của Chúa Kitô. Thế kỷ X, những dịch phẩm của Notker thuộc đan viện Saint-Gall sẽ biến cổ ngữ German thành ngôn ngữ văn chương, mở màn cho một nền văn xuôi Đức ngữ.

3. Các đan viện trong lịch sử nghệ thuật

Điều mà người ta thấy thực hiện trong ngành văn chương thế nào, thì ngành nghệ thuật cũng vậy. Ngay từ thế kỷ VIII và IX, các đan viện đã có những xưởng chế tạo đồ bạc, đồ thêu, sản phẩm điêu khắc. Thay vì cứ bo bo giữ những nghi thức tế tự cổ điển, Giáo hội sẵn sàng tiếp dón nhiều sáng kiến, nghệ thuật, kiểu trang sức của các Dân tộc.

Trên những tấm thảm, bức thêu, sách lễ, trong các nét họa và chạm trỗ trên gỗ, trên đá, những hình trám và tổ sức (entrelac) của nghệ thuật thời Mérovée được pha lẫn với lối trang trí hư ảo và nghệ thuật từ Persia đến, với những con vật thần thoại Đông phương, những cửa tò vò (arcature) chằng chịt kiểu Byzantin, cùng rải rắc đây đó những biểu tượng về tích truyện trong Thánh Kinh.[35]

Các sản phẩm nghệ thuật của thời đại này, hình như chỉ còn lại những công trình kiến trúc, để chúng ta nhìn vào đấy mà thán phục Nhưng phần lớn các đại thánh đường hoặc đan viện còn lại tới ngày nay, không phải chỉ là những công trình trước thế kỷ XI. Những lễ nghi trong phụng vụ, những tư thế cầu nguyện, đều can dự vào việc phát huy mỹ thuật, làm cho mỹ thuật được cải tiến và thêm phong phú. Để tổ chức những đại lễ người ta nới rộng thánh đường. Có lẽ vì muốn âm thanh được ấm vang và trang trọng, người ta sáng kiến nâng cao mái và xây cuốn vòng cung. Và để tiếng chuông đi xa hơn, người ta xây tháp thay mái tròn (dôme), những ngọn tháp mỗi ngày thêm cao.[36]

Nhiều bức thảm, hòm xương thánh, chén lễ vàng rất mỹ thuật, nhưng ngoài cái đẹp vô hồn ấy, còn có cái đẹp sống động ở những cử điệu trong nghi lễ phụng vụ: trang nghiêm, đi đứng cân xứng từng loạt, lúc giang tay, lúc phủ phục hoặc bái gối, xướng ca và đối ca. Thánh Lễ được cử hành long trọng giữa nhiều trợ tế và giúp lễ, đèn nến sáng trưng, ca hát đối thoại,[2] cùng nhiều thánh ca khác, biểu lộ sự uy nghi cảm động và hướng thượng, làm vui mắt, vui tai, vui tâm hồn.[38]

Thế kỷ XI và XII còn là những thế kỷ của thánh nhạc.[3] Tại các đan viện và đại thánh đường đều có những cuốn Ca Tiền xướng (Antiphonarium) to lớn, xinh đẹp và lộng lẫy. Nhiều nhạc sĩ soạn thêm những thánh ca, những bài “Ca tiếp liên” (sequentia), như vua Robert II (996-1031) nước Pháp là tác giả một tuyệt tác Alleluia, nữ đan sĩ Hildegarda thành Mainz là một đấng thánh, một nhà thần bí và nhạc sĩ nổi tiếng thế kỷ XII, Adam Saint-Victor sáng tác nhạc phẩm Salve Mater Salvatoris.[40]

IV. NHỮNG CẢI CÁCH VÀ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC DÒNG TU

1. Những biến chuyển và cải cách của các dòng tu (thế kỷ IX-XII)

Dưới thời Charlemagne, sự thành công của tu luật thánh Biển đức rất rõ rệt. Tuy nhiên, người ta có cảm nghĩ nên bớt đi một vài điểm được coi là quá khắt khe: tỉ như các đan sĩ thuộc hai tu viện lớn trong nước Pháp. Saint-Denis ở Paris và SaintMartin ở Tours, đòi theo “luật kinh sĩ” rộng rãi hơn. Vả lại, các đan sĩ Biển đức thời đó đảm nhận việc giáo dục công lập, do nhà Vua ủy thác, một công việc không trung thực với lý tưởng dòng tu của mình. Thánh Biển đức Aniane (750-821), cố vấn của vua Louis I, quyết làm một cuộc cải cách, giành lại địa vi ưu tiên cho Kinh nguyện và phổ biến việc đọc Thánh vịnh trong phụng vụ. Có lẽ trong vấn đề này thánh nhân phản ứng quá mạnh, nhưng dầu sao việc ngài làm đã nói lên cái lý tưởng trung thực của đời sống tu hành. [41]

Thế kỷ X, thánh Odon Cluny (879-942) khởi xướng phong trào trở lại tinh thần nghèo khó và vâng phục. Thay vì dành cho nhóm “tận hiến“ thuộc hàng quí tộc như nhiều tu viện đương thời, đan viện Cluny do Guillaume xứ Aquitaine xây cất năm 910, sẽ là nơi đón nhận “dân nghèo của thời đại đến với tấm lòng thành”. Công việc này dọn đường cho sự trở lại đời sống nghèo và mở rộng quyền hạn cho đan viện phụ. Theo tu luật thánh Biển đức, mỗi đan viện sống tự trị và biệt lập với các đan viện khác. Nhưng theo tinh thần Cluny, đan viện mẹ vẫn trực tiếp điều khiển các đan viện con: Cluny trở thành thủ phủ của một “Liên bang thiêng liêng”. Hệ thống tổ chức chặt chẽ này đã tạo được tinh thần đoàn kết cùng một khả năng hoạt động mạnh mẽ, và đấy là “dòng tu “ (Ordre) đúng nghĩa.[42]

Nhưng sau gần hai thế kỷ, Cluny cũng trở nên rất giầu có, lại thêm vướng mắc những quyền lợi chính trị và kinh tế. Một phong trào canh tân khác do thánh Biển đức (1090-1153) lãnh đạo, hợp tác với Robert Molesme và Stéphane Harding, cương quyết khôi phục tinh thần hãm mình, nghèo khó và lao tác. Đan viện Xitô (Citeaux) do Molesme thiết lập từ năm 1098, được chọn làm trung lâm phong trào cải cách này. Năm 1115, thánh Benađô thiết lập một trung tâm khác: đan viện Clairvaux. Cuối thế kỷ XII, dòng Xitô đã có tới 150 đan viện, con số này lên gần 700 cuối thế kỷ sau. Riêng đan viện Clairvaux cũng có ít là 68 nhà phụ ở Pháp, Đức, Anh, Tây, Ý, Ái và trong các xứ Scandinavia. Từ đây, đoàn “thày dòng áo trắng” Xitô thay thế các “thày dòng áo đen“ Cluny.[43]

2. Những tiến triển của các dòng tu (thế kỷ XII)

Nếu tinh thần Xitô thực sự đã thu được nhiều kết quả, thì cũng không nên tin rằng, một mình nó có mặt trong mọi ngành hoạt động của thế kỷ hoàng kim này. Trong khi nhiều thanh niên thuộc hàng quí tộc Pháp và Bỉ đáp lời mời của thánh Benađô, thì nhiều tâm hồn khác cũng đã tìm ra một đường sống thánh thiện theo những tu luật khác không kém nghiêm khắc và hoàn hảo.

Ở Bắc Ý, thánh Romualđô thành Ravenna (+ 1027) đặt nền xây dựng dòng Camaldoli, có khuynh hướng “ẩn tu”. Dòng này sè bành trướng khắp Đức quốc. Thánh Bru¬nô (+ 1101), quê thành Cologne và là kinh sĩ thành Reims, thiết lập trên vùng núi Chartreux (Dauphiné) một dòng tu “áo trắng” khác, chuyên việc chiêm niệm. Vào thời thịnh nhất, dòng Chartreux có 120 tu viện, trong số này có 12 dành cho nữ tu. Thánh Norbert (+ 1134) người Pháp, quê ở Laon, giám mục thành Magdebourg, cải tổ thể chế kinh sĩ hội và lập ra dòng Prémontré (1120), một dòng tu dành cho các kinh sĩ theo tu luật thánh Âutinh. Các dòng tu này đều tiến triển một cách hết sức mau lẹ: từ cuối thế kỷ XI sang đầu thế kỷ XII.

Ngoài ra, xứ Touraine có đan viện Fleurysur-Loire, xứ Lorraine và Bỉ quốc có các đan viện Brogne, Gorze, Saint-Évre, Gand, Stavelot, Malmédy; Thụy Sĩ có Einsiedeln; bình nguyên sông Rhin có Saint-Maximin ở Trèves; Đức quốc có Hirsau; Anh quốc có hai tu viện Glastonbury và Ramsey; Tây Ban Nha có Ripoll và Silos. Tất cả các đan viện kể trên đều tham gia phong trào canh tân các dòng tu.

Dầu vậy, không một đan viện nào có thể sánh được với Cluny và Clairvaux. Điều này trước hết là do thể chế tự trị mà Tòa thánh đã chấp nhận cho hai đan viện đó, cũng như trước đây dã chấp nhận cho Luxeuil và Bobbio. Đó là “ơn miễn trừ” làm cho họ đứng ngoài vòng kiểm soát của các giám mục và trực thuộc đức Giáo hoàng, điều này nhờ ở uy thế lớn lao của các thánh đan viện phụ Odon, Maieul, Odilon, và những nhân vật tài ba phi thường như thánh Benađô. Ngoài ra, điều kiện địa thế và chính trị tốt đẹp của xứ Bur¬gonde, nơi tọa lạc hai đan viện, cũng là những yếu tố giúp họ trở nên thịnh vượng và dễ dàng bành trướng. Cluny và Clairvaux quả là những trung tâm tỏa sáng nền trời âu thời trung cổ.[44]

3. Ảnh hưởng tinh thần của các dòng tu thời Trung cổ

Lẽ sống của các tu sĩ không phải chỉ tăng gia sản xuất, làm ra tiền bạc, tài giỏi nghệ thuật, kể cả nghệ thuật thánh. Lẽ sống của các vị là luyện tập nhân đức, hoặc theo như thánh Biển đức nói, là “khắc phục những cái khó để tiến tới Thiên Chúa”. Lẽ sống của các vị còn là ca tụng Thiên Chúa thay cho nhân gian. Trong lãnh vực này xưa cũng như nay, đừng nghĩ rằng các tu sĩ nắm giữ độc quyền. Bên cạnh các thày, còn có nhiều giám mục như Adalberon de Liége (+ 1028), Guy d’Anjou giám mục thành Puy, người sáng lập phong trào Pax Dei (990), Fulbert de Chartres, các ngài đều là những bậc đã từng tham gia phong trào cải hóa phong tục và giáo dục quần chúng. Theo gương các vua Alfred (+ 901) nước Anh, Robert II (+ 1031) nước Pháp, nhiều giáo dân thời phong kiến cũng như giới học đường đều đã cộng tác trong sứ vụ thiêng liêng nầy. Rồi đến các Giáo hoàng, mặc dầu uy quyền khi ấy phần nào bị sa sút, các ngài vẫn không bao giờ bỏ việc kiểm soát, hay nói đúng hơn chính các ngài đã hướng dẫn sứ vụ. Nhưng dẫu sao đi nữa, người ta không thể không nhìn nhận ảnh hưởng lớn lao và nổi bật của các dòng tu trong lãnh vực tinh thần.

Trước hết, các tu viện thường là trung tâm đào tạo những thành phần lãnh đạo Hội thánh. Hơn nữa, rất nhiều tu sĩ đã rời đan viện để lành nhận nhiệm vụ chủ chăn. Bên cạnh những giám mục được các vua cất nhắc sống một cách phong kiến, xa hoa, bè phái, còn có nhiều tu sĩ đem hết tâm lực vào sứ vụ tông đồ, kiện toàn khoa thần học, đề cao tính cách độc lập của hàng Giáo phẩm đối với thế quyền, gây phong trào công lý hòa bình. Giữa lúc nạn “mại thánh” (simonie) tràn ngập trong Giáo hội, thì các tu sĩ quyết làm những chứng nhân cho tinh thần thoát tục, khiết tịnh và nghèo khó Phúc Âm. Đóng vai cải cách, phục hưng đời sống Kitô giáo, các thày đã làm tròn sứ mạng khó khăn và nặng nề một cách can đảm.

Hàng giáo sĩ thôn quê thời đó thật thê thảm: học thức tầm thường, đời sống bê bối, biếng nhác, có khi còn rượu chè dâm đãng nữa. Trong hoàn cảnh đau xót đó, nếu người dân quê chưa hoàn toàn mất đức tin, cũng là vì họ còn được nhìn thấy nhiều gương lành của bậc tu hành, còn được nghe lời rao giảng của các đan sĩ lưu động, và được an ủi bởi những hoạt động bác ái của các tu sĩ nam nữ trong vùng.

Dòng tu thật đã gây nhiều ảnh hưởng trên mọi lãnh vực trong thế giới Công giáo; giáo dân thuộc mọi giai cấp, sinh viên, học sinh, quan chức, đến cả vua chúa cùng hàng Giáo phẩm, tất cả cùng chịu chung ảnh hưởng này. Dòng tu nêu gương kỷ luật, gương sáng, đức trọn lành một cách hoàn hảo. Dĩ nhiên không thể không có những yếu đuối và gương xấu, nhưng đó là trường họa hiếm và cá nhân.

Lễ nghi phụng vụ, chu kỳ phụng vụ quanh năm được thêm phong phú cũng do sáng kiến của nhiều tu sĩ, đặc biệt những lễ kính đức Mẹ: lễ Sinh nhật, lễ Dâng Con, lễ Mông triệu. Việc tôn sù¬ng thánh Pherô tông đồ có lẽ do các tu sĩ nước Anh khởi xướng, với mục đích làm nổi bật uy quyền của Roma, và cổ võ lòng suy phục đức Giáo hoàng. Lễ cầu hồn, nếu không phải thánh Odilon Cluny hoặc đồ đệ ngài khởi xướng, thì ít nhất các vị đã có công truyền bá khắp Âu châu.

Qua nhiều sách vở, bài giảng và thánh ca, người ta nhận thấy các đan viện là nơi phát xuất những phong trào, nhằm nâng cao cuộc sống tinh thần đạo đức thời Trung cổ. Các tu sĩ là những quân binh của Thiên Chúa, đồng thời cũng là những tay thợ lành nghề, tận tụy xây cao lâu đài văn hóa nhân loại.[45]

Chương Bảy – CỘNG TÁC ĐẠO ĐỜI GIỮA THẦN QUYỀN VÀ THẾ QUYỀN (t.k. VIII-XIII)

Vì con người mà Giáo hội được thiết lập, và cũng vì con người mà Giáo hội nhập thế:

Giáo hội sinh hoạt giữa nhân gian, Giáo hội tức nhiên không khỏi đụng chạm tới quyền lực của vật chất và trần gian. Hàng Giáo phẩm phải sử dụng quyền bính thiêng liêng do đấng Sáng lập trao phó, làm sao dung hòa với quyền lực đó. Chính vì trần gian này mà Giáo hội phải có tiền ban vật chất, để thi hành sứ mạng bác ái, để tồn tại trên mặt đất, và để phụng sự Thiên Chúa xứng đáng.

Thời nào cũng thế, dưới chính thể nào cũng vậy, sự thích nghi những mối tương quan giữa Giáo hội và quốc gia, sự dung hòa giữa thần quyền và thế quyền đã là vấn đề hết sức tế nhị. Nhưng vấn đề càng tế nhị hơn nữa trong thời Trung cổ, thời mà chính trị và tôn giáo sát cánh nhau chưa từng có, thời mà tất cả mọi hoạt động và giá trị trần gian đều quy về lợi ích thiêng liêng.

Đây không phải chỉ là vấn đề thuộc chính trị, nhưng còn có những yếu tố tôn giáo, những quyền lợi xã hội và kinh tế. Quyền bính của hàng linh mục và của vua chúa, thân phận con người, quy chế điền thổ, đều là những vấn đề phải bàn đến. Có những pha thật gây cấn, bởi lẽ khi lòng vị kỷ đụng độ nhau và khi quyền lợi vật chất được nói đến, tức thì tham vọng cũng nổi dậy theo.

Sự thực, vẫn có sự thông cảm giữa hai quyền bính trên nhiều căn bản, nhưng lại là những căn bản dễ thay đổi, tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh. Do đấy, những cuộc xung đột rất ác liệt không thể tránh được. Chính những vụ xung đột ấy, chúng tôi sẽ tìm đến nguyên nhân và thuật lại những nét chính yếu.[1]

I. GIÁO HỘI VÀ NHÀ CAROLINGIEN

1. Tài sản Giáo hội và Charles Martel

Trong những điểm làm cho nền văn minh Trung cổ khác với văn minh hiện đại, phải kể đến tổ chức kinh tế, trong đó một phần khá lớn thuộc chủ quyền Giáo hội.[2] Người ta ước lượng, vào cuối triều đại Mérovingien khoảng năm 715, các thánh đường và tu viện chiếm tới một phần ba đất dai trồng trọt được. Vả lại, trong một thời tiền bạc còn hiếm, sự trao đổi hàng hóa còn ít, đất đai được coi là tài sản vững chắc và thiết thực nhất. Thời ấy, sự tước đoạt nhau về đất đai là tội phạm xấu xa hơn cả.

Ngay từ khi đế quốc Roma bắt đầu vào thời suy mạt, nhiều địa chủ, hoặc vì muốn theo tinh thần nghèo khó Phúc âm, hoặc vì muốn thoát khỏi gánh nặng trong việc quản trị tài sản, đã tự ý trao của cải mình cho Giáo hội. Đến khi Man dân xâm lăng, đất đai của Giáo hội cũng như của bất cứ ai khác, đều bị chiếm đoạt. Tuy nhiên, trong khi tài sản tư nhân rơi vào tay quân xâm lăng, thì uy thế của Giáo hội vẫn đứng vững. Nhờ sự chăm lo săn sóc của các giám mục, nhờ tinh thần hy sinh hăng say hoạt động của bậc tu sĩ, Giáo hội quyết đòi lại các quyền lợi và những tài sản đã bị phân tán. Đến khi chính các kẻ xâm lăng gia nhập hàng ngũ công giáo, họ liền nhìn nhận đến độ sợ hãi quyền uy thiêng liêng, khiến họ đi tìm sự tha thứ và xin cầu nguyện. Để làm quên đi những hành động phá hoại đáng ghét khi xưa, họ dâng cúng tiền của và đất đai vào thánh điện nọ, thánh đường kia một cách rất rộng rãi. Việc dâng cúng hình như thiếu suy nghĩ, đôi khi vì sợ hãi, thường không phải cho Giáo hội, mà họ quan niệm như một “đoàn hội vô danh”, nhưng thực ra họ có ý dâng cho một vị thánh: thánh Martin, thánh Đionisiô, thánh Pherô.

Tuy nhiên, không phải tất cả như vậy, vì dưới triều Mérovingien nhiều vua thật sự dâng của cải cho Giáo hội và vì Giáo hội. Trong việc Dagobert hay Clovis II dâng tặng những “doanh trại hoàng gia” (villas royales), người ta không thấy có một bằng chứng gì gọi là mê tín hay sự hãi. Đó chỉ là do lòng quảng đại, có lẽ hơi quá tay, của những ông vua mang sẵn một chương trình khai hóa. Các ông thừa hiểu rằng thánh đường là trung tâm đời sống xã hội quốc gia, tu viện là nơi đào tạo những phần tử ưu tú của đất nước, đảm đương công việc khuếch trương đất đai trồng trọt, và làm giầu văn hóa cũng như tinh thần cho quốc gia. Bởi đấy, mới có sự nâng đỡ bảo vệ và đặc ân cho hàng giám mục, cho các tu viện cổ kính và cho thiết lập thêm nhiều tu viện mới.

Điều đó hữu ích, bởi vì sự cố gắng và hy sinh của các giám mục và tu sĩ sẽ đem lại sự cường thịnh cho triều đại Charlemagne sau này. Nhưng cũng có bất lợi, bởi vì sự mở tay dành cho các thánh đường và tu viện quá nhiều tài sản, đất đai cùng đặc ân, sẽ đưa quốc gia đến chỗ khánh kiệt. Có nhiều ông vua phàn nàn một cách bực tức, có ông bạo dạn hơn đã dùng đến sức mạnh để lấy lại những của mà các vị tiên đế đã dâng cho Giáo hội. Tuy nhiên, sự cưỡng đoạt chưa phải là việc thường xuyên xảy ra, và cũng chưa có biện pháp lệnh để ngăn cản sự gia tăng đất đai cũng như tài sản của Giáo hội và của các tu viện mỗi ngày thêm lớn mãi.

Những mâu thuẫn và chênh lệch quá rõ rệt xảy ra vào đầu thế kỷ VIII. Đó là thời suy mạt của những ông vua cuối cùng nhà Mérovingien, và một dòng họ mới đứng ra nắm quyền, tức Pépin Herstal làm cung trưởng (thủ tướng 680-714) xứ Austrasia. Đó là ông tổ của triều đại Carolingien (751-987). Nhiều ông vua thuộc dòng họ này là những nhà lập pháp nổi tiếng: Charlemagne (768-814), Louis le Pieux (814-840), Charles le Simple (898-923). Trong việc trị nước, các ông triệt dể thi hành Bản pháp lệnh (Capitulaires) do Charlemagne soạn thảo và ban hành.

Charles Martel (685-741) lên thay cha giữ chức cung trưởng. Do hoàn cảnh của đầu thế kỷ VIII, Charles đã hành động một cách chớp nhoáng đối với tài sản khổng lồ của Giáo hội. Ông gây dựng và củng cố quyền uy quốc gia chống lại các phiến loạn. Ông đẩy lui được các cuộc xâm lăng vào đất Austrasia. Ông chiến thắng và chặn đứng được Hồi quân (Sarrasins) tại Poitiers (732). Tất cả những công cuộc ấy phải cần đến sự dũng cảm và cả phương tiện vật chất nữa. để võ trang binh sĩ, để tưởng thưởng các tướng lãnh, Charles Martel đã không ngần ngại đoạt lấy tài sản của Giáo hội, bằng cách thế tục hóa, mà ngày nay người ta gọi là “quốc hữu hóa”.[3]

Người ta đã cho đây là một hành động cấp thiết “vì dân vì nước”. Nhưng không phải giản dị có thế. Bởi vì, nếu đứng trước một hoàn cảnh cấp thiết ấy, Charles chỉ trưng dụng một phần tài sản của Giáo hội nhằm trang bị cho quân đội ông, việc làm của ông tuy độc đoán và đơn phương, song Giáo hội cũng dễ thông cảm. Nhưng thay vì hành động một cách ôn hòa, Charles đã tước luôn cả quyền tự hữu của hàng giám mục và tu sĩ. Đó là một lỗi lầm to lớn, một sự vi phạm các điều ước, muốn tái diễn cái cảnh cưỡng đoạt dã man của thế kỷ V. Những “giám mục” và “đan viện phụ” do ông cử lên nhằm phục vụ chiến tranh hoặc một chính thể, hỏi các vị đó sẽ làm được gì cho Giáo hội? Do luật lệ nào mà các vị này được kiêm nhiệm nhiều địa phận một lúc ? Tịch thâu tài sản của các thánh đường để quân sĩ chiến thắng ăn uống no say, phải chăng là một vẻ vang cho nền kinh tế và là tiến bộ xã hội ? Giành giật lấy quyền bính của hàng giáo sĩ để trao cho các sủng thần bất xứng, phải chăng là một hành động tốt đẹp về phương diện tinh thần? Không bao giờ các tòa giám mục Pháp quốc, bị trao nộp cho những chủ chăn nguy hiểm đến thế. Tình trạng như vậy chỉ cần kéo dài thêm một chút thôi, Giáo hội cũng lãnh đủ một tương lai thê thảm, mà nguyên nhân chính là sự sang đoạt tài sản Giáo hội, một cách bất hợp pháp và tàn nhẫn.

Trong 25 năm dưới thời Charles Martel, Giáo hội tuy thoát được hiểm họa Hồi quân và tiến triển mạnh mẽ tại Đức quốc, nhưng bên trong lại bị tước đoạt và phản bội bởi những nhà lãnh đạo do người ta cử lên một cách độc đoán. Chỉ trong mấy chục năm ấy, tưởng đã đủ để xảy ra một sự đổ vỡ không thể hàn gắn được nữa. May mắn thay, không phải như vậy, vì người ta sẽ thấy xuất hiện nhiều nhân vật bắt tay vào công cuộc chỉnh lý một cách rất can đảm, trong đó thánh Bonifaciô (680 -755) đóng vai cố vấn, và nhiều ông hoàng mới như Carloman (741-747) và Pépin (751-768), là những người rất tận tình trong việc trả lại quyền tư hữu cho Giáo hội.

Còn Tiếp


[34] Thi ca Anglo-Saxon, trong đó vai chính là một ông vua huyền thoại xứ Jutland.

[37] Trong bài thánh ca Phục sinh, câu Dic nobis Maria, quid vidisti in via? là một điển hình về loại ca đối thoại này, rất thông thường trong lễ nghi phụng vụ thời Trung cổ.

[39] “Vậy những ai, nếu không có lý do chính đáng, lại thinh lặng trong thánh đường là nơi ca tụng Thiên Chúa, thì sẽ không xứng đáng được nghe các Thiên Thần ca ngợi Thiên Chúa trên Thiên đàng”, lời của thánh nữ Hildegarda: Lettre aux prélats de Mayence, (Patrol, Latine, Q. 197, 243)