LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 12, 2019

Tiếp Theo

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Với Henry II (1002-24), Corad II (1024-39), Henry III (1039- 56), thánh đế quốc trở lại đường lối cũ, ít tin tưởng vào các dân tộc xa lạ. Một lần nữa chính trị tôn giáo tập trung vào việc hảo vệ quyền lợi riêng của chủng tộc German và hoàng gia. Vả lại, đây là thời hoàng kim của Giáo hội Đức. Nhiều đại thánh đường được xây cất trong các đô thị lớn dâng kính đức thánh Micae, thánh Georgiô; những kỳ công mỹ thuật Roma xen lẫn với tài nghệ thuật Gemantdu gồm gian đầu (abside) làm cung thánh có bàn thờ và cung nguyện dành cho giáo sĩ; cách một hành lang (transept), đến phần chính giáo đường có hai hàng cột cứng khỏe chia thành ba gian gian giữa rộng hơn có ghế ngồi, dành cho giáo dân cả ba gian. Những thánh đường nguy nga ở Hildeisheim và Cologne, những tu viện Siegburg và Laach còn đứng đấy, để nói lên cái hồn nghệ thuật của những người đã xây dựng lên chúng, qua những đường nét cân đối một cách hùng vĩ, trang nghiêm và cứng cát.

Sang thế kỷ XIII, có lối kiến trúc khung vòm cao vút, như thánh đường ở Spira. Kiến trúc Gothic này nổi tiếng ở Limburg và những tác phẩm được thực hiện trong đại thánh đường Bamberg. Dưới một ngôi nhà bằng đá, thuật trang trí các vật dụng bên trong thiệt lộng lẫy và sang trọng: những cửa lớn bằng đồng, những tấm thảm quí báu phô diễn tài nghệ của Byzantin, được Theophana người vợ Hy Lạp của Otton III đem tới, những trướng khảm ngà và bạc, những bàn thờ chạm trổ thiết vàng. Thuật điêu khắc những hòm xương thánh cũng rất đáng ca ngợi, vì không những là báu vật về nghệ thuật mà còn là báu vật tinh thần nữa. Ở Cologne chẳng hạn, hài cốt các đấng tử đạo (thánh Ursula và “mười một ngàn trinh nữ”), chiếc đinh Chúa

Giêsu, hài cốt Ba Vua, đã gây phong trào tôn sùng của giáo dân trong nhiều thế kỷ.[1] Mặt tiền các thánh đường, thường đặt tượng những vĩ nhân có nhiều công với đế quốc.

Brunus, giám mục thành Cologne, em hoàng đế Cotton I, đã giữ chức tể tướng suốt 18 năm. Cũng như nhiều đồng nghiệp khác cùng thời ở Pháp và Anh, các vị giám mục này đều là những tay kiến thiết và là ân nhân của nhiều dòng tu. Những giám mục, như Bernward thành Hildesheim, thánh Héribert, hay Arnus thành Cologne, đều là những nhân vật nổi tiếng làm vẻ vang Giáo hội. Các hoàng đế đem lòng tin tưởng và cậy nhờ các ngài. Và chính trong số các ông hoàng có nhiều người sống đạo đức và nên gương sáng, như Henry II và hoàng hậu thánh Cunegunda. Đức tin được bành trướng sang những tỉnh mới thuộc các xứ Brandenburg, và Bohemia. Nhiều tòa giám mục được thiết lập tại Magdeburg, Merseburg, Praga, Gniezno và Cracovia, những liên lạc với các xứ truyền giáo ở Thụy điển, Phổ và Ba Lan. Tất cả đều minh chứng các hoàng đế, từ Otton I đến Henry III, đã được thấm nhuần tinh thần Công giáo trong công cuộc lèo lái đế quốc La Đức.

3. Giám mục hay chư hầu

Người ta tự hỏi, giữa một thời Giáo hội lộ vẻ oai phong lẫm liệt như “một đạo binh dàn trận”, kỷ luật, giầu có, quyền uy, phải chăng không có gì đáng trách ? Người ta khó có thể tin rằng, trong khi các cuốn ký sự và công đồng vạch ra sự sa sút đáng thương tâm của hàng giáo sĩ Ái Nhĩ Lan, Pháp, Ý, thì chỉ có Giáo hội La Đức thoát được tình trạng thảm bại đó. Nhất là người ta không thể hiểu được vụ Henry IV xảy ra sau này, nếu đã không bắt đầu một cách ngấm ngầm từ nhiều triều đại trước.

Hoàng đế Henry II hằng mong ước giao hảo với vua Robert nước Pháp, nhằm triệu tập một công đồng có mục đích sửa lại các lạm dụng và nâng cao tinh thần hàng giáo sĩ. Nhưng, làm gì thì làm, Giáo hội của đế quốc La đức vẫn mang sẵn trong mình một khuyết điểm lớn lao về tổ chức nội bộ. Vì vướng mắc chính trị, vì dấn thân vào mọi lãnh vực, hàng Giáo phẩm đành chịu làm công cụ cho đế quốc cho dầu người ta được chứng kiến một sự kiện hiếm có này là khi nắm giữ chức giám mục thành Mainz, Cologne hay Worms, các anh em, con cháu hoặc thân thích của hoàng đế vẫn sống xứng đáng và nêu gương, người ta vẫn nhận thấy quyền giám mục bấy giờ thực sự không hơn gì mấy ông chư hầu, và Giáo hội Đức đang tiến trên con đường biến thành một Giáo hội của triều đại. Nguy hiểm hơn nữa, vì quyền lợi trần gian này mà các giám mục và đan viện phụ lúc đó, tức các “ông hoàng của đế quốc”, phải lệ thuộc nhà Vua với tất cả nghĩa vụ bồi thần. Các ngài phải phục vụ hoàng đế trong lãnh vực tài chánh cũng như quân sự, phải vâng lệnh và trung thành. [19]

Trong thực tế, hoàng đế đã đi ngược với các công đồng, khi đứng ra cắt cử các giám mục, bằng một lễ nghi trao nhẫn gậy. Như thế là làm sai lạc ý nghĩa chức linh mục, làm sai lạc quan điểm về quyền bính và chức vụ thánh. Từ đấy, tình trạng bất ổn không còn ở lý thuyết nữa. Vì lẽ, để nhận được một chức vụ gì cũng phải tìm quyền lợi tài chánh trước hết, nên những ai muốn lên chức giám mục, nếu cần sẽ mua cảm tình của nhà vua. Và nhà vua, để khỏi bị thiệt, sẽ bán chức tước trong Giáo hội cho những giáo sĩ thiếu lương tâm. Tội mại thánh (simonie) vì thế lan rộng như phong cùi trên khắp thân mình Giáo hội thời phong kiến này. Từ tội mại thánh, phát sinh ra một tình trạng vô luân: chủ nghĩa Nicolaisme.[2] Vì không còn quan tâm đến giá trị thiêng liêng của kẻ thuộc quyền, các bề trên bất xứng hoặc bất lực sẽ nhắm mắt trước những tội trạng xấu xa, bỏ qua cả những vụ hôn nhân của nhiều linh mục.[21] Đó là tình trạng Giáo hội Âu châu thế kỷ XI. Nó phát sinh ở nước pháp, hoành hành ở Bắc Ý, còn ở Đức cũng có nhưng kín đáo hơn. Khắp nơi, chính trị đè đầu tôn giáo, một tình trạng đi ngược luật thiên nhiên, đã tạo nên những hậu quả thật tai hại. Đáng sợ hơn nữa là khi đế chế đòi quyền kiểm soát cả Roma, nghĩa là quyền Giáo hoàng cũng phải chịu chung số phận như các giám mục Đức và Ý.

Có điều nên biết là sự can thiệp của các hoàng đế thường đem lại những hậu quả tốt đẹp. Nhờ có các ông mà nhiều vị giám mục Ý, Pháp hay Đức rất xứng đáng, như Gioan XV, Gregori V, Silvestrê II, Biển đức VIII và, sau này Clemantê II, Leô IX, đã đạt tới chức tối cao trong Giáo hội. Và người ta còn nhớ, một khi các cử tri người Ý được tự do hành động, họ đã tôn một thanh niên thuộc dòng họ Theophylaco lên ngôi Giáo hoàng, tức Biển đức IX (1033- 44; 1045; 1047-48). Như thế là họ đã lạm dụng quyền bầu cử của mình trong một việc vô cùng hệ trọng (1033).

Sự can thiệp của các hoàng đế vào việc bầu cử Giáo hoàng, dĩ nhiên là phải tạo nên một tình trạng lệ thuộc rất đáng tiếc. Trước hết, theo như Gioan XII đã thỏa thuận với Otton I (962) là vị tân Giáo hoàng phải tuyên thệ trung thành với hoàng đế, rồi việc bầu chọn phải qua hoàng đế chấp nhận và, trong trường hợp tranh chấp, việc giải quyết thuộc quyền hoàng đế. Chính vì “quyền lợi” đó mà, tại công đồng Sutri (1046), Henry III đòi ba ông tranh ngôi Giáo hoàng phải rút lui, và buộc mọi người phải nhìn nhận giám mục thành Bamberg, tức Clementê II (1046-47). [22] Sự lệ thuộc này không thể kéo dài mãi được. Đến lúc phải xảy ra những cuộc đụng độ, để thần quyền thoát khỏi thế quyền.

III GIÁO HỘI VÀ GIÁO HOÀNG TIẾN TỚI ĐỘC LẬP
1. Những Giáo hoàng cải cách : Leô IX và Gregori VII

Những nét trình bày trên đây cho chúng ta thấy bộ mặt Giáo hội thế kỷ X-XI có những vết lem luốc, hình hài Giáo hội gầy mòn tiều tụy vì những mưu toan áp đảo của thời phong kiến và vì những nguy cơ đe dọa phát xuất từ lòng Giáo hội: luật độc thân giáo sĩ không còn được tôn trọng, một số lớn giám mục sa vào tệ đoan mại thánh. Bị chính quyền phong kiến chi phối bằng những vụ giành quyền phong chức, nên sứ mạng thiêng liêng của ngôi Giáo hoàng và hàng Giáo phẩm không còn nguyên vẹn, thuần túy và độc lập. Tình trạng ấy lan tràn khắp các nước Tây phương, thêm vào đó những cuộc xâm lăng của dân Normand và Sarrasen. Ngay ở Roma trộm cướp, hận thù, rối loạn xảy ra hàng ngày. Năm 1045, linh mục Gratianus, một nhà giáo luật nổi tiếng dòng Biển đức, phải lên tiếng yêu cầu vị Giáo hoàng bất xứng Biển đức XI từ chức, để cứu nguy cho Tòa Pherô. Những sự kiện đó chứng tỏ Giáo hội đang ở trong cơn khủng hoảng.[23]

Tuy nhiên, sự thật tình trạng không nghiêm trọng đến độ bi đát và thất vọng. Giữa thời sa sút và trụy lạc, Giáo hội vẫn phản chiếu những tấm gương trinh khiết và bác ái, qua đời sống của bậc đan sĩ. Các đan viện trong xứ Lorraine và Bỉ, nhất là dòng Cluny, vẫn cung cấp những tu sĩ rất tận tâm với sứ mạng không ai chê trách được những nhà truyền giáo nhiệt thành làm phấn khởi mọi tâm hồn đang bị dao động, đồng thời xây dựng lại cuộc sống kỷ luật xưa, trước hết cho chính các cộng đoàn tu sĩ, sau là cho hàng giáo sĩ và giáo dân ngoài đời nữa. Nhiều đan viện phụ thánh thiện sống trong thời đại này, như thánh Maieul (906-994), thánh Odilon (962- 1049).[24]

Hơn nữa, ngôi Giáo hoàng thời đó không đến độ bị coi rẻ như người ta tưởng tượng. Trước hết, việc Giáo hoàng đắc cử tuyên hứa trung thành với hoàng đế bao giờ cũng thi hành trước khi đăng quang; và không một Giáo hoàng nào chịu nhận nhẫn gậy bởi tay hoàng đế, để trở thành một chư hầu. Vả lại, trong khi ngôi Giáo hoàng bị lấn át bởi những bàn tay phong kiến như Crescentius và Cencius, hoặc phải có những thái độ dè dặt và kiêng nể hoàng đế, thì ngược lại, tại các miền xa xôi ở Bắc Âu, nhiều vua chúa vẫn bày tỏ lòng hiếu thảo đối với vị đại diện Chúa Kitô. Các vua xứ Hung Gia Lợi và Ba Lan rất trọng kính ngài. Năm 991, có sự trao đổi ngoại giao giữa Vladimir xứ Kiev và đức Gioan XV; năm 994, Oda xứ Ba Lan đã nhân danh quốc gia Gniezno bày tỏ lòng trọng kính Tòa thánh; năm 1000, vua Stephan nước Hung Gia Lợi nhận vương miện bởi tay đức Silvestrê II; năm 1006, trước khi xuất quân đánh Anh quốc, quận công Guillaume le Conquérant xứ Norman die đã đến xin phép đức chánh Cha Alexanđrô II, và được trao kỳ hiệu Thánh Pherô.[25]

Do những cử chỉ ưu ái đó, đồng thời ý thức được quyền uy tối cao của mình, các Giáo hoàng bắt đầu khôi phục quyền bính thiêng liêng bị lu mờ vì sự lấn áp của thế quyền. Nền tự do Kitô giáo ló dạng khi nhiều công đồng được triệu tập, tại Ravenna (967), Roma (981), Pavia (1002), nhằm vạch trần những âm mưu, những lạm dụng làm băng hoại sinh lực của hàng linh mục. Đây đó như đang bừng tỉnh. Các giám mục xứ Flandre, Lorraine, Bourgonde không ngần ngại lên tiếng phản dối những nghi lễ, tục lệ khiến các ngài phải lệ thuộc vào thế quyền. [26] Những nhà thần học như hồng y Humberto (+ 1063), những nhà luân lý như thánh Pherô Đamian (+ 1072), mớ những chiến dịch bài trừ nạn mại thánh. Dân chúng xứ Lombardia, đặc biệt ở Milan cũng nổi dậy đòi trục xuất các phần tử tham nhũng ra khỏi Giáo hội.[27] Nhiều kế hoạch được tung ra nhằm giúp giáo sĩ thành thị sống phù hợp với thiên chức mình, theo tu luật thánh Âutinh (cuộc cải cách giáo sĩ kinh điển). [28] Sau cùng, lợi dụng thời suy vi của đế chế, năm 1059 đức Thánh Cha Nicolas II (1059- 61) ban hành Sắc lệnh bãi bỏ mọi sự can thiệp vào việc bầu cử Giáo hoàng, và dành việc bầu cử cho các hồng y có chức giám mục và linh mục.[29] Tuy nhiên, để thực hiện công cuộc cải cách vừa lớn lao vừa can đảm, vinh dự này đã dành cho hai vị thánh Giáo hoàng Leô IX (1049-54) và Gregori VII (1073-85).

Khi Brunus, giám mục thành Toul (Lorraine), được nghị hội Worms tiến cử lên ngôi Giáo hoàng (1048), ngài đã cương quyết từ chối cho đến khi việc tiến cử đó được hàng giáo sĩ Roma chấp nhận: đó là đức Leô IX. Ngài bắt đầu ngay một công cuộc cải cách toàn diện với một phương pháp thật đơn giản: dựa vào mấy huấn dụ đã có trước, ngài thẳng tay sửa trị những ai cố chấp để làm gương. Đức Thánh Cha thân hành từ xứ này qua xứ nọ: Lombardia, Rhenania, Pháp, Đức, Nam Ý,… Đến đâu ngài cũng thị sát, tra hỏi, kinh lý các giám mục, và cách chức những kẻ bất xứng. Đáng chú ý nhất là vụ thành Reims nước Pháp. Bấy giờ vua Henri I không chấp nhận cho đức Leô đặt chân lên lãnh thổ của ông, nhưng ngài cứ vào. Nhân dịp cung hiến ngôi thánh đường dâng kính thánh Remi, đức Thánh Cha buộc mỗi giám mục tới dự dại lễ phải thề rằng: mình đã “không nhận cũng không phong chức cho ai bằng đường lối mại thánh”. Kết quả: 5 giám mục, trong số này có tổng Giám mục thành Reims, đã không dám thề. Tuy nhiên nhờ ở tấm lòng nhân hậu, những ai thành thật nhận lỗi đều được tha thứ. Từ đó, đức Leô đã cản lại được tệ đoan mại thánh và những vụ phạm pháp công khai.

Hoàn cảnh đã đem đến cho nhà cải cách Gregori VII một đường lối hành động khác hẳn, khiến ngài trở thành một trong những nhà lập pháp nổi tiếng của Giáo hội. [31] Hình như trong lịch sử không có vị Giáo hoàng nào bị chỉ trích và bị xuyên tạc nhiều như đức Gregori VII. Sự thực, đan sĩ Hildebrand không phải là con người bần tiện, ưa báo thù hay độc ác như đối phương thường mỉa mai trên những bức hí họa. Đức Gregori xuất thân là một đan sĩ Biển đức thánh thiện, quí trọng đức trinh khiết, yêu thích kỷ luật và có nhân đức thoát tục cao độ. Ngài hiểu rõ hơn ai hết về sự cao trọng của chức linh mục, lại có tình yêu tha thiết đối với Tòa Pherô, nên ngài quyết sống chết phải đưa hàng giáo sĩ trở về đời sống thánh thiện xứng đáng, và Giáo hội phải được hưởng một bầu khí trong lành của đức khiết tịnh và thanh liêm. Chương trình cải cách của đức Gregori nhằm hai điểm chính: xô đổ những tục lệ suy đồi và tiêu diệt nạn mại thánh.

Trên ngai Giáo hoàng, vì quá quen với đức vâng phục mau lẹ và tình nguyện theo tinh thần Biển đức, đức Gregori đã tỏ ra rất nghiêm khắc với những kẻ bất phục tùng, dù đó là đan viện phụ, giám mục hay tổng Giám mục, kể cả các vua chúa. Theo ngài, trên phương diện siêu nhiên và giáo luật, các ông hoàng không bằng một kẻ rốt hết trong hàng giáo sĩ. Nói tóm, ngài muốn gạt phăng mọi hạn chế đối với thần quyền trong phạm vi tôn giáo.[32] Ngài viết: “Chỉ mình Giáo hoàng Roma, tùy theo hoàn cảnh, có quyền công bố lề luật mới…, phân chia của cải giữa các giáo phận giầu nghèo… Ngài có quyền cách chức một hoàng đế… Không một khoản luật nào lại không do ngài. Không ai được phê phán các quyết định của ngài, nhưng ngài có quyền phân xét mọi kẻ khác. Không ai được quyền xét xử ngài, nhưng ngài có quyền tha và tháo lời tuyên thệ trung thành với những ông hoàng bất xứng”.[33]

Như thế nghĩa là đức Gregori muốn sử dụng một quyền bính, giống như quyền của một đan viện phụ trong đan viện, để thực hiện một công cuộc canh tân vĩ đại. Nhiều công đồng triệu tập ở Roma trong những năm 1074-1075 với những quyết định quan trọng: cấm hàng giáo sĩ kết hôn, huyền chức các linh mục hoặc giám mục cố chấp, bãi bỏ sự trao nhẫn gậy của vua chúa.[34] Nhiều vị khâm sai Tòa thánh được cử đi khắp nơi để thực thi các quyết định trên: ở Pháp, Huge thành Die chiếm một lãnh vực rất lớn, ông hăng say hoạt động, khiển trách và cách chức một số giám mục, Tổng Giám mục, khiến đức Thánh Cha phải can ngăn.[35] Mặc dầu những hoạt động của nhà cải cách cũng như của các vị thừa hành ngoại diện xem ra cực đoan và thiếu khôn ngoan, nhưng đứng trước một tình trạng quá thê thảm, cần phải sử dụng những biện pháp mạnh mới có thể phục hưng Giáo hội, đức Gregori đã ý thức và lãnh tất cả những trách nhiệm đó.

2. Vụ Canossa (1077) và kết quả của cuộc cải cách Gregorian

Thái độ cứng rắn nói trên là nguyên nhân gây ra vụ tranh chấp vô cùng sôi nổi giữa đức Gregori VII và hoàng đế Henry IV (1056-1106). Gregori phản đối việc nhà Vua che chở những giám mục vừa bị cách chức. Ngay từ năm 1075, cuộc tranh chấp bắt đầu, vấn đề được nêu ra là ai làm chủ Giáo hội, ai có quyền trên các giám mục và Tổng Giám mục: Giáo hoàng hay hoàng đế? Vì muốn thoát ly một “Giáo hoàng khó tính” này, lại thêm nịnh thần xúi giục, Henry cho triệu tập hai công đồng (tháng 1 năm 1076) tại Worms và Placencia, cách chức Hildebrand “Giáo hoàng giả”. Henry đã không ngờ mình sẽ phải đụng đầu với một vị Giáo hoàng, như Gregori VII. Ông cũng không ngờ rằng người mà ông đối đầu ấy sẽ không quan tâm đến cá nhân mình bị xúc phạm, cho bằng chính thánh Pherô bị lăng nhục. Chúng ta hãy đọc ở đây những lời lẽ của thánh Gregori khi lên án một ông vua (14.2.1076).

“Lạy thánh tông đồ trưởng Pherô, ngài biết tôi chỉ muôn được chết trong tấm áo tu sĩ hơn là được ngồi trên ngai vị của ngài…, bởi lẽ quyền trói buộc và tháo cởi ở trên Trời cũng như ở dưới đất mà Thiên Chúa đã trao cho tôi là do ngài xin để tôi được thi hành thay thế ngài. Được ngài tín nhiệm, vì danh dự Giáo hội phải được bảo vệ nhân danh Thiên Chúa toàn năng. Cha, Con và Thánh Thần, bằng quyền uy của ngài, tôi cấm Henry IV, con hoàng đế Henry III là người kiêu ngạo đến độ mù quáng dám đứng lên chống Giáo hội của ngài, từ nay không được cai trị đế quốc Đức nữa; tôi tuyên bố tháo lời tuyên thệ cho tất cả mọi giáo dân đã buộc mình trung thành với ông ta, và cấm mọi người không được nhận ông ta làm vua… Vả lại, ở địa vị một người Kitô hữu, ông ta đã từ chối vâng phục… bằng cách lìa bỏ Giáo hội và âm mưu chia rẽ, nên tôi thay thế ngài ra vạ tuyệt thông cho ông ta, để tất cả mọi dân thiên hạ biết rằng: trên đá này Con Thiên Chúa hằng sống đã xây Giáo hội của Người, và rằng dù tất cả quyền lực hỏa ngục có tung ra cũng không thể phá nổi”.[36]

Bản án của đức Gregori có những hậu quả, mà Henry không thể lường trước được: các lãnh chúa, các chư hầu, các giáo chủ hầu hết tẩy chay Henry: xứ Saxonia đã từ lâu muốn nổi dậy nay gặp cơ hội. Năm 1077, sau nhiều cuộc bại trận, Henry bị cô lập và chờ số phận định đoạt tại nghị hội Augsburg sẽ họp vào ngày 2.2.1078. Biết thế, Henry đánh liều, giữa một đêm đông giá rét năm 1077, ông tìm đến đức Thánh Cha Gregori trên miền núi Toscana, tại lâu đài Canossa, ông quỳ gối xin tha lỗi và giải vạ. Có lẽ Gregori đã thừa hiểu thái độ “đóng kịch” của nhà vua, nhưng vì ngài còn mang trong mình mối thiện cảm đối với các tiên đế, đối với mẹ ông, thái hậu Agnes, ngài cũng muốn đặt niềm tin vào tuổi trẻ của ông; nhất là vì ngài là linh mục của Chúa Kitô, trọng tình thương hơn trừng phạt: đức Gregori đã giải vạ cho Henry.

Được giải vạ xong, và sau khi khôi phục được ngôi vị, nghĩa là chỉ mấy tháng sau, Henry triệu tập quân sĩ quyết báo thù kẻ đã thi ân cho ông. Năm 1080, cái chết trên chiến trường của Rodolphus, vị hoàng đế được khâm sai Tòa thánh nhìn nhận, đã tuyên truyền như một cái án của Thiên Chúa. Thêm vào đó, hàng giám mục Đức và Lombardo cũng đứng sang phe Henry, tuyên bố hạ bệ “Giáo hoàng giả Hildebrand” và cử giám mục thành Ravenna lên ngôi Giáo hoàng, tức Clementê III. Gregori cương quyết không chịu thua, suốt 3 năm còn nắm giữ giáo đô, ngài cầm cự với quân sĩ của Henry, rồi bị công hãm trong thành quách Thiên thần. Phút cuối cùng, được 30.000 quân Normand của Robert Guiscard giải vây, nhưng đức Thánh Cha từ trần tại Salerno ngày 25.5.1085. Henry IV lãnh vương miện bởi tay Giáo hoàng giả Clementê. Cứ ngoại diện mà xét thì Henry đã thắng vẻ vang. Nhưng sự nghiệp của các vĩ nhân không chỉ xét theo kết quả của những thủ đoạn xảo trá, những hành động của bạo lực. Tuy bị phản bội và phải bỏ thân nơi lưu lạc, nhưng chính vì cái chết cho công lý và chân thiện mà Gregori được coi là kẻ chiến thắng oanh liệt. Gregori đã chết, nhưng cuộc “cách mạng Gregorian” thành công. Gọi là cuộc cách mạng, vì nó biến đổi bộ mặt và những tục lệ của hàng giáo sĩ, cải cách các cơ cấu tổ chức, thoát ly khỏi áp lực thế quyền, thu hồi quyền tự do độc lập cho Giáo hội và ngôi Giáo hoàng, đặc biệt là nêu cao thần quyền tuyệt đối của Giáo hội.

Do cuộc canh tân Gregorian nói trên, tục lệ trao nhẫn gậy dần dần biến tan, chỉ còn ý nghĩa tượng trưng tại hai nước Pháp và Anh. Nhưng các người kế vị Henry IV (+ 1106) còn nuôi tham vọng giữ lại tục lệ đó. Đức Thánh Cha Pascal II (1099-1118) nhất quyết không chấp nhận, ngài tuyên bố thà bỏ hết mọi thái ấp, mọi quyền lợi trần gian. Kết quả: Henry V (1106-25) bằng lòng từ bỏ mọi nghi thức trao nhẫn gậy (1106). Tuy nhiên, mãi đến triều Giáo hoàng Calixtô II (1119-24), một thỏa hiệp mới được ký kết tại Worms (1122), theo đó các lễ nghi có ý nghĩa phục tùng thế quyền phải bãi bỏ hẳn, và vị giám mục sau khi được tuyển chọn theo giáo luật, sẽ nhận bởi tay các vị lãnh đạo Giáo hội mọi quyền thiêng liêng cùng với nhẫn gậy, tượng trưng cho quyền đó. Vị tân giám mục, với danh nghĩa một công dân, có thể được hoàng đế trao cho những quyền lợi thế tục, mà chiếc phủ việt là biểu tượng. Như vậy, thần quyền và thế quyền nơi các giám mục đã được phân định rõ rệt, từ đấy quyền bính của nhà Vua cũng bị hạn chế trong phạm vi nhỏ bé hơn. Năm 1123, đức Thánh Cha Calixtô II triệu tập đại Công đồng Latran I, chấp nhận thỏa hiệp Worms, quyết định chế độ độc thân giáo sĩ, tuyên bố bất thành các cuộc hôn nhân của linh mục, phó tế và phụ phó tế.

3. Vấn đề nội bộ: người Roma chống Giáo hội Roma

Cũng như trong nhiều thế kỷ trước, Giáo hội không những đối phó với kẻ thù bên ngoài, mà còn gặp phải những kẻ thù ngay bên trong. Tướng Crescentius (+ 998) nổi dậy âm mưu thiết lập nền Cộng hòa Roma, giết đức Thánh Cha Biển đức VI (973-974), cùng với Giáo hoàng giả Bonifaciô VII (974-986) [37] uy hiếp Biển đức VII (974-983), giết đức Gioan XIV (983-984). Rồi đến vụ Philagatus (997-998) chiếm quyền Giáo hoàng của đức Gregori V (996-999). Năm 1000, mặc dầu đã có Otton III dùng hết uy quyền để bảo vệ, đức Thánh Cha Sylvestrê II (999-1003) cũng phải bỏ Roma lánh nạn nơi đồn trú của quân hoàng gia. Những cuộc biểu dương lực lượng của Henry II, Conrad II và Henry III không đủ sức tiêu diệt “phiến loạn”.[38]

Người ta hy vọng sẽ dập tắt mọi bạo hành, khi những “phiến loạn” Theophylaco và Crescentius không còn, khi thế quyền bị gạt ra ngoài các cuộc bầu cử Giáo hoàng, và khi việc bầu cử này được trao cho hồng y đoàn (1059). Lẽ ra vì ích chung Giáo hội, các vị này phải can đảm loại bỏ những thành kiến và hận thù. Nhưng không luôn được như vậy, đó là nguyên nhân những vụ bất hòa tạo nên nhiều “Giáo hoàng bất xứng”, có tên trong danh sách các đấng kế vị thánh Pherô.

Cảnh chia rẽ xảy ra một cách hết sức bất ngờ vào ngày 14.2.1130, khi đức Honoriô II (1124-30) vừa nằm xuống. Duyên do từ việc các hồng y giám mục đồng ý tôn Innocentê II (1130-43) lên ngôi Giáo hoàng, bị các hồng y linh mục phản đối sau khi bỏ phiếu bầu Pedro thành León, tức Anaclet II. [39] Innocentê có nhiều uy tín cá nhân, trái lại người ta lo ngại đức tính gian hùng của Anaclet và còn chê ông thuộc dòng dõi Do Thái. Thánh Benađô và thánh Norbert tuyên bố ủng hộ Innocentê và thuyết phục được hầu hết các vua Tây phương: Pháp, Đức, Castilla, Aragon, Anh. Trước con mắt thế giới Công giáo, Innocentê là Giáo hoàng chính thức. Nhưng chính ngài đã phải trả bằng một giá rất đắt là chịu lưu đày. Được các vua kính trọng, các dòng tu đón rước nồng hậu, ngài cư trú tại Cluny một thời gian, rồi đi Liége, St-Denis, Reims, tại đây ngài xức dầu phong vương cho Louis VI (1133).

Anaclet mất năm 1137, Victor IV lên kế vị, nhưng tính tình nhút nhát, ông bằng lòng nhượng bộ và rút lui, nhờ đó đảng phái mới yên (1138). Đức Thánh Cha Innocentê II trở về Roma, triệu

[37] Bonifaciô VII chết bất đắc kỳ tử năm 985, xác ông được quàn tại công trường tượng đài hoàng đế Constantinus, đến sau được mấy linh mục đem chôn cất. Năm 996, vua Otton III đánh bại Crescentius để phục quyền cho đức Gregori V. Nhưng khi Otton III vừa đi khỏi, Crescentius lại trở về Roma, nhưng bị công hãm trong thành quách Thiên thần, phải đầu hàng và bị giết năm 998.

tập đại Công đồng Latran II (1139). Nhưng người Roma lại vùng dậy đòi quyền tự chủ và được hoàng

Còn Tiếp


[1] Lòng sùng kính của giáo dân thời trung cổ, nhiều khi không quan tâm đến sự thật của những “hài cốt” mà họ kính.

[2] Một giáo phái có từ thế kỷ I , luân lý rất phóng túng