LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – số tháng 7, 2019

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Tiếp Theo

2. Sự can thiệp của hàng Giáo phẩm

Giờ ra tay can thiệp của Giáo hội đã điểm. Trong các cuộc xâm lăng, quân Man di đi tới đâu đều coi tất cả những gì có bóng dáng Roma là thù địch, không phân biệt tôn giáo hay chính trị, chúng đốt phá đô thị, làng mạc, thánh đường, tu viện, càn quét dân lành, khiến mọi người chỉ biết bỏ chạy, cam chịu số phận. Hàng giáo sĩ cũng phải chịu chung số phận: tù đày hoặc làm tôi. [22] Các vị tỏ ra bất lực trước cảnh thiêu hủy thánh đường, cướp phá tài sản Giáo hội, cùng những cách đối xử tàn tệ, dã man đối với chức bậc trong Hội thánh. Việc phượng tự phải ngưng, trật tự không còn nữa. Đó là tình trạng đầu thế kỷ V tại miền Bắc Gallia và xứ Rhenani, cũng như ở Britannia, Tây Ban Nha và Phi châu, rồi ở Illyria và Ý Đại Lợi.

Trước cảnh xáo trộn bất ngờ, phản ứng của hàng giám mục tất nhiên là khác nhau. Đọc lại bút tích của nhiều đấng thánh, như thánh Gieronimô, thánh Ambroxiô…, người ta thấy có những lời than tiếc, trách móc, trước những tàn phá khiến bao người vô tội bị giết, bao giáo sĩ phải tù đày, bao thánh đường bị triệt hạ hay bị tục hóa. Lòng ái quốc mãnh liệt lắm lúc thúc đẩy các ngài dùng những danh từ thậm tệ để chỉ đám người man rợ. Thánh Gieronimô gọi họ là “dã thú”. Thánh Ambroxiô cho họ là những quân tham lam và nhục dục, chứ không có tâm tình của con người. Tuy nhiên, chúng ta thấy có nhiều vị giám mục khác thực tế hơn. Với tư cách chủ chăn, các ngài tìm hết cách bảo vệ thành trì, hoặc bằng điều đình, hoặc bằng quân sự.

Thánh Germanô thành Auxerre (+ 448), bấy giờ đã gần 70 tuổi, trên đường truyền giáo từ Britannia trở về, vừa bước chân lên đất quê hương đã được tin đồng bào miền Tây Gallia lọt vào tay phá hoại của quân Alano. Thánh nhân liền đích thân giáp mặt viên lãnh tụ ngài yêu cầu, ngăm đe…, và kết quả quân sĩ Alano bằng lòng rút lui.[23] Cũng trong hoàn cảnh tương tự, năm 452 thánh Giáo

hoàng Leô liều mạng đi tìm Attila trên bờ sông Mincio để điều đình, và Attila đã chịu triệt thoát, để lại những cái liếc nhìn kinh thành Roma hoa lệ giầu sang một cách thèm thuồng. Ba năm sau, cũng trường hợp ấy thánh nhân ra đón và điều đình với Gensericus vua Vandal tại cửa thành.[1]

Những hành động can đảm anh hùng như thế cần phải có nhẫn nại và hy sinh. Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng các giám mục đi gặp các kẻ chiến thắng chỉ là để xin sự khoan hồng hay đầu hàng. Các ngài còn đóng vai trò lãnh tụ. Là những người bảo vệ các đô thị theo đúng nghĩa, các ngài lo việc tiếp viện, chỉ huy công cuộc phòng thủ, đề phòng hỗn loạn, lên án các vụ khủng bố. Trong thời xâm lăng lần thứ nhất, khi tất cả các đô thị lớn của miền Nam Gallia trở thành đống tro tàn do những bàn tay dã man của Man di, thì thành Toulouse lại thoát được tai ương chung do sự khéo léo của thánh Euxuper, giám mục thành đó. [2] Với một lòng dũng cảm không kém, thánh Lupô dưới thời Altila, cũng đã tỏ ra là vị cứu tinh của thành Troyes. Hành động của thánh Aignan có lẽ quyết liệt hơn cả, khi thành Orléans bị quân Huno bổ vây, thánh nhân đã cầm cự cho tới khi tướng Aetius kịp đem quân Roma tới cứu viện.[3]

Đó là vai trò của các giám mục nổi tiếng trong giai đoạn nhiễu loạn này. Với khả năng sẵn có, các ông nắm vững được quần chúng, khuyến khích và an ủi họ, cứu giúp dân vô tội. Các ngài còn làm cho những người man rợ tàn bạo nhất đón nhận quyền uy của Kitô giáo và thiên chức cao trọng của bậc linh mục. Hàng ngày các vị phải tốn nhiều công để chặn lại những khốn khổ sập đến, và làm giảm đi những khốn khổ đang có. Thánh đan viện phụ Severin (+ 507) suốt đời đã đóng vai trò ấy. Làm tông đồ xứ Noriea, thánh Severin trong 30 năm lo bảo vệ dân chúng sống trong vùng từ Salzach đến rặng Alpes. Xứ Norica bấy giờ bị quân Ruges chiếm đóng, hoàng hậu là một tín đồ giáo phái Arius. Nhưng thánh nhân luôn bênh vực quyền lợi của dân công giáo, nâng đỡ thân phận họ, đòi các ông hoàng trong xứ phải tôn trọng.[4]

Khi tình thế lắng dịu, các giám mục miền Tây Gallia còn phải lo đến việc hồi hương, hoặc trao đổi tù binh giữa người Burgundo và Visigot. Việc chuộc lại các kẻ bị bắt làm tôi sẽ là một trong những công cuộc lớn lao của Kitô giáo thời đó. Sự phục hồi cho họ các quyền lợi gia đình hoặc tôn giáo, cũng như sự nâng đỡ họ về vật chất, đều là những mối lo Âu của hai thánh Giáo hoàng Leô và Gregori.[28]

Sự việc đã rồi ! Người Man di dầu sao đã trở thành những “chủ nhân ông”! Sau những phút tiếc xót Roma huy hoàng tráng lệ, người ta đành để Roma sa đọa và mê tín được tống táng luôn trong dịp này. Hội thánh nghĩ tới cuộc “chinh phục” đám người chiến thắng, mà Chúa Quan phòng gởi đến.

3. Những thí nghiệm sống hòa bình với Man dân

Tình thế bất ổn và thê thảm này không thể kéo dài mãi được. Sau một thời đố kỵ và bách hại nhau, cần phải tìm cách để thông cảm. Cả đôi bên đều nghĩ như thế. Mỗi khi về phía ông vua Man di có thái độ hào hiệp muốn điều đình, hàng giáo sĩ công giáo tức khắc đứng lên đáp ứng ngay. Ở Phi châu, mặc dầu là nơi hàng giáo sĩ đã nhiều phen chịu ngược đãi một cách có hệ thống và dã man, nhưng khi các vua Vandal như Hunericus, Gontamond, Thrasamond, muốn hòa giải với hàng giám mục, liền có ngay một vị đứng ra đảm nhận cuộc đàm phán với tất cả thiện chí.[5] Chỉ trừ xứ Britannia, nơi người công giáo cứ trốn tránh và tỏ ra bực tức không chịu sống chung với dân Saxon và Anglo, tức những dân mà họ gọi là “quân xâm lăng đáng kinh tởm”.[6] Nhưng ở lục địa, đối với dân Lombardo vốn là thù địch man rợ nhất, thánh Gregori đã thà chịu mang tiếng bội phản với Byzantin, hơn là chấp nhận một chính sách diệt chủng. Hai cuộc thí nghiệm sống chung hòa bình đáng chú ý nhất, được đem thực nghiệm với người Burgundo ở Gallia và Ostrogot ở Ý Đại Lợi.

Tính tình ôn hòa tự nhiên của người Burgundo và sự khôn ngoan của các giám mục, đã tạo được một sự thông cảm nhau một cách thành thực và nghĩa hiệp. Nếu có những ông hoàng hiếu hòa như Gondebaud từ chối theo đạo Công giáo, thì ít ra các ông vẫn giữ được tình hữu nghị, đến độ thân thiện với các vị đại diện của Giáo hội, như thánh Avit thành Vienne (Dauphiné).[7] Kết quả là không có gì đáng tiếc xảy ra, mỗi khi có vụ từ giáo phái Arius trở về với Công giáo đặc biệt nhất dưới triều Sigismond, người kế vị Gondebaud (công đồng Epaone, 517).

Sự kiện không được như thế trong các xứ thuộc quyền Goth. Tuy nhiên, sáng kiến của Alaricus II (9484-507) và sự vô tư của Theodoricus I (493526) đã thành công nhờ ở sự sáng suốt của thánh Epiphan thành Pavia và nhất là sự tận tâm của thánh Cesariô thành Arles. Nếu người ta đã đạt được một chính trị hòa giải rộng rãi và tốt đẹp giữa Giáo hội và chính quyền Man di, thì đó một phần là do công nghiệp của vị đại giám mục nói trên. Khoảng từ năm 513 đến 529, đạo Công giáo tại các khu vực thuộc quyền Theodoricus có uy tín đặc biệt. Nhiều công đồng được triệu tập, lễ cung hiến nhiều đại thánh đường mới được tổ chức long trọng, sự hợp tác chặt chẽ giữa các công chức cao cấp và hàng linh mục. Ai cũng cho đó là điềm báo một tương lai tốt đẹp lâu bền.[8]

Tuy nhiên, không hoàn toàn đúng như vậy, vì ngay trong thời thái bình nhất của hai triều Alaricus II và Theodoricus, không thiếu những ngộ nhận tai hại đi đến căng thẳng. Đó là vì về phía các tướng lãnh theo giáo Phái Arius vẫn có thái độ nghi kỵ đối với hàng giám mục; rồi bất ngờ xảy đến những vụ tố cáo làm hại uy tín các vị đại diện cao cấp của đạo Công giáo. Thánh Cesariô bị buộc tội ba lần, Boecius bị án tử hình (524). Đức Thánh Cha Symmacô (498-514) phải vất vả lắm mới thoát được sự đe dọa truất chức; đức Gioan I (523-526) bị Theodoricus tống giam và chết trong ngục. Những vụ như thế chứng tỏ kết quả mong manh của các cuộc hòa giải, đã được coi là đầy thiện chí. Đấy cũng là một bằng chứng để người ta biết muốn tiến tới hòa bình thật sự, cần phải tìm một giải pháp khác. Song người ta khó có một giải pháp hữu hiệu nào, bao lâu còn hai tôn giáo xung khắc nhau, còn hai dân tộc khác biệt nhau phải sống sát cánh trên cùng một giải đất, nhưng nhất định không chịu đội trời chung.

Làm cho các lãnh tụ Man di kính nể và thiện cảm với mình mà thôi chưa đủ; cần phải cảm hóa cả khối Man dân nữa bằng một công cuộc truyền giáo. Đó là sứ mạng của các giám mục và của các dòng tu trong Hội thánh. Sự nghiệp của các dòng tu trong công cuộc này, chúng tôi sẽ nói riêng ở chương sau. Ở đây, chúng tôi chỉ bàn đến những cuộc theo đạo Công giáo có ảnh hưởng lớn nhất trên đất Gallia, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, Britannia, do công của những vị giám mục thời danh, mà Chúa đã sai đến để mở đầu cho công cuộc Kitô hóa Âu châu Man di.

III. CÔNG CUỘC CẢM HÓA MAN DÂN

1. Vua Clovis và dân Franc theo đạo Công giáo

Sự theo đạo của Clovis vua dân Franc (481-511) là biến cố trọng đại nhất trong lịch sử cảm hóa Man dân. Clovis được quân sĩ tôn lên làm vua khi ông mới 15 tuổi, chứng tỏ ông sớm là một võ quan xuất sắc và chiếm được cảm tình của dân chúng. Các giám mục công giáo đặt nhiều tin tưởng nơi ông. Thánh Remi (437-533), tổng giám mục thành Reims, gởi cho nhà vua một lá thư bàn về cách trị quốc an dân, trong đó ngài lưu ý nhà vua nên thông hảo với các giám mục. Giáo phái Arius cũng giòm ngó Clovis, vì ông đã có hai người con gái theo giáo phái này, trong đó có Arboflède kết hôn với Theodoricus I.

Yếu tố quyết định nào đã khiến Clovis theo đạo Công giáo? Thật khó nói. Hình như có mưu toan chính trị trong đó, vì ông thừa hiểu bức tường ngăn cách giữa dân Franc và Gallo-roman là tín ngưỡng. Nếu ông đứng ra bênh vực Công giáo, ông sẽ thu hút cả vạn dân đinh nấp bóng các tòa giám mục và đan viện. Như vậy, ông hy vọng sẽ có một liên minh để đương đầu với dân Visigot. Nhưng cũng phải kể đến ảnh hưởng của hoàng hậu công giáo Clotilda, một thiếu nữ thùy mị và đạo hạnh, công chúa của Chilpericus, vua Burgundo. Thêm vào đó, ảnh hưởng của các giám mục thánh thiện được ông mời làm cố vấn. Sau cùng, một biến cố đã làm ông ngả hẳn về phía Công giáo: trong khi giao tranh với quân Alaman tại Tolbiac (496), Clovis kêu cầu Đấng “Thiên Chúa của Clotilda” và hứa sẽ chịu phép Rửa nhân danh Ngài”. Sau khi thắng trận, ông giữ lời và học đạo với thánh Remi. Đêm Giáng sinh 498, Clovis chịu phép Rửa, cùng với 3.000 tướng tá và binh sĩ.[9]

Công giáo từ nay có cánh tay bảo vệ Thánh Gregori thành Tours không ngại ví Clovis như Constantinus thứ hai. Khi đẩy lui quân Visigot khỏi miền Nam sông Loire, Clovis đã làm một việc có mầu sắc tôn giáo: “Trẫm rất buồn thấy lạc giáo Arius còn chiếm giữ phần đất xứ Gallia”. Thế là quân Visigot, rồi Burgundo, bị quét khỏi đất Gallia, và quốc hiệu được cải là France (Pháp quốc). Tài sản Giáo hội được trả lại, hàng giáo sĩ được mời tham gia việc kiến thiết quốc gia. Thánh Avit viết: Đức tin của đức vua là chiến thắng của chúng tôi”. Từ đây, các giám mục Pháp quốc không nghĩ đến việc cầu cứu Byzantin nữa, không còn hướng về một ông hoàng xa xôi, tôn ti và ít thực tế nữa. Các ông cũng như giáo dân nhìn vào Clovis và các người kế nghiệp ông, như những người hạn “chinh phục” được, hoặc như những ông hoàng do Chúa Quan phòng sai đến.

Sự theo đạo của dân Franc rất ảnh hưởng tới các dân lân cận, trong khi ảnh hưởng chính trị của họ mỗi ngày tăng thêrn. Vua Clovis và bốn con là Didericus, Clodomir, Childebertus, Clotarius dã lần lượt chinh phục các dân Visigot, Burgundo, Thuringio và Bavar. Đế quốc Franc bành trướng tới đâu, ngọn cờ Thánh giá phất phới đến đấy, không những phục hưng đạo Công giáo trong khắp nước Pháp mà còn mở đường cho ánh sáng Phúc Âm lọt vào các miền giữa hai sông Rhin và Danube nữa. Từ năm 532, dân Franc thống trị một vương quốc bao trùm các xứ Gallia, Belgica, Rhenani, Thuringia và một phần Bavaria. Nhờ thế, họ có thể bênh vực Tây phương khỏi giáo phái Arius và sự đe dọa của Hồi giáo sau này.

Về phần Giáo hội cũng hết sức khôn ngoan, hòa mình với hoàn cảnh mới của xã hội Franc. Dân này khi không đánh giặc thì lo cầy cấy, ít ở thành thị, ưa trồng trọt và chăn nuôi. Do đó, Giáo hội cũng hướng về đồng quê, tổ chức giáo xứ, lập tòa giám mục, xây thánh đường, trường học, bệnh viện… Cuối thế kỷ VI, trong toàn cõi vương quốc Franc đã có 11 tổng giám mục và 125 giám mục, Giáo hội còn triệu tập nhiều công đồng miền (như Vaison, 529; Arles, 541; Charles-sur-Sault, 650) hoặc toàn quốc (Paris, 614), trong dó bao giờ cũng có những ông hoàng tham dự (không đầu phiếu). Các sắc lệnh thường được nhà vua phê chuẩn để có hiệu lực như những đạo luật quốc gia.

Công đồng Vaison (529) đã bàn rất nhiều về sự đào tạo thanh niên lên chức thánh; đưa ra nhiều khoản về đời sống và chức linh mục, như cấm mang bầy chó đi săn, đừng lên chức vì ân thưởng hay hối lộ, đừng ăn vận bất xứng, đừng mê tín bói khoa, nhưng hãy chăm lo săn sóc người bần cùng, đau yếu, nhất là phong cùi; giáo dân phải kiêng việc đồng áng ngày chúa nhật. Nói tóm, các công đồng từ thế kỷ VI đến VII đều cho mọi người thấy, sự hăng say và lòng nhiệt thành của hàng giám mục đối với việc truyền giáo và săn sóc các linh hồn. Nhờ vậy trong khoảng một thời gian vắn, dân Franc theo đạo Công giáo khá đông. Và ngay từ thời này, Giáo hội Franc đã có nhiều đấng thánh. Trong hàng Giáo phẩm, giáo sĩ: ngoài thánh Avit (+ 518), thánh Remi (+ 533), thánh Cesariô (+ 543), còn có rất nhiều vị khác, như Vedastô (Waast), Clodoalđô (Cloud), Patern (Pair), Germanô, Eligiô. Rồi đến vua Sigismond (+ 524), vua Gontran (+ 593) là những đấng thánh Tử đạo, cùng với các giám mục Pretextat, Prejectat (Priest), Leudegar (Léger). Nữ giới cũng không thiếu đấng thánh, trước hết có thánh nữ Geneviève (+502), sau đó là những hoàng hậu thánh: Clotilda, Rađegunda, Bathilda.

2. Dân Visigot ở Tây Ban Nha và dân Lombardo ở Ý Đại Lợi

Đầu thế kỷ V, trên bán đảo Iberica đã có mặt những đám dân Alano, Vandal, Suevo, đến sau thêm Visigot. Nhưng Vandal và Alano năm 428 xuống thuyền sang Phi châu. Trung tuần thế kỷ, dân Suevo ngoại giáo cùng với vua Richiar (448456) theo Công giáo khá đông. Nhưng khi Richiar mất, dân Suevo dần dần theo bè Arius, nhất là từ năm 466 khi vua Remismundo nghiêng theo giáo phái đó, khiến Hội thánh Công giáo phải qua một giai đoạn thử thách cả nửa thế kỷ. Tuy nhiên, các giám mục luôn theo dõi tình thế, triệu tập nhiều công đồng (Tarragona, 516; Gerona, 517) để tổ chức hàng giáo sĩ và phụng vụ, bắt liên lạc với Tòa thánh, đặt ra những luật lệ tuyển chọn giám mục, phối hiệp các hành động của dân Chúa. Nhờ những lời rao giảng kèm theo phép lạ, dân Suevo vào khoảng từ năm 550 bắt đầu trở lại Công giáo, nhất là từ khi vua Theodomir xin chịu phép Rửa năm 562, và đó là công rất lớn của thánh giám mục Martin thành Braga (người xứ Pannonia).[10]

Mấy chục năm sau, đến lượt dân Visigot bỏ bè Arius xin theo đạo Công giáo với vua Recaredo, do ảnh hưởng của thánh Leandro (+ 596). Thánh nhân đã dàn xếp cho Ilgonda, người công giáo kết duyên với thái tử Hermenegildo. Ilgonda rất khổ sở bởi mẹ chồng hăm dọa đủ điều, nhưng nàng khéo dụ được Hermenegildo theo chính giáo (579). Sau đó, thái tử chống lại sự bách hại đạo của vua cha Leovigildo (573-586), nên bị giết chết (tử đạo 584). Tình hình đen tối một thời, vì Leovigildo rất xảo quyệt: ông khéo léo không ép người công giáo phải “Rửa tội lại”, mà chỉ cần đặt tay” thôi. Công đồng giáo phái Arius ở Toledo năm 580 chấp nhận, vì giám mục công giáo Vicente thành Saragoza mắc lừa. Năm 585 Leovigildo sai quân đánh chiếm vương quốc công giáo Suevo. Nhưng trước khi chết, ông đã tỏ ra hối hận, và cho mời các giám mục lưu đày trở về, cùng xin hai giám mục Leandro và Fulgencio làm cố vấn cho Recaredo.

Recaredo, con thứ của Leovigildo, lên nối ngôi cha (586-601) và theo đạo Công giáo năm 587, lôi kéo cả dân Visigot. Từ khi các vua Visigot theo đạo, chính quyền thường triệu tập đại hội ở kinh thành Toledo, soạn thảo những luật pháp rất tiến bộ. Vì có các giám mục tham dự, nên đại hội thảo luận và ấn định nhiều vấn dề tôn giáo. Thánh Leandro đóng vai chủ yếu trong việc soạn thảo các huấn lệnh tại đại hội Toledo (589) và Saragoza (592). Sự “tiếp nhận” các giáo sĩ Arius và hàng giáo sĩ công giáo, rồi thái độ phải có đối với những phần tử Do Thái, là hai vấn đề lớn nhất của các vị lãnh đạo Giáo hội Tây Ban Nha. Vấn đề thứ hai, vì có yếu tố dân tộc rất tế nhị, nên không bao giờ giải quyết ổn thỏa. Các vua Tây Ban Nha phải dùng đến những biện pháp khi quyết liệt khi ôn hòa, song không một giải pháp nào đem lại kết quả, nên công việc kéo dài cả chục thế kỷ sau.

Các công đồng ở Tây Ban Nha trong những thế kỷ VI và VII có một khung cảnh rất tôn nghiêm. Có nhà vua đến tham dự, nên công đồng mang nhiều quyền hành, đôi khi chỉ định cả người lên ngôi báu, tham gia chính trị, và được triều đình kính nể. Giáo hội Tây Ban Nha do đấy sẽ trở thành một Giáo hội hành động, nhiệt thành và “công giáo” nhất.

Dân Lombardo ở Ý Đại Lợi theo đạo Công giáo từ đầu thế kỷ VII do sự khéo léo của đức Thánh Cha Gregori Cả (590-604), làm cố vấn cho hoàng hậu công giáo Theodelinda (+ 625), vợ vua Atauricus. Năm 592 Atauricus mất, các quan triều đình dành quyền cho Theodelinda chọn một người lên ngôi báu và tái giá với tân vương đó. Bà đã chọn Agilulfus quận công xứ Turino. Ông này theo giáo phái Arius, nhưng bà đã thuyết phục được chồng trở lại Công giáo (603), và dân Lombardo theo đạo rất đông. Từ đấy Giáo hội được nhiều của cải đất đai, các giám mục bị tù đày trở về địa phận và được kính trọng như xưa. Trung tuần thế kỷ VII, dưới triều Bertarid, đạo Công giáo trở thành quốc giáo của dân Lombardo.

Nhưng cuối thế kỷ VII, các vua Lombardo muốn thống trị cả bán đảo Ý Đại Lợi, trong khi các đức Giáo hoàng cố gắng lo cho dân Ý được tự chủ. Do đấy, có sự bất bình giữa Tòa thánh và nhà Vua. Năm 752, Astolfus (749-756) chiếm Ravenna và định xâm nhập đất nước Giáo hoàng. Đức Thánh Cha Stephan III (752-757) phải cầu cứu Pépin vua Franc (751-768). Pépin sang đánh Astolfus và bắt ký một hòa ước (754). Nhưng khi quân Franc vừa rút về, Astolfus lại đe dọa Roma, Pépin đem quân sang lần nữa hạ Astolfus (756), và dâng cho đức Thánh Cha xứ Ravenna cùng năm tỉnh (pentapole): Rimini Pesaro, Fano, Senigallia, Ancona. Đó là nguồn gốc nước Tòa thánh, vương quốc Lombardia suy yếu dần, bị Charlemagne tiêu diệt hồi năm 774.[11]

Còn Tiếp


[1] Prosper : Chronic. 452 và 455.

[2] Thánh Gieronimô: Epist. CXXIII, 15.

[3] Grégoire de Tours: Hist. Franc. II, 7 – Xc Vie de saint Augustin, MCH. Merov. III, 108

[4] Eugippius: Vie de saint Séverin (Corpus de Vienne, VIII) [28] Sự can thiệp của Deogratias trong việc cứu những người bị Gensericus bắt từ Roma dẫn đi (455), xem Victor de Vite: op. cit. I, 8; sự can thiệp của thánh Epiphan thành Pavia trong việc chuộc lại các tù nhân người xứ Ý Đại Lợi (459), và của thánh Cesariô trong việc cứu dân xứ Orange bị lưu đày (511). Thánh Leô: Epist. CLIX và CLXVI. Thánh Gregori: Epist. VII, 13.

[5] Victor de Vite: op. cit. II. 55-56 Vita S. Fulgentii XX.

[6] Bêđa: Hist. Eccl. I, 22.

[7] Grégoire de Tours: op. cit. II, 34

[8] G. de Plinval trong Hist de l’Église (Fliche – Martin), IV. tr 407-411 – A. Malnory: op. cit. , tr 99 và tiếp, 130- 132.

[9] Grégoire de Tour: op. cit. II, 29-30.

[10] Isidoro de Sevilla: Hist. Got. 50 – Grégoire de Tours: op. cit. V. 38 – Xem Leclercq: L’Epagne chrétienne, Paris 1906.

[11] Aigrain, trong Histoire de l’Église (Fliche – Martin) Q. V, tr 412-430 và Amann, Q. VI, tr 17-68 – Xem L. Duchesne: Les premiers temps de l’État pontificalm, 1971.

[12] Aigrain, trong Histoire de l’Église (Fliche – Martin) Q. V, tr 412-430 và Amann, Q. VI, tr 17-68 – Xem L. Duchesne: Les premiers temps de l’État pontificalm, 1971.