LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – SỐ THÁNG 8, 2018

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP – Tiếp Theo

  1. Cuộc bách hại tinh thần của giới trí thức: Celsus (thế kỷ II)

Ngoài những khổ hình chết chóc do các vua gây nên cho Giáo hội, người Kitô hữu còn phải chịu một cuộc bách hại về tinh thần từ giới trí thức tung ra những luận điệu đả kích, vu khống và nhạo báng. Năm 150 Pronton thành Cirta (166), bạn thân của Antoninus-Pius và là thày dạy Marcus-Aurelius, dám bịa ra câu truyện người có đạo đã lấy bột bọc trẻ em và bắt những người tân tòng đâm vào trái tim lấy máu uống, còn họ thì chia nhau ăn thịt. Ông cũng tố cáo những bữa ăn chung, những buổi hội họp của dân Kitô giáo là bất hợp pháp, đầy nghi ngờ và dâm ô. Rồi đến Lucianus Samosat (167) chuyên bôi nhọ và chế diễu các đấng tử đạo. Khoảng năm 170, một phong trào đả kích và tẩy chay Giáo hội xuất hiện, khi triết gia Celsus viết cuốn sách nhan đề Chứng minh sự thật (Démonstration de la vérité).[7]

Cuốn sách chia làm bốn phần.

Phần I: một người Do Thái minh chứng dân

Kitô hữu không hiểu gì về vấn đề Cứu thế,

Phần II một người ngoại giáo chỉ trích Do Thái giáo, nhân đó công kích và mỉa mai người Kitô hữu;

Phần III: một loạt bài chế diễu đức tin về các phong tục Kitô giáo, coi tất cả là giả tạo;

Phần IV: tìm cách hợp thức hóa việc phượng tự của Kitô giáo.

Nói tóm, Celsus đã đem hết khả năng vào việc nhạo báng và đả kích đức tin, đưa ra những lý luận có phương pháp về các dữ kiện trong Thánh Kinh và các vấn đề siêu hình. Celsus coi việc Thiên Chúa Nhập thể như một điều không thể tưởng tượng được, ông làm hết sức để hạ giá Ngôi vị của Chúa Cứu Thế và các tông đồ, coi việc các ông đi rao giảng Tin Mừng chỉ là họa lại những tư tưởng  của Platon, hoặc ôn lại những truyền kỳ trong thần thoại.

Celsus, một triết gia thấm nhuần văn hóa Hy Lạp, ưa nhìn vào cái người ta gọi là “kiểu thức” (style) của tín ngưỡng, hơn là để đến sự thật thâm sâu và giá trị tinh thần của nó. Vì thế ông thông hiểu được tính chất “khiêm nhu” của Kitô giáo. Celsus không thể quan niệm về khiêm nhường, hãm mình, hy sinh. Tuy nhiên, ông đã phải chấp nhận người Kitô hữu có đời sống luân lý cao hơn những người khác. Nhưng vì muốn tỏ ra mình bao giờ cũng hữu lý, ông lên án Kitô giáo là đạo của bọn ngu dốt, cặn bã xã hội, và là đạo phản quốc gia, xã hội.

Là đạo của bọn ngu dốt, cặn bã xã hội ư ? Celsus có lẽ không đọc kỹ Thánh Kinh. Tưởng ông không cần gì phải mất công viết sách biện bác một cách công phu và tỉ mỉ, nếu thật Thánh Kinh chỉ là món ăn tinh thần của lũ dân ngu dốt. Nhưng chính vì ông ta nhận thấy ảnh hưởng Kitô giáo đã lọt vào mọi giai tầng xã hội, và cái vẻ đẹp huy hoàng của nó được những người có óc suy nghĩ lưu tâm, nên ông mới phải ra tay làm công việc đả kích, một việc làm thực sự chỉ để bôi nhọ và nạt nộ.

Là đạo phản quốc gia, xã hội ư ? Celsus trách người Kitô hữu trốn tránh trách nhiệm trong cộng đồng quốc gia. Nhưng ai đặt họ ra ngoài vòng pháp luật, ngoài lề xã hội ? Trong thời bách hại, một quan tòa trách một vị giám mục đã khuyên nhiều thiếu nữ xa cuộc hôn nhân, làm suy giảm dân số. Nhưng người ta không biết rằng, khi lên án tội phá thai giết con, Giáo hội đã làm tăng dân số cho đế quốc gấp bội con số không đạt được, do lời khuyên sống độc thân. Đàng khác, Tertullianus nhấn mạnh lương tâm người Kitô hữu không được trốn thuế.[8] Còn vấn đề nhập ngũ, ông Origenes giải đáp: cầu nguyện cho nhà vua, tức là đã hợp tác với quân đội quốc gia. Không phải chỉ cầu nguyện, chắc chắn còn có nhiều chiến sĩ Kitô giáo trong quân đội của Marcus-Aurelius và Septimus; nhiều hơn nữa trong đoàn quân của Constantius Chlorus và Diocletianus, và sang thế kỷ IV nhiều viên tướng thời danh như Anicius Probus, Theodosius, đều là những người Kitô hữu.

II – ĐẾ QUỐC TIẾP TỤC BÁCH HẠI GIÁO HỘI

  1. Cuộc bách hại của Septimus-Severus và Maximinus (thượng bán thế kỷ III)

Đế quốc Roma từ cuối thế kỷ II, bước sang giai đoạn suy sụp cả về chính trị, kinh tế lẫn xã hội, tôn giáo. Commodus vừa nằm xuống (192), ngai vàng bị giành giật, truyền từ tay nọ sang tay kia. Cuối cùng Septimus-Severus, một viên tướng thuộc giai cấp trung lưu thắng cuộc chiếm ngôi vua (193), lập ra triều đại Severus. Cuộc khủng hoảng này nói lên chính thể Roma thời đó dựa trên sức mạnh, và có thể nói đây là giai đoạn chính thể quân phiệt: thượng viện bị gạt ra ngoài. Giai cấp trung lưu len vào guồng máy chính quyền, chỉ lo vét đầy túi tham, trong khi hàng quí tộc hèn nhát lẩn trốn trách nhiệm. Xã hội ngập lụt dưới làn sóng đồi phong bại tục, văn hóa xuống dốc. Tôn giáo thì đầy dẫy mê tín vô luân của Đông phương được truyền vào: chiêm tinh, bói toán, tân thuyết Platon, đạo Mithra, đạo tổ hợp … Trong khi đó, thiên tai kế tiếp xảy ra kèm theo những cuộc xâm lăng của Man-di, đưa đến cuộc khủng hoảng kinh tế. Đó là tình hình chung đế quốc thế kỷ III.

Thế kỷ này, cuộc bách hại cũng bước sang giai đoạn mới. Theo chiếu chỉ Trajanus, người Kitô hữu bị bắt bớ chỉ vì có luật cấm và cuộc bách hại lên xuống tùy theo tâm trạng của dân chúng. Nhưng từ thế kỷ III, giáo dân thêm đông đúc và có ảnh hưởng lớn, người ta ngộ nhận là nguy hiểm cho chế độ, nên tìm cách tiêu diệt. Triều đình đặt ra kế hoạch bách hại và bắt phải thi hành trong toàn quốc. Trước kia nhà cầm quyền chỉ bận tâm xét xử khi dân chúng tố cáo nhưng từ nay họ phải đích thân theo chỉ thị của triều đình mà tìm nã, tra tấn, kết án và xử án. Dầu vậy, cũng như thế kỷ trước, cuộc bách hại vẫn còn tùy thuộc ở nhà cầm quyền địa phương có tận tình thi hành hay không, và nhất là tùy ở ông vua ác cảm ít hay nhiều với Kitô giáo.

Septimus-Severus (193-211) lên nắm chính quyền, là một viên tướng tài ba, quân đội kính nể, tuân phục, ông đã cứu vãn phần nào tình trạng suy sụp của đế quốc. Đối với Kitô giáo, trong những năm đầu ông tỏ ra khoan hồng nếu không nói được là có cảm tình. Người con cả của ông, tức hoàng đế Caracalla sau này, được trao cho một người Kitô hữu tên là Evohodus dạy dỗ, thái y của ông cũng là người Kitô hữu tên là Procul Torpacius. Dầu vậy, ông không ra lệnh hủy bỏ chiếu chỉ Trajanus, nên những cuộc bắt bớ do dân chúng gây nên vẫn còn. Ông không phải là người sinh trưởng ở Roma, nhưng ở Phi châu, cai trị một cách độc đoán, nên bị hàng quí tộc chống đối. Trong thời kỳ mới nắm chính quyền, phải đương đầu với họ để củng cố địa vị, và thấy thù địch mình cũng là thù địch Kitô giáo, nên thái độ khoan hồng của Septimus-Severus lúc đầu đối với Kitô giáo càng dễ hiểu. Nhưng vào khoảng năm 201, đột nhiên ông thay đổi thái độ.

Sở dĩ Septimus-Severus thay đổi như vậy là vì ông nhận thấy Kitô giáo tuy là một đạo mới, nhưng con số tăng rất nhanh, lại có một lực lượng tinh thần mà ông tin là đáng lo ngại cho đế quốc và địa vị ông, thêm vào đó sự thù ghét Kitô giáo của nhóm cận thần. Theo chiếu chỉ của ông, người công dân Roma bị cấm ngặt không được “trở thành người Kitô hữu”. Với quyết nghị này, ông không nhằm vào tổ chức Giáo hội, nhưng đánh thẳng vào cá nhân người Kitô hữu. Ông không bách hại đạo, nhưng chỉ ngăn chặn sự bành trướng về con số. Cấm không được trở thành người Kitô hữu, tức là kết án các dự tòng học đạo và theo đạo, trừng phạt những người dạy đạo và rửa tội cho tân tòng.

Theo nhà khảo cổ De Possi, ở Roma thời kỳ này, các hoạt động của Giáo hội rút vào trong bóng tối hang Toại đạo Callixtus. Người ta làm những đường hầm bí mật để giáo dân và dự tòng có thể lên xuống dễ dàng mà không bị theo dõi. Ở Alexandria, học viện của Clemens và Origenes bị đóng cửa, nhiều dự tòng bị bắt giam và kết án, các nhân viên của học viện phải trốn đi nơi khác. Tertullianus đã mô tả những dã man ghê rợn của cuộc bách hại này ở Phi châu, mà đứng đầu các chiến sĩ đức tin là Perputua (202) và Felicita (203). Ở Tiểu Á, viên toàn quyền triệt để thi hành lệnh bắt đạo. Trong xứ Gallia, cuộc bách hại cũng diễn ra ác liệt, và cuốn Tử đạo Danh lục (Martyrologe) đã ghi danh tánh nhiều vị thuộc thời kỳ này. Nhưng khủng khiếp hơn cả là ở các tỉnh bên Đông phương, lý do vì ở đây lạc thuyết Montanus được nhiều người ủng hộ, và họ là những người cuồng tín có thái độ khiêu khích, làm nhà cầm quyền thêm tức giận và bách hại gắt gao. Severus băng hà năm 211, Giáo hội qua một thời gian gần 40 năm tương đối yên ổn. Caracalla (211-217) là con người rất ác nghiệt, tàn bạo, dâm ô, lên kế nghiệp cha. Vì bận tâm đàn áp phe quí tộc, ông không để ý đến người Kitô hữu mà ông cho là không nguy hiểm gì. Caracalla bị đâm chết, Macrinus (217-218) người tiếm vị bị lật đổ sau

15 tháng, do một cuộc nổi loạn để đưa cháu của Caracalla tên là Heliogabalus (218-222) lên ngôi. Tuy không tàn bạo như Caracalla, nhưng ông cũng là người phóng túng, dâm dật. Về vấn đề tôn giáo, ông bị ảnh hưởng của thái hậu Julia Domna (vợ của Septimus-Severus) là người sùng bái các thần linh Đông phương. Heliogabalus cùng bà thái hậu có các văn sĩ triết gia làm hậu thuẫn, chủ trương quy tụ các thần linh chung quanh một thần linh tối cao. Vị thần linh tối cao đó theo họ là thần Mặt Trời Baai Emensa xứ Syria, quê hương bà. Thần này được tượng trưng bằng một tảng đá đen, và thờ cúng với những nghi thức dâm ô.[9]

Một đạo hỗn hợp như thế, dĩ nhiên người Kitô hữu phải chống đối. Hình như sự chống đối này đã đưa đến dự tính một cuộc đàn áp, nhưng Heliogabalus không có thời giờ thi hành, vì ông bị lính cận vệ giết chết, và Alexander-Severus (222-235) lên thay. Alexander tiếp tục ủng hộ phong trào tôn giáo tổ hợp, nhưng không theo lối độc tài, dâm ô của Heliogabalus vì ông là người đạo hạnh, tính tình khoan dung, nhân từ. Theo sử gia Eusebius, thì trên bàn thờ gia đình ông có tượng Chúa Giêsu lẫn với tượng thần Orphes, Apofionius Tyanus và tổ phụ Abrabam cùng với nhiều hoàng đế thời danh. Đi xa hơn nữa, ông bãi bỏ luật cấm “làm người Kitô hữu” của Nero, một hành động cho tới khi ấy không một hoàng đế nào làm. Từ đấy, người Kitô hữu được tự do hành đạo, tự do hội họp và có quyền tư hữu. Giáo dân bắt đầu xây cất những ngôi thánh đường mới.

Năm 235, Alexander-Severus vì chủ trương bãi bỏ chính thế quân phiệt, trở lại đường lối chính trị cổ truyền, đã bị giết chết trong một cuộc nổi loạn của quân đội do tướng Maximinus cầm đầu. Maximinus (235-238) lên ngôi, mở đầu cuộc khủng hoảng chính trị làm tan vỡ đế quốc. Maximinius người xứ Thracia, là con người cục cằn, vô học thức, có thân hình vạm vỡ (cao 2m40), uống một ngày hết 24 lít rượu, sức khỏe như voi, với khối óc nham hiểm, quỷ quyệt của một tên gian hùng. Đối với Kitô giáo, ông mở đầu một chính sách bách hại mới. Ông cấm đạo không phải để bảo vệ thần linh, nhưng vì căm thù. Ông căm thù và muốn tiêu diệt những hầu cận của Alexander-Severus là những người ủng hộ Kitô giáo. Ông hạ lệnh tầm nã hàng Giáo phẩm và những người có quyền thế trong Giáo hội mà ông không ưa. Tuy nhiên, lệnh của ông không được mấy nơi hăng hái thi hành. Thời này có đức Thánh Cha Pontian (230-235) và Hippolytô, người đã từng chống đối đức Giáo hoàng, cũng bị phát lưu ở đảo Sardenia. Ở đây Hippolytô làm hòa với Giáo hội và chết nơi tù đày với đức Thánh Cha (235). Đức Thánh Cha Anterô lên kế vị đức Pontian, cũng chết vì đạo vào năm sau (236). Maximinus sau 3 năm trên ngai vàng, bị lính cận vệ giết chết, theo như số phận của nhiều hoàng đế thời ấy.

Sau Maximinus, Giáo hội lại được một thời gian 11 năm sống yên ổn dưới đời Gordianus III (238-244), và nhất là dưới thời Philippus (244249) người xử Ả Rập, có thiện cảm với Kitô giáo. Thời kỳ này, đế quốc Roma bên trong cuộc khủng hoảng mỗi ngàn thêm trầm trọng, bên ngoài phải đối phó với làn sóng xâm lăng của Man-di; chính Philippus tử trận tại Verona (249).

  1. Cuộc bách hại của Decius và Valerius (giữa thế kỷ III)

Decius (249-251) một đại tướng anh dũng và cương trực, đã được quân đội đưa lên kế vị Philippus. Là con người thuộc dòng máu Roma, ông tôn trọng đường lối chính trị cổ truyền của đế quốc. Vừa lên ngôi, ông bắt tay ngay với thượng viện đã hơn nửa thế kỷ bị các hoàng đế gạt ra ngoài. Ông cũng lo chỉnh đối tình trạng đế quốc đang xuống dốc, và cho rằng việc củng cố đạo các thần linh và việc tôn sùng hoàng đế là yếu tố cần thiết để thống nhất quốc gia, cải thiện xã hội.

Với quan điểm trên cho sự phục hưng đế quốc, Decius nhìn thấy Kitô giáo không những là một đạo ngoại lai bị cấm, mà còn tai hại cho nền thống nhất. Ông cũng ý thức sức mạnh tinh thần của đạo này, qua những cuộc bách hại của các triều đại trước. Ông quyết đương đầu bằng một cuộc bách hại gắt gao hơn, nhằm đập tan một lực lượng tôn giáo mà từ xưa các hoàng đế đã không làm nổi. Cuộc bách hại của Decius không như trước chỉ nhằm vào các kẻ bị tố cáo hoặc một thành phần nào trong Giáo hội, nhưng là cuộc bách hại toàn diện. Cũng chưa bao giờ chiếu chỉ hoàng đế được triệt để thi hành như lần này.

Nhưng Decius không phải là kẻ thù của “người mang danh Kitô hữu”, ông cũng không phải người ưa đổ máu, ông chỉ muốn phá Kitô giáo để bảo vệ nền thống nhất quốc gia trong một tôn giáo chung. Một lối bách hại có hệ thống, có suy nghĩ và có tổ chức, các quan tòa được trao nhiệm vụ dụ dỗ giáo dân bỏ đạo, bằng đe dọa hình phạt, bằng hứa hẹn quyền chức giầu sang; nếu cần, sẽ kéo dài thời gian giam giữ hoặc dùng những cực hình dã man, làm cho khiếp sợ và mềm lòng chối đạo.

Với chiếu chỉ của Septimus-Severus, việc giáo huấn và phượng tự của người Kitô hữu phải đi vào bóng tối. Rồi cuộc bách hại của Maximinus đã tiêu diệt một số những phần tử ưu tú nơi hàng Giáo phẩm và giáo dân, khiến đời sống đức tin trong Giáo hội bị sa sút. Thêm vào đó, ảnh hưởng các tà thuyết và đời sống xã hội xuống dốc, nhiều người không sống xứng đáng, không có đức tin vững mạnh, đã giải thích lý do vì sao có nhiều người yếu đuối chối đạo trong thời kỳ này. Đứng trước tình trạng đau thương ấy, Giáo hội, Mẹ nhân từ, giang tay đón nhận rất nhiều người ăn năn trở lại, nhất là mỗi khi cuộc bách hại tạm ngưng. [10]

Nhưng bên cạnh những người yếu đuối nói trên, chúng ta không quên được con số rất đông anh hùng xưng đạo, mà Giáo hội hiên ngang vì họ. Những anh hùng đó thuộc mọi giai tầng xã hội cũng như các sắc dân trong đế quốc. Ở Roma, đức Thánh Cha Fabian (236-250) là nạn nhân đầu tiên, và vì cuộc bách hại quá gắt gao nên ngôi Giáo hoàng bị bỏ trống nhiều tháng, có Novatianus tạm nắm quyền. Nhiều giám mục, linh mục, giáo dân bị bắt giữ, người chịu tử hình kẻ phát lưu. Ở Sicilia có trinh nữ Agata phải chịu những cực hình rất dã man ghê sợ trước khi bị trảm quyết (251). Trong xứ Gallia nổi tiếng hơn cả có Đionisiô, tông đồ dân Gaulois và là giám mục tiên khởi thành Lutecia (Paris ngày nay), bị giết cùng với Rusticô và Eleuther. Ở Toulouse, Saturnô bị bò rừng quật chết. Tây Ban Nha có nhiều giám mục, linh mục, cũng như rất nhiều giáo dân can đảm xưng đạo, linh mục Pionio thời danh nhất. Ở Ai Cập, cuộc bách hại ác liệt không kém thời Nero; nhiều người trốn vào sa mạc, như Phaolô tu hành. Ở Palestina, Origenes bị bắt giam và chịu nhiều cực hình, nhưng rồi được tha. Ở Armenia có thanh niên Polyeucte công khai xé yết thị của hoàng đế ngay giữa công trường Melitana, bị án trảm quyết (250).

Nhận thấy mình bất lực, nên từ cuối năm 250 Decius không còn bách hại gắt gao nữa, ông như muốn đầu hàng, và các quan địa phương cũng chán nản. Đầu năm 251, ở Carthago thánh Cyprian họp công đồng miền, và ở Roma hàng Giáo phẩm đi bầu đức Giáo hoàng Corneli.

Decius bị giết trong một trận chiến, và Gallus (251-253) lên thay. Đức Thánh Cha Corneli bị lưu đày ở Civita-Vecchia và qua đời ở đấy (253).

Dưới triều đại Gallus, ngôi hoàng đế trở nên suy yếu rõ rệt. Nhiều vùng ở xa tìm cách ra ngoài vòng ảnh hưởng để sống tự trị, như Gallia, Tiểu Á (có Palmyr là Đế đô riêng). Tình trạng này sau được hai cha con Valerianus và Galilenus tìm cách cứu vãn. Gallus băng hà, Valerianus (253260) lên kế nghiệp. Cũng như các hoàng đế triều Severus, Valerianus chịu ảnh hưởng của những cận thần hầu hết là người Đông phương. Số người Kitô hữu trong triều đình cũng khá đông, đến độ thánh Đionisiô thánh Alexandria viết (có lẽ hơi quá đáng): “Triều đình bấy giờ giống như một giáo đoàn”. Dầu sao câu văn đó cũng nói lên ảnh hưởng của Kitô giáo và cảm tình của Valenanus đối với đạo. Chính Balonina, con dâu của ông và là vợ của thái tử Gallienus rất thiện cảm với Kitô giáo, người ta cho là sau này bà đã theo đạo.

Biết như thế, người ta không khỏi bỡ ngỡ khi thấy ông, sau ba năm, đột nhiên ra lệnh cấm đạo. Lý do vì sao, người thời bấy giờ cũng cho là khó hiểu. Nhiều sử gia cho nguyên nhân là sự cuồng tín và tham vọng chiếm đoạt tài sản Giáo hội, Macrinus, cố vấn của Valerianus, là một tay xảo quyệt và mê tín. Ông khoe rằng phù pháp của ông có thể đánh đuổi các quân xâm lăng. Một việc trước đây đã bi người Kitô hữu cản trở. Lâ bộ trưởng tài chánh, Macrinus còn cho nhà vua biết tài sản Giáo hội rất lớn, cấm đạo và tịch thâu các tài sản đó sẽ giải quyết được nạn khủng hoảng kinh tế.

Tháng 8 năm 257, Valerianus ra chiếu chỉ, lên án Giáo hội là một đoàn thể bất hợp pháp, phải giải tán, các cuộc hội họp từ nay bị nghiêm cấm, còn các tài sản sẽ quốc hữu hóa. Ông cũng ra lệnh bắt các người đứng đầu trong Giáo hội, nhất là các giám mục, phải tế thần. Mọi lễ nghi thờ tự phải đình chỉ và cấm không được thăm viếng các nghĩa trang Kitô giáo, nơi giáo dân thường lén lút đến hội họp. Nhưng Valerianus đã sớm nhận ra chiếu chỉ này không đem lại kết quả như ý muốn. Các giám mục bị lưu đày vẫn tiếp tục thư từ liên lạc với đoàn chiên. Các cuộc hội họp không thực hiện được ở các hầm mộ Kitô giáo vì đã bị tịch thâu, thì họ lại được nhiều gia đình quí tộc mở rộng cửa hầm mộ riêng cho phép đến hội họp. Năm 258, Valerianus ra một chiếu chỉ khác nghiêm khắc hơn. Các giám mục và linh mục không tế thần bị kết án tử hình thay vì bị lưu đày như trước. Hàng quí tộc, các nghị sĩ và tất cả những ai có địa vị trong triều đình theo Kitô giáo đều bị lên án tử hình và tịch biên tài sản. Các nhân viên cấp dưới không bỏ đạo cũng bị tịch thâu tài sản và truất xuống làm nô lệ khổ sai. Với chiếu chỉ này, triều đình muốn tiêu diệt Giáo hội về ba phương diện: tổ chức hành chánh, tổ chức bác ái, xã hội và tổ chức kinh tế. Cũng vì lệnh tịch thâu tài sản đó, mà các quan địa phương rất hăng say thi hành lệnh trên, nhiều người lợi dụng chiếu chỉ để tố cáo và lật đổ người Kitô hữu có địa vị. Một cuộc bách hại ghê sợ không kém thời Decius. Nhưng lần này, Giáo hội đã được chuẩn bị hơn, nên số người hèn nhát chối đạo giảm đi rất nhiều. Đàng khác, những người bị bách hại không phải các tầng lớp giáo dân, nhưng chỉ là giám mục, giáo sĩ và những người có chức quyền hay quý phái. Hầu hết đã can đảm xưng đức tin và nêu gương anh dũng.

Trong số các anh hùng thời kỳ này, ở Roma phải kể đến đức Thánh Cha Sixtô II (257-258) bị trảm quyết ngay trên giảng đài, trong hang Toại đạo Pretextat cùng với 6 thày phó tế. Vị Phó tế thứ bảy, tức phó tế trưởng Laurensô bị giữ lại để tra khảo tài sản của giáo đoàn. Laurensô xin khất ít ngày để về thu xếp đem nộp sau. Nhưng thày đem phân phát hết cho dân nghèo, rồi dẫn họ đến ông tổng trấn: “Bẩm đây là tất cả kho tàng của Giáo hội”. Bực tức, quan ra lệnh đánh đập dã man, và nướng thày trên giường sắt nung đỏ (258). Tiếp đó nhiều vị tử đạo khác, như linh mục Hippolytô, hai thiếu nữ Rufina và Secunda thuộc hàng quý tộc. Người ta cũng để ý đến thiếu nhi Tarcisiô bi giết khi đưa Mình Thánh Chúa cho các chiến sĩ bị giam cầm.

Cuộc bách hại lan tràn nhanh chóng đi các nơi. Ở Gallia, người ta kể tên nhiều anh hùng tử đạo. Trong xứ Tây Ban Nha đặc biệt có Fructuosô, giám mục thành Tarragona, bị án thiêu sinh với hai phó tế Eulogiô và Aguriô. Ở Phi Châu, cuộc bách hại do lòng thù ghét của quần chúng đã trở nên hết sức dã man, họ bách hại cả giáo dân thường. Nhưng tất cả can đảm xưng đạo, nhiều người trước kia chối đạo nay nêu gương trung thành. Ở Utique, một số khoảng 300 giáo dân cùng với giám mục Quadratô bi ném vào thùng vôi đang sôi người ta kêu các ngài là đoàn Tử đạo trắng (Massa candida). Nhưng danh tiếng hơn cả là thánh Cyprian, giám mục thành Carthago, chịu trảm quyết một cách anh dũng phi thường (258). Cuộc bách hại đang lên cao, thì Valerianus được tin cấp báo Sapor đem quân Persia đến xăm lăng miền Đông. Nhà vua dẫn quan đến tiếp viện, nhưng bệnh dịch hoành hành ở sa maạc Syria, Valerianus bị bắt làm tù binh (260). Ông bị giết, lột da làm hình nộm đặt trong một ngôi nhà.

  1. Giáo hội và đế quốc dưới thời các hoàng đế kế tiếp Valerianus, và cuộc bách hại của giới trí thức: Porphyr (hạ bán thế kỷ III).

Cái chết của Valerianus đã đánh dấu một khúc quanh về thái độ của các hoàng đế Roma đối với Kitô giáo. Gallienus (260-268) con ông lên kế vị, mở đầu giai đoạn Giáo hội được sống bình an trong hậu bán thế kỷ III, tuy ở một vài nơi vì triều đình không đủ uy quyền can ngăn, nên vẫn còn có những cuộc bắt bớ. Nhờ ảnh hưởng của hoàng hậu Salonina, nên Gallienus vừa lên ngôi đã ra chỉ dụ ngưng cuộc bách hại và cho Kitô giáo sống tự do và được quyền tư hữu. Ông ra lệnh trả lại những tài sản đã tịch thâu của Giáo hội, có trường hợp bắt đền bồi những thiệt hại.[11] Người ta cho đó là “vụ Canossa” thứ nhất được ghi trong lịch sử. Gallienus bị hạ sát trong một cuộc phản loạn, Claudius II (268-270) lên thay. Ông này luôn vướng tay với chiến tranh, phải đương đầu với Macedonia và lo chinh phạt Man-di Goth, nhưng ông đã đạt nhiều thắng lợi. Tiếp theo là Aurelianus (270-275), thuộc gia đình nông dân, một viên tướng có tài và thông minh. Trong những năm đầu, ông lo án ngữ cuộc xâm lăng của các Man-dân, cho bao vây đế đô bằng một bức tường thành kiên cố dài 25 cây số. Đối với tôn giáo cũng như Seplimus-Severus ông chủ trương đạo tổ hợp. Ông có cảm tình với Kitô giáo cũng như nhiều đạo Đông phương khác. Nhưng năm 274, theo sử gia Lactantius, Aurelianus ra chiếu chỉ cấm đạo. Nguyên nhân là vì khi chủ trương đạo tổ hợp và bắt dân chúng theo, Aurelianus đã gặp sự kháng cự tinh thần của người Kitô giáo. Trong số các vị tử đạo ở Roma, người ta kể tên đức Thánh Cha Felix I (269-274), ở Gallia có giám mục Severian, linh mục Phaolô và các bạn. Năm 275, Aurelianus bị giết.

Ở những thời tương đối thái bình, Giáo hội vẫn phải đối phó với sự thù ghét của dân theo thần giáo, nhất là các sư sãi. Ngoài ra còn có sự oán ghét đi đến vu khống và chế diễu của giới trí thức. Thế kỷ III, tân học thuyết Platon của Plotin (205-270) bị nhiễm tư tưởng huyền bí của thần giáo: bói toán, ma quái, ảo thuật. Đại diện cho học thuyết này là Porphyr (234-305), môn đệ của Plotin.

Triết gia Porphyr người xứ Phenecia, theo nhiều sử gia, là một “lính đào ngũ” của Giáo hội. Nếu thật như vậy, thì trước kia có lẽ ông chỉ là người mang tên Kitô hữu mà thôi. Vì lẽ các tác phẩm của ông để lại, người ta thấy rõ ông chịu nhiều ảnh hưởng của thần giáo, từ những thiên “mặc khải” mơ hồ nhất của dị giáo tới những suy cứu đa thần hay độc thần của Plotin, không hề thấy một vết tích gì đượm mầu Kitô giáo. Tuy nhiên, người ta phải công nhận ông là con người thông minh. Những lời lẽ đả kích Phúc âm, lịch sử Do Thái, cuộc đời Chúa Giêsu và hai tông đồ Pherô và Phaolô, đều là những lời lẽ mà sau này các triết gia duy lý sẽ tìm đến, mỗi khi muốn đả kích và bôi nhọ Giáo hội Công giáo. Voltaire, Strauss, Renan, Nietzsche cũng chỉ lặp lại một cách hơn kém có hệ thống những lý lẽ mà Porphyr tìm ra. Porphyr quả là một trong những thù địch nguy hại nhất của Giáo hội thời thượng cổ.[12]

Nhưng có thế mới biết Kitô giáo bành trướng được không phải vì đã lợi dụng sự ngu dốt của quần chúng và sự làm ngơ của hàng trí thức. Sự thực, Kitô giáo đã phải giáp mặt với bậc thức giả, nghĩa là phải đối phó với một triết lý thù địch có uy thế. Dầu vậy, học thuyết của Prophyr đã không mấy ảnh hưởng tới đức tin Kitô giáo. Cả những người ngoại giáo học thức cũng không chịu để Porphyr cản trở họ trên con đường tìm ánh sáng

Phúc âm. Bởi vì đạo Chúa Kitô, tuy có nhiều điều “khó hiểu”, nhưng vẫn có một Chân lý, mà Chân lý đó bao giờ cũng trổi vượt trên bất cứ cái gì có vẻ là “khoa học” và triết lý của những người như Porphyr.

Sau Aurelianus, Giáo hội tiếp tục sống bình an cho hết thế kỷ III, chỉ trừ một vài cuộc bắt bớ lẻ tẻ do sự thù oán của quần chúng hoặc nhà cầm quyền địa phương. Trong vòng 9 năm, đế quốc Roma rơi vào tình trạng khủng hoảng với con số 6 hoàng đế. Ngoại trừ Probus (276-282) nắm ngai vàng được sáu năm, còn tất cả chỉ trong ít tháng là bị lật đổ. Tình hình đế quốc lúc đó rất bi quan: bên trong, những cuộc tranh giành đổ máu, quân sĩ nổi loạn, chính thể thối nát bất lực; bên ngoài, những cuộc xâm lăng ồ ạt đe dọa các vùng biên giới.

Diocletianus (284-305) được quân đội đưa lên ngôi hoàng đế. Ông sinh tại Salona xứ Dalmatia trong một gia đình bình dân, tính tình cứng cỏi nhưng nhẫn nhục, rất thực tế và cương quyết; đời sống luận lý tương đối khá. Đứng trước tình trạng bi đát của đất nước, Diocletianus nhận thức trách nhiệm của mình. Ông quyết phục hưng xớ sở vãn hồi trật tự, đương đầu với các cuộc xâm lăng. Nếu trong lịch sử Giáo hội ông là một bàn tay tàn bạo bách hại đạo Chúa, thì trong lịch sử Roma ông lại được xếp hạng với những hoàng đế trứ danh.

Nhận thấy đế quốc quá rộng lớn, năm 286 Diocletianus chia làm hai. Ông giữ miền Đông, còn trao miền Tây cho Maximianus (286-310), ông này là một viên tướng do thời thế tạo nên và tính tình cũng cứng cỏi, tàn bạo. Năm 293, để việc cai trị có hiệu quả hơn và để tránh những cuộc tranh giành sau khi hoàng đế đã mất, Diocletianus phân đế quốc làm 4 khu vực, đó là chính sách “tứ phân” (tétarchis). Diocletianus và Maximianus còn chia 4 khu vực thành 12 địa phận có các khâm sai toàn quyền cai trị, và 12 địa phận chia làm 100 tỉnh dưới quyền các tổng trấn.

Miền Đông, Diocletianus chọn Galerius, một ông tướng cục cằn, hung ác, làm phụ tá. Ông giữ cho mình xứ Thracia, Asia và Ai Cập, lấy Nicomedia làm Đế đô. Còn Galerius được bán đảo Balkan, Danube và Hy Lạp, lấy Sirmium làm kinh đô. Bên Tây phương Constantius Chlorus một viên tướng tính tình ôn hòa và có khả năng văn hóa được chọn làm phụ tá cho Maximianus nắm giữ Ý Đại Lợi, xứ Rhetia và Phi Châu, đặt đế đô ở Milan. Để giữ các ông phụ tá trung thần với hoàng đế thượng vị của mình, Diocletianus nghĩ đến việc nối kết bằng liên hệ gia đình. Galerius cưới Valeria, công chúa của Diocletianus. Constantius tuy đã kết hôn với Helena và đã có một con tên là Constantinus cũng bị Diocletianus bắt ly dị để cưới Theođora, công chúa của Maximianus.

Với chính sách “tứ phân” này, Dioclelianus tìm cách nâng dậy tình trạng suy đồi của đế quốc, và ông đã thành công về nhiều điểm, nhất là chặn đứng các cuộc xâm lăng của Man-di. Nhờ đó uy tín của triều đình và hoàng đế lên cao, người ta coi các ông như thần linh giáng thế để bảo vệ đế quốc. Những nghi thức tôn giáo tôn thờ bái

Còn Tiếp

___________________________________________________________

[7] Xem P. de Labriolle: La Réaction Paienne, tr 110-170.

[8] Tertunianus: ‘Trong khi các ông gian lận với quốc gia bằng những sổ sách ma, thì chúng tôi chịu đóng thuế với một lương tâm chính trực, cũng như chúng tôi¬ hằng tránh những hoạt động gian dối với mọi người vậy” (Apol. 42)

[8] [9] P. de Labriolle: op. cit. tr 117-189.

[10] Thánh Cyprian: Epist 56, 2.

[11] Eusebius: op. cit, VII, 13.

[12]  P. de Labriolle: op. cit. tr 223-293.