LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO – TIẾP THEO

Lm Vinhsơn Bùi Đức Sinh OP

Chính vì muốn bảo toàn đức tin khỏi “những hư ngôn lố bịch và tất cả những gì gọi là khoa học giả hiệu” mà thánh Phaolô đã có lời với người môn đệ yêu quí nhất: “Hỡi Timotheô, con hãy giữ gìn cái kho báu” (I Tm VI, 20). Và cũng chỉ vì muốn rao giảng đức tin một cách trung thực mà các giám mục sau này, như thánh Clementê thành Roma, thánh Ignatiô, thánh Ireneô sẽ theo sát những lời giảng dạy của thánh tông đồ.

  1. Tổ chức phụng vụ và bí tích

Nguyên tin không đủ, chính Chúa Giêsu đã nói rõ: “Ai tin và chịu phép Rửa mới được cứu thoát” (Mc XVI, 16). Bởi thế, trước hết phải gia nhập nước Thiên Chúa qua phép Rửa. Đó là nghi lễ thanh tẩy rất quen thuộc nơi nhiều tôn giáo. Nhưng trong Kitô giáo ngoài ý nghĩa tẩy rửa, còn có ý nghĩa “nhuộm thấm”. Nhờ sự nhuộm thấm này, phát sinh một công hiệu khác nữa là làm cho người chịu phép Rửa được tái sinh trong Chúa Kitô, trở nên con cái Thiên Chúa và được ghi dấu để một ngày kia sẽ được Phục sinh trong vinh quang. Đó là ơn thánh đặc biệt, không ơn nào khác có thể thay thế được, vì chỉ có “một đức Tin, một phép Rửa”.

Phép Rửa do chính Chúa Giêsu thiết lập trước ngày tử nạn. Ban đầu, phép Rửa được cử hành “ở biển, trong ao, dưới suối”, [1] với những lễ nghi trang nghiêm, long trọng. Rửa tội không những bằng cách gìm mình xuống, mà còn bằng cách rảy hay đổ nước, nhất là khi thiếu nước và trường hợp đau yếu không gìm mình được. [2] Thời các thánh tông đồ, có thói quen rửa tội người lớn ngay sau khi tuyên xưng đức tin, rồi mới huấn luyện về giáo lý (Cv II, 41; VII, 12). Nhưng đến sau, Giáo hội đòi phải có sự sửa soạn rất kỹ lưỡng trong 3 năm, tĩnh tâm 40 ngày. Trong thời gian sửa soạn, người dự tòng phải ăn chay cầu nguyện, thú tội, sống đời lương thiện. Đó là những thử nghiệm trước khi được chính thức gia nhập Giáo hội. Ngày ấy thường là ngày áp lễ Phục sinh hay Hiện xuống, với những lễ nghi, kinh nguyện đầy ý nghĩa. [3]

Tiếp theo sau lễ nghi Rửa tội, là nghi lễ đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần.[20] Theo Thánh Kinh, giám mục là người duy nhất có quyền cử hành nghi lễ này (Cv VIII, 14-17, XIX, 6). Đây là một việc mới bắt đầu. Các thánh tông đồ rất quan tâm đến nghi lễ đó. Dù ở Samaria hay ở Epheso, các ngài luôn dạy rằng: phép Rửa chỉ có giá trị đầy đủ khi được bổ túc bởi ơn Chúa Thánh Thần qua nghi lễ đặt tay trên đầu. Nghi lễ này còn được diễn ra trong các dịp truyền chức thánh, trừ tà ma, an ủi bệnh nhân… Tất cả đều mang một ý nghĩa duy nhất, là xin ơn Chúa Thánh Thần để tăng sức mạnh.

Người Kitô hữu tuy đã gia nhập Nước Chúa, được ban ơn và sức mạnh, nhưng họ vẫn có thể sa ngã, vì họ chưa hết là con người yếu đuối mang theo mầm mống tội lỗi. Một khi lỡ lầm do yếu đuối như vậy, điều can hệ là đứng dậy và trở về. Thiên Chúa hằng mong đợi tâm tình thống hối để đón nhận và tha thứ hết. Chính Chúa Giêsu đã lập bí tích hòa giải, khi Người trao quyền cho các tông đồ: “Điều gì các con cầm buộc ở dưới đất, trên Trời cũng cầm buộc, và mọi điều các con tháo cởi dưới đất, trên Trời cũng tháo cởi” (Mt XVIII 28).

Các tác giả xưa đều ghi nhận có hai hình thức xưng tội: công khai trước mặt nhiều người, kín đáo với giám mục hay linh mục. Phúc âm đã tường thuật: khi Gioan Tẩy giả rao giảng sự ăn năn hối cải, nhiều người tuốn đến sông Jordan xin ông làm phép Rửa và “thú lỗi” (Mt III, 5-6). Tại Epheso, sau khi nghe thánh Phaolô giảng, nhiều người xúc động và sợ hãi đã “tự xưng ra những hành vi bất chính của mình”, có kẻ đem sách bói toán, dị đoan đến và đốt trước mặt mọi người (Cv XIX, 18-19). Đó là những trọng tội (thờ quỷ thần, giết người, ngoại tình) phạm công khai nên cũng phải xưng công khai để cất gương xấu, và thường được sửa chữa, hàn gắn bằng những hình phạt nặng nề trong một thời gian lâu dài, có khi tới chết. [4] Hình phạm giảm bớt dần kể từ thế kỷ III. Nếu là những tội phạm lần đầu, thì chỉ xưng trong tòa kín với một vị giám mục hay linh mục, phải tự thú hết các tội, kể cả những tội tư tưởng và ước muốn; sau đó lãnh nhận việc đền tội. Khi giảng về sự dọn mình để đáng được “chịu lấy Bánh và Chén của Chúa”, thánh Phaolô nói: “Mỗi chúa nhật, anh em hãy họp nhau bẻ Bánh và tạ ơn Chúa, nhưng trước khi đó anh em phải cáo tội mình để của lễ anh em được tinh tuyền”. Origenes cũng viết: “Sự thú tội phải nhờ thày thuốc linh hồn, nếu chúng ta muốn được khỏi tội”. [5]

Trong những thế kỷ đầu, có lẽ Giáo hội chưa xác định phải xưng tội một cách chi tiết như thế nào, nhưng việc đền tội thì quả là thiết thực và nặng nề mà ngày nay cho là quá khắt khe, cay nghiệt. Sự thực, thái độ đó không có mục đích nào khác là giúp tội nhân thành thực hối cải, giã từ con đường lầm lạc, trở về đường chính và sống mãi trong nhà Cha. Và đó là điểm chính yếu và quan trọng nhất của bí tích Hòa giải, chứ không phải là sự kể lể tội lỗi.

Cầu nguyện là thái độ tự nhiên đi liền với niềm tin, sự nhìn nhận Thiên Chúa là Cha. Sách Tông đồ Công vụ có ghi lại lời kinh nguyện sau đây của giáo dân, khi hay tin Pherô và Gioan được trả tự do sau lần bị dẫn đến công nghị Do Thái: “Lạy Chúa, là Đấng tạo dựng trời, đất, sông, biển, cùng muôn vật trong đó; lại đã cho Chúa thánh Thần dùng tôi tớ Chúa là David tổ phụ chúng tôi mà phán rằng: Nhân sao các nước náo động các dân mưu toan vô ích? Các vua trần gian nổi dậy, quan chức hợp lại bội phản cùng Thiên Chúa và Đức Kitô? Thật thế Herodes, Pontius Pilatus cùng dân ngoại và Do Thái đã hùa tập nhau trong thành chống lại Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu, Đấng đã được xức đầu để thi hành mọi uy quyền và Chúa đã định trước. Lạy Chúa, xin hãy đoái nhìn xem chúng đang đe dọa, mà ban cho các tôi tớ Chúa được can đảm rao giảng Lời Chúa, xin hãy giơ tay cứu chữa mọi bệnh tật, làm những dấu lạ vì Danh thánh Giêsu, Con Chúa” (Cv IV, 24-30).

Đó là bản kinh nguyện cổ kính nhất mà Giáo hội xưa quen đọc chung, và lưu lại tới ngày nay. Đọc lên, chúng ta thấy tương tự như kinh lạy Cha; trước hết là tôn vinh, rồi tạ ơn, sau cùng mới xin ơn.

Không những tôn thờ cầu xin Chúa Cha, mà cả Chúa Con nữa. Bởi vì hai Ngôi không bao giờ tách biệt nhau, nhưng cùng chiếu ánh sáng vinh quang bất diệt. Do đó, cả hai cùng đón nhận mọi lời cầu xin của các giáo hữu: “Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chúc lành cho chúng ta bằng mọi chúc lành Thánh Thần ở trên Trời trong Đức Kitô” (Ep I, 3). Thánh Pherô cũng cùng một ý ấy: “Đấng đã kêu gọi anh em vào vinh quang đời đời của Người trong Đức Kitô sẽ làm cho anh em, những kẻ phải chịu khổ ít lâu trở nên hoàn hảo … Chúc tụng Danh thánh Chúa đến muôn đời. Amen” (I Pr V, 10-11). Thánh Gioan đã mạnh dạn dâng lên Chúa Giêsu Kitô những lời ca tụng, mà cho tới khi đó chỉ dành cho Ngôi Cha: “Bái chúc Đấng yêu mến chúng ta, và giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi nhờ Máu Người, cùng đã phong chúng ta làm đế vương làm tư tế cho Thiên Chúa và là Cha của Người, nguyện chúc Người vinh quang và quyền lực đến muôn đời. Amen” (Kh I, 5-6).

Những lời ca tụng, cầu xin ấy đều dựa theo Phúc âm và thánh Kinh. Đó là những tâm tình được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, khi dài khi ngắn, khi ca tụng lúc cầu xin, chỗ này bằng văn xuôi chỗ kia bằng văn vần, khi đọc khi hát. Nói tóm lại, với sáng kiến của con người, dưới ánh sáng soi của Thiên Chúa, các tín hữu đã sáng chế ra những cử điệu, những lời nguyện, hầu giúp nhau dâng hướng tâm hồn về với Thiên Chúa, Đấng mình tôn thờ và kính tin.

Nói tới cầu nguyện, chúng ta không thể bỏ qua Thánh Lễ, trung tâm điểm đời sống Kitô hữu. Plinius Junior toàn quyền xứ Bithynia, trong một tờ tường trình gởi về Roma năm 110, đã diễn tả một cách vô tư về việc tế lễ của giáo dân thời đó như sau: “Người tín hữu có thói quen hội nhau vào ngay đã định, trước khi mặt trời mọc, và ca đối xướng bài hát dâng lên ông Kitô tựa như dâng lên một vị Thần. Họ còn khuyên nhau không được trộm cướp, ngoại tình hay bội ước, phải có tinh thần trách nhiệm về những công việc được ủy thác. Sau đó họ giải tán, nhưng rồi lại gặp nhau dùng bữa, một bữa ăn thanh đạm, tốt lành”. [23] Đó chỉ là những gì bên ngoài do con mắt thịt của một người ngoại đạo nhìn vào và thuật lại, họ không hiểu được ý nghĩa thâm sâu và cao quí bên trong. Đây không phải là bữa ăn phàm tục, nhưng là bàn ăn huynh đệ, tức Tiệc thánh: “Chén chúc tụng ta (cầm lên mà) đội ơn kia lại không phải là sự hiệp nhất với Máu Đức Kitô đó sao? Bánh ta bẻ kia, lại không phải là hiệp nhất với Mình Đức Kitô sao ?” (I Cr X, 16).

Có lẽ vì chương trình quá dài, nên từ đầu thế kỷ II bữa ăn huynh đệ đã được tách khỏi Tiệc thánh tức Thánh Lễ: chiều hôm trước (thứ bảy) là bữa Agapê, sáng hôm sau (chúa nhật) là Thánh Lễ. Từ đó, cuộc họp ban tối chỉ có một phần chương trình. Đây là gốc tích của ngày gọi là Vigilia (áp lễ, canh thức) dành cho việc đọc Thánh vịnh, nghe Thánh Kinh và giảng dạy.[24] Phần nầy bắt đầu từ ca “Dâng lễ”, mọi người cùng dâng lời nguyện chung. Lời nguyện có thay đổi tùy theo hoàn cảnh, địa điểm và thời gian. Thày phó tế mang lễ vật, bánh, rượu pha nước; tiếp đến là hôn chúc bình an, cầu nguyện cho Giáo hội, toàn thể thế giới, và cho chính quyền. Phần trọng nhất là “kinh nguyện Thánh Thể”, lời “Truyền phép”, kinh “Tạ ơn”, bẻ Bánh và phân phát, thày phó tế đem đến cho những anh em vắng mặt. Khi trao, đọc: “Mình Thánh Chúa Kitô, Máu Chúa Kitô Chén Cứu độ”; đáp: “Amen”. Trong khi rước lễ, hát Thánh vịnh. [25]

Có điều đáng chú ý là giáo dân hồi bấy giờ có một đức tin rất sống động. Lời nguyện trong Thánh Lễ phần nhiều có tính cách ứng khẩu, thành thật trào ra từ đáy lòng của vị chủ tế và giáo dân, nên thường rất sốt sắng và tự nhiên. Mọi người đều một lòng một ý theo dõi lời nguyện, để đồng thanh thưa: “Amen”. Nhờ thế mà tất cả mọi người tham dự một cách tích cực vào việc tế lễ. Họ ý thức mình thực sự là những chi thể của một Thân thể duy nhất, liên lạc chặt chẽ với nhau trong Chúa Kitô: “Vì Bánh chỉ có một nên ta tuy có nhiều cũng chỉ là một thân mình, vì hết thảy ta thông phần vào Bánh độc nhất” (1 Cr X, 17).

Nơi cầu nguyện và tế lễ trong mấy thế kỷ đầu cũng là điều chúng ta nên biết, Dom Cabrol đã ghi lại khá tỉ mỉ trên một bức tranh linh động. Đọc lên, ta tưởng tượng như thấy những bước chân theo nhau tới thánh đường: “Mọi người tiến đến nơi tế lễ trong hang Toại đạo. Mộ của các đấng tử đạo trong một Arcosolium dùng làm bàn thờ. Mọi tín hữu quây quần chung quanh. Tựa như trên một tấm thảm bình thường, người quyền thế giàu sang ngồi lẫn với kẻ nghèo hèn; không có sự phân cách. Chỉ có một điều là đàn ông một chỗ, đàn bà một nơi, các linh mục có chỗ danh dự gần giám mục chủ tọa”.[26]

Thường người ta chỉ biết hang Toại đạo là nơi trú ẩn của giáo hữu trong các thời bách hại. Nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Đọc lịch sử, chúng ta mới hiểu hang Toại đạo là nơi thế nào, có mục đích gì ? Bấy giờ, người ta quen làm nghĩa trang ngầm dưới đất, như những hang đã được khám phá ở Campania, Bắc Phi, Ai Cập, Tiểu Á, chứ không phải chỉ người Kitô hữu ở Roma mới có. Tuy nhiên, những nghĩa trang nổi tiếng thời bấy giờ chính là những hang Toại đạo ở Roma, trong số đó có hang Priscilla và Domitilla là cổ kính nhất, từ thế kỷ I. Những hang ngầm dưới đất này có nhiều lối đi hành lang, hai bên là những phần mộ kẻ chết được đục khoét trong đất đá chồng chất lên nhau, được khép kín bằng một tảng đá có ghi tên tuổi, ngày qua đời, với những lời cầu xin cho người quá cố được an nghỉ, hoặc lời nguyện chúc về cuộc sống đời sau.[27] Ở đây không thấy vết tích gì đau buồn, thương tiếc hay thất vọng; trái lại tất cả đều tỏa ra một bầu khí vui tươi, hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu với Chúa Kitô, Đấng mà các linh hồn đã sẵn lòng chịu mọi áp bức, bách hại, có khi đã đổ máu và chết vì Người nữa [28].

Chính mộ của các thánh tử đạo đã được chọn làm bàn thờ dâng Thánh Lễ, và hang Toại đạo trở thành nơi phượng tự, đặc biệt trong thời bách hại. Trong 2 hoặc 3 thế kỷ, những hang này được giáo dân lui tới kính viếng mộ các thánh và xin ơn. Đến thời thánh đường được xây cất tự do, người ta rước hài cốt các đấng thánh nổi tiếng về đó, khiến nhiều vị khác bị bỏ quên. Lắm chỗ người ta tự ý lấp đi nhiều chỗ gần sập đổ gây nguy hiểm không ai dám qua lại.

  • X, 96.
  • Dom Cabrol: Le Livre de la Prière antique, Paris 1900, VI, 77.
  • Xem thánh Cyrillô thành Gierusalem: Catech Myst. V, 21-22 – Thánh Giustinô: Apol. LXVII, 3-6.
  • Dom Cabrol : op. cit. VI, 9-97.
  • In pace, In Xto vivas, Pete pro nobis, Vivis in gloria.
  • Xem cuốn Album lộng lẫy của Mgr Xilpert Die Malereien der Katakombs, Roms, I và II,  Fribourg-in-Br. 1930- L. Bréhier: L’Art Chrétien. Paris 1928
  1. Tổ chức giáo quyền và bác ái xã hội

Những gì thuộc về Thiên Chúa là phải trật tự, Chúa khôn ngoan không bao giờ làm gì lộn xộn. Vì thế, ngay từ khi mới khai sinh, Giáo hội đã được sắp xếp rất thứ tự, tổ chức chu đáo. Cũng như trong một thân thể có nhiều cơ năng khác nhau, thì trong Giáo hội cũng có nhiều thành phần hướng về cùng một mục đích: “Thiên Chúa đã thiết lập trong Giáo hội trước là các tông đồ, thứ đến các ngôn sứ, sau nữa là các tiến sĩ, rồi đến quyền làm phép lạ, các ơn chữa bệnh, các việc từ thiện và quản trị, các thứ ngôn ngữ” (I Cr XII 28). Mỗi phần tử có một nhiệm vụ riêng: “Mỗi người tùy theo ơn lộc đã được, hãy lợi dụng mà phục vụ nhau” (I Pr IV, 10). Sự sắp xếp này do chính Chúa Kitô “Đấng đã đặt kẻ làm tông đồ, kẻ làrn ngôn sứ, người làm giảng viên, kẻ làm linh mục, làm thày dạy, cốt để giúp các thánh” (Ep IV, 11-12).

Ngay từ buổi đầu, đã có ba chức vụ chính trong Giáo hội: tông đồ, ngôn sứ và các giảng viên giáo lý Thánh Kinh, được đặt ra để lo việc giảng huấn. Tuy nhiên, ba chức vụ đó cũng có quyền thánh hóa, nghĩa là các vị đều là những linh mục cử hành lễ nghi phụng vụ và ban phát bí tích: Bởi vì đức tin, cầu nguyện, tín lý và lễ nghi luôn luôn đi với nhau. Đọc lịch sử, chúng ta còn gặp những chức vụ có tên Diaconi, Pastores, Presbyteri, Episcopi. Tiếng Diaconi, thày phó tế có nghĩa rõ ràng, nhưng ba tiếng sau rất khó phân biệt, người ta không phân biệt được là linh mục hay giám mục, tỉ như hai tiếng Presbyter và Episcopus trong Tân ước được dùng lẫn lộn. (Cv XX, 17 và 28: I Tm III, 2).

Cuối thời sứ đồ, thánh Ignatiô thành Antiokia (qua các lá thư) cho chúng ta biết Giáo hội đã có phẩm trật rõ ràng: giám mục, linh mục, phó tế, ngài viết cho các giáo đoàn thành Epheso như sau: “Các linh mục khả kính của anh em kết hiệp với các giám mục như dây đàn với phím đàn”. [6] Thánh nhân cũng khuyên họ đoàn kết vâng phục các vị : “Ai không đoàn kết với giám mục, linh mục, phó tế, thì không có lương tâm trong trắng”[7] Trên lãnh vực hoạt động, giám mục, linh mục, phó tế có phạm vi rõ rệt. Giám mục là chủ cộng đoàn có trách nhiệm săn sóc các linh hồn. Chỉ mình ngài có quyền cử hành Thánh Lễ, ban phát các bí tích. Linh mục dưới quyền giám mục, chỉ được thi hành những công tác ngài thông chia.[8] Khi giám mục qua đời hay ngăn trở, linh mục tạm thay quyền. Các phó tế cũng có nhiệm vụ riêng; ban đầu, các thày chuyên lo dọn bữa ăn huynh đệ (Cv VI, I và tiếp). Về sau, ở gần các giám mục và linh mục, các thày có nhiệm vụ săn sóc người nghèo, quản trị tài sản, dọn bàn thờ, mang Bánh cho bệnh nhân, tù đày. Đôi khi các thày làm phép Rửa, lo giúp tội nhân ăn năn hối cải.[32] Nhiều phụ nữ có tuổi, đức độ cũng được đặt làm nữ phó tế (Diaconissa) giúp các thày trong công việc nói trên.

Phẩm trật được đặt ra không những để cai trị Giáo hội, lo việc phượng tự, ban phát bí tích mà còn để lo cho người nghèo nữa; vì Giáo Hội đặc biệt là của người nghèo. Lịch sử cho ta thấy những chứng tá của tình thương nơi Giáo hội từ thời nguyên thủy. Hình ảnh cụ thể đẹp đẽ nhất là bữa ăn huynh đệ. Đây là chứng tá của tình bác ái nơi người Kitô hữu, đồng thời là con đường phát huy sự hiệp nhất Giáo hội. Thật vậy, trong bữa ăn đó, “tất cả cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ chân thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân” (Cv II, 46-47). Dĩ nhiên không khỏi có sự lạm dụng khiến thánh Phaolô phải cảnh cáo (I Cr X 20-21). Đầu thế kỷ II, bữa ăn tách biệt khỏi Thánh Lễ; và khi giáo dân thêm đông, bữa ăn huynh đệ thường ngày không còn duy trì nữa.

Tuy nhiên, tình bác ái của Kitô giáo không phai mờ. Trái lại, nó vẫn phát triển dưới nhiều tổ chức khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thời thế. Mở đầu, công cuộc bác ái rất giản dị, có tính cách tình nguyện, cá nhân. Thánh Giustinô viết: “Ai sung túc hãy giúp các anh em thiếu thốn… Ai dư dật, hãy vui lòng cho đi một phần. Những gì thu được đều đem về trao cho giám mục, chính ngài sẽ phân phát cho những mồ côi goá bụa, hoặc túng thiếu bởi bệnh tật, tù đày…” [9]

Nửa thế kỷ sau, sự tương thân tương trợ đã có tổ chức hoàn bị hơn. Tertullianus viết: “Đó là ngân quỹ do lòng đạo đức. Người ta không dùng vào việc tiệc tùng, nhậu nhẹt, nhưng để trợ cấp và chôn táng người nghèo khổ, cấp dưỡng trẻ em trai cũng như gái thiếu thốn và mồ côi, giúp đỡ những đầy tớ già nua, những người bị đắm tàu và những chiến sĩ đức tin đang sống trong hầm mỏ, hoang đảo, lao tù”. [10]

Còn Tiếp

[1] Tertullianus: De Bapismo, IV.

[2] Didachès,VII.

[3] Didachès. VII – Tertullianus: op. cit. XIX. [20] Teltulianus: op. cit, XVII.

Học Hỏi – Thư Tín – Giải Trí

[4] Xem E. Vacandard: Confession des Péchés, trong Dict. de Théol. Cath – Tertullianus: De Paenitentia. VII.

[5] Origenes: Hom. III in Lev 4.

[6] Thánh Ignatiô: Ep. ad Eph IV.

[7] Thánh Ignatiô: Ep. ad Trallianos,. III.

[8] Thánh Ignatiô: Ep. ad Smyrn. XII. [32] Xem Zockler Diakonen und Evangelisten, Munich 1893.

[9] Thánh Giustinô: Apol. LXVII.

[10] Tertullianus: Apol. LXVII.