Linh mục – Người mục tử

1- Linh mục, người là ai?

Có lẽ chúng ta đã nhàm tai với câu hỏi nầy, một câu hỏi đã từng được đặt ra cách đây hàng trăm năm, và cũng có biết bao nhiêu tác phẩm đã trình bày về Thiên chức Linh mục cũng nhằm trả lời câu hỏi: Linh mục, người là ai? Riêng tại Việt Nam chúng ta, cứ mỗi lần có lễ phong chức linh mục, chúng ta sẽ nghe không biết bao nhiêu là bài hát, bao nhiêu bài giảng cũng với một chủ đề: linh mục người là ai? Và chắc chắn chúng ta đã nằm lòng những câu trả lời như: linh mục là ánh sáng trần gian, là muối men cho đời, là hiện thân Chúa Kitô, là một Đức Kitô khác (alter Christus).

.Thế nhưng nếu chỉ dừng lại ở những ý tưởng đó, chúng ta sẽ có một cái nhìn rất ư là phiếm diện về Thiên chức linh mục. Thật vậy, nếu chúng ta chỉ tìm thấy bản chất của người linh mục là muối men cho đời , là ánh sáng trần gian, là hiện thân Chúa Kitô, là một Đức Kitô khác, thì qủa thật chúng ta sẽ trả lời làm sao về câu hỏi: Giáo hội Chúa Kitô là ai và bản chất Giáo hội là gì?

Công đồng Vat. II trong Hiến chế về Giáo hội đã minh định: “Chức tư tế cộng đồng của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật….đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô theo cách thức riêng của mình” (LG 10). Như vậy không chỉ linh mục thừa tác là ánh sáng trần gian, là muối men cho đời, là hiện thân Chúa Kitô, nhưng là tất cả mọi tín hữu theo cách thế riêng của mình đều phải là ánh sáng, là muối men cho đời, và mỗi một Kitô hữu phải làhiện thân của Đức Kitô, vì tất cả mỗi một Kitô hữu có bổn phận phải làm chứng cho Đức Kitô bằng “đời sống chứng tá thánh thệin, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực” (LG 10). Linh mục là một Đức Kitô khác? Chỉ có thể hiểu phát biểu nầy trong chiều kích mục vu, chứng nhân của Đức Kitô, chứ không thể coi đó là một câu trả lời toàn hảo về ngừơi linh mục, vì dưới chiều kích thần học tín lý thì chỉ một Đức Kitô, một trung gian duy nhất, ngoài Đức Kitô ra không cón Đức Kitô nào khác. Thánh bộ Phúc Am hóa các dân tộc cũng đã khẳng định: “Thực vậy, chỉ có một mình Đức Kitô là linh mục duy nhất và là trung gian duy nhất trước mặt Đức Chúa Cha, còn các linh mục là dấu chỉ và là công cụ của Đức Kitô, tiếp nối công việc của Đức Kitô ở trần gian nầy” (Chỉ nam Linh Mục 1989, 2, e). Linh mục là dụng cụ của Đức Kitô tiếp tục công việc cứu chuộc của Đức Kitô, mà một trong các nhiệm vụ mà ngừơi linh mục tiếp tục đó chính là Mục tử tốt lành

2. Linh mục là ngừơi Mục tử tốt lành được Đức Kitô trình bày trong ba tiêu chuẩn:

a) Biết chiên của mình: “Tôi biết chiên tôi và chiên tôi biết tôi: (Ga 10, 14). Động từ “biết” mà Đức Kitô xử dụng ở đấy diễn tả một mối tương quan mật thiết thầm sâu giữa Mục tử và con chiên như mối kết hiệp thâm sâu giữa Người với Chúa Cha: “như Cha biết Ta và Ta biết Cha” (Ga 10, 15). Người linh mục được chọn gọi để tiếp tục hành vi nầy của Đức Kitô: “biết các chiên của mình”. Tuy nhiên trong cơn lốc của chủ nghĩa hưởng thụ, tục hóa các giá trị tôn gíao, chức linh mục không còn được nhìn như một ơn gọi thần linh, nhưng như một nghề sinh sống như bao nghề khác, và từ chỗ đó người ta hành chính hóa công việc mục tử . Để biết con chiên, người mục tử cần phải tìm đến con chiên, cần phải tạo một mối dây kết nối yêu thương phát xuất từ trái tim. Thế nhưng người mục tử hôm nay đang bị trói buộc bởi nhu cầu hiện đại hóa, và việc tìm đến con chiên để “biết” gặp nhiều khó khăn từ nơi chính con ngừơi mục tử. Với hệ thống vi tính, người mục tử có thể nhận ra những con chiên bỏ xưng tội rứơc lễ, những con chiên khô khan nguội lạnh, sống rối ren…, nhưng lý do tại sao, thì người mục tử bó tay, không biết. Đức Benedictô đã đưa ra một hành động mục vụ cụ thể của người mục tử: để biết con chiên, trứơc tiên người mục tử phải lắng nghe tất cả mọi vấn đề, tất cả mọi khó khăn đi ngược lại với Đức tin, và người mục tử phải nghiêm chỉnh gánh vác những vấn đề nầy. Lắng nghe để trả lời, nhưng làm sao trả lời nếu người mục tử không hiểu lý do của Đức tin? Và Đức tin đó phải thực sự tiêu hoá trong chính con ngừơi mục tử, để câu trả lời thực sự phù hợp với ngôn ngữ của thời đại. Có như thế người mục tử mới thực sự biết con chiên của mình và dẫn chiên vào no thỏa bên dòng suối mát, bên đồng cỏ xanh tươi.
b) Dấn thân cho đàn chiên: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Ưu tư đầu tiên của người mục tư chính là sự sống của con chiên. Đức cha Kamphaus đã nói đến người mục tử nhân lành như sau: “ qủa thật, có những gnười chăn chiên chỉ quan tâm đến lông chiên, cũng có người mục tử chăn chiên chỉ nghĩ đến thịt chiên, chẳng ai quan tâm đến chính con chiên cả. Nhưng , có một người mục tử chỉ quan tâm đến mạng sống con chiên: đó là ngừơi mục tử nhân lành, Đức Giêsu Kitô” (Franz Kamphaus, Priester aus Passion, Herder 1993, 282). Vâng , người linh mục được chọn gọi để tiếp tục chăn giữ chăm sóc vì sự sống con chiên, chứ không phải vì lợi nhuận của người chăn chiên. Người mục tử nhân lành chẳng bao hỏi: tôi được lợi nhuận gì từ việc chăn chiên? Việc chăn chiên nầy thực sự mang lại cho tôi nguồn thu nhập tốt? Người mục tử tốt lành không bao giờ quan tâm lo lắng cho chính bản thân mình, nhưng là cho con chiên. Người mục tử tốt lành không kết án một ai, ngược lại tha thứ và chữa lành mọi tật nguyện ốm đau. Người linh mục phải là cánh tay nối dài của Đức Kitô, tiếp tục lên đường đi tìm những con chiên lạc bỗng ẵm chúng nó trở về. Vâng người mục tử nhân lành không bao giờ nghĩ đến kéo xén lông, nghĩ đến dao mổ thịt chiên, nhưng chỉ nghĩ làm sao cho đàn chiên được sống và được sống dồi dào. Cho nên người mục tử nhân lành không ngần ngại dấn thân cho đàn chiên, không sao lãng trong việc ban phát các bí tích và rao giảng Lời Chúa. Bí tích Thánh Thể được cử hành với trọn vẹn cuộc sống của người mục tử hiến thân cho đàn chiên, chứ không làm một cách máy móc, vô hồn. Người mục tử nhân lành không bao giờ đóng mình trong vỏ tháp ngà “trí thức”, bởi họ giống như người chăn thuê, họ sống “xa nước mắt, xa đói khổ, xa bệnh tật, xa tang tóc ngèo khó, xa dốt nát. Tin họ không bao giờ biết đập những nhịp hòa điệu với nhân loại, vì họ chỉ biết thưởng thức có mỗi thứ ‘kem’ trí thức của sách vở và xem lòng nhân hảo như một thứ sữa cặn” (Fulton Sheen, Linh mục thời đại mới, Kim Thông dịch, Saigon 1970, 35 -36). Người mục tử nhân lành không bao giờ chờ đợi sự phục vụ từ nơi con chiên, nhưng trái lại là tìm con chiên yếu đau, gầy yếu để phục vụ.
c) Chết cho đàn chiên: “Tôi hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên” (Ga 10, 12b). Chết cho đàn chiên là hình ảnh tuyệt đẹp nhất của ngừơi mục tử nhân lành. Chính cái chết trên Thập gía diễn tả Tình yêu của ngừơi mục tử nhân lành đối với đàn chiên một cách toàn hảo. “Chỉ có những ai lo đến quyền lợi tha nhân, mới đem tất cả tình thương ra mà ôm ấp và mang lấy gánh nặng của họ” (Fulton Sheen, Linh mục thời đại mới, Kim Thông dịch, Saigon 1970, 35). Như ngừơi mục tử nhân lành, người linh mục không bao giờ chán nản, bỏ cuộc trong việc thi thành nhiệm vụ phục vụ của mình, và cũng không bao giờ tự thảo mãn với những công việc mình đã thực hiện. Sự hiến thân cho đàn chiên luôn mời gọi người linh mục khám phá liên tục, không ngơi nghỉ những phương thế hũu hiệu cho sự sống của đàn chiên. Lời yêu thương cứu độ được tỏ bày phù hợp với tâm thức của thời đại luôn là đối tượng của việc khám phá nầy. Đây không là chuyện đơn giản, nhưng là công việc đòi nhiều hy sinh, nhiều khi đổ cả máu đào. Con chiên không thể nghe tiếng chủ chăn nếu ngừơi mục tử không liều chết vì họ, con chiên không thể phân biệt kẻ chăn thuê và người mục tử tốt lành nếu không nhận ra sự khác nhau một bên là quyền lợi của chính mình, một bên là sẵn sàng hy sinh mạng sống vì sự sống của đàn chiên. Thật vậy việc khám phá ra tâm thức của thời đại hôm nay để chuyển tải tình yêu cứu độ đòi hỏi người linh mục phải như Đức Kitô: sẵn sàng mất mạng sống mình vì đàn chiên. Người đã mạnh dạn đồng bàn với bọn thu thuế và tội lỗi, Người sẵn sàng giơ tay đụng đến ngừơi phong cùi để chữa lành, Người lên tiếng bênh vực kẻ bị áp bức, như người phụ nữ ngoại tình, Người thẳng thắn phê bình kẻ gỉa hình, Người tiếp xúc với“dân ngoại” mà không chút dè dặt. Qủa thật Đức Kitô đã rao giảng Tin mừng bằng chính tâm thức của thời đại đó, một thời đại đang ngóng chờ sự giải phóng, khỏi áp bức, khỏi nghèo khó, tâm thức chờ đợi một vương quốc an bình. Người mục từ nhân làn của thời hôm nay cũng cần chuyển tải Lời yêu thương bằng thái độ khoan dung, bằng chính sự đồng hành với con người của thời đại, với những người bất hạnh bi đặt ra ngoài lề xã hội, nhưng cũng cần phải mạnh dạn lên tiếng để đưa con chiên mình ra khỏi những ru ngủ của các chủ trương hưởng thụ hay tương dối, mạnh dạn phê phán làn sóng của nền văn minh sự chết. Ngừơi mục tử nhân lành luôn đứng ra bảo vệ sự sống của con chiên và không bao giờ chịu thỏa thuận với thế gian để mưu cầu một sự bình an gỉa tạo.

3. Chức linh mục không chỉ là hồng ân đặc biệt Chúa trao ban cho người linh mục, bởi vì mọi hồng ân phát xuất từ Thiên Chúa đều cao trọng, nơi Thiên Chúa không bị giới hạn bởi qui định của con nguời bị đóng khung trong không gian ba chiều. Hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa tặng ban cho con người không phải là chức linh mục, nhưng chính làsự sống đời đời, sự sống hiệp thông với Thiên Chúa Ba ngôi, hay nói như thánh Phaolô là ơn nghĩa tử, được làm con Thiên Chúa. Chức linh mục là ân ban để phục vụ cho hồng ân đó.Vì vậy ngừơi linh mục không nhận lãnh chức linh mục để mưu cầu cho riêng cá nhân của mình trong lãnh vực thiêng liêng cũng như trần thế, nhưng là phục vụ cho Thân Thể Chúa Kitô, tức Giáo hội, và phục vụ cho ơn cứu độ phổ quát. Bởi đó như người mục tử tốt lành, người linh mục luôn lắng nghe để mau mắn đáp ứng những khát vọng của thời đại, đáp ứng theo tiêu chuẩn của Tin Mừng chứ không mị dân bằng những thỏa hiệp ngược lại với chân lý. Để đựơc như vậy ngừơi linh mục hãy huấn luyện đời mục tử trên đừơng linh đạo Đức ái mục tử: phụ vụ đàn chiên, và đem các chiên khác về một đàn chiên duy nhất trong sự nhẫn nại, khoan dung độ lượng, bằng một trái tim nhạy cảm như Đức Kitô vị Mục tử nhân lành.

Lm Hà văn Minh

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.