Mõ Dân Chúa Gặp Gì Ghi Nấy Tháng Tư, 2018

Mõ Dân Chúa

Hồi này Mõ hay gặp các phát hiện mới từ bạn bè. Bữa đứng trước tượng Thánh Vinh Sơn Liêm là hai vị. Một cơ duyên nha quý vị, hai vị đó một người có tên là Hùng và người kia tên Dũng. Hai vị đó mà đứng bên nhau thử ghép tên họ lại coi đúng là Hùng Dũng thật?

Thấy Mõ đi tới, chú Dũng hướng về Mõ nói: Mõ mà còn ở Việt Nam, chắc cũng đã lọt vào loại “xưa nay hiếm.” Ơ hay, Mõ đùa lại, cần gì ở Việt Nam, ngay ở đất nước Úc này cũng đã hiếm rồi, kiếm đâu ra một Mõ thứ hai y chang Mõ. Chú Hùng biết là Mõ đùa nên nói, nếu mà nói vậy thì trên thế giới cũng chỉ có mình Mõ, ghê chưa! Chú Hùng nói thêm, chỉ cái vân tay thôi mà hàng tỷ con người còn chẳng kiếm được ai có vân tay như Mõ, thấy chưa, hiếm là cái chắc. Nhưng buồn thay, loại người như Mõ, đúng hiếm mà không “quý!” Nghĩa là Mõ chỉ đứng vào bậc xoàng xoàng. Mõ cảm tạ ơn Chúa, chứ nếu Ngài ban cho Mõ cả hai, vừa hiếm mà vừa quý, liệu Mõ có giữ nổi mình không, hay lại tự kiêu, tự đại, sống thiếu khiêm nhường, vênh vang tự đắc! Rồi chắc Mõ cũng khó mà hiểu, mà nhận ra được sự mỏng dòn của thân phận con người, rồi xa rời Thiên Chúa, Mõ mất linh hồn là cái chắc! Ôi ông Mõ ơi, xin Mõ nhớ cho: ông có hiếm cũng chẳng quý đâu. Và Mõ cũng phải nhớ cho rằng, Mõ cũng từ tro bụi và phải trở về cùng bụi tro.

Tháng qua Giáo Hội bước vào Mùa Chay, bên nhà ngày trước người ta nói bước vào “Mùa thương khó.” Mùa của ngắm nguyện, tuần phòng (cấm phòng) tuần đại phúc. Thường tuần này giáo dân trong xứ tập trung về nhà thờ nghe cha giảng và đón nhận bí tích Hòa giải, phải nói là mọi người rất sốt sắng.

Nói tới ngắm nguyện trong “mùa Thương Khó.” Mỗi năm mới có một lần, và giờ ở nước ngoài, chỉ còn quý vị trung cao niên là còn biết và thực hiện các nghi lễ Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhất là tại các cộng đoàn lớn. Tiếng ngắm nguyện làm cho mọi người có thời gian ngồi suy niệm về mười lăm sự thương khó sốt sắng hơn.

Như đã kể ở trên, chỉ còn quý vị trung cao niên còn biết để hướng dẫn các buổi ngắm nguyện. Ngắm xong còn phần dâng hạt, mấy chị dâng hạt toàn là trên dưới bảy mươi tuổi, coi cũng còn nhanh nhẹn nhưng đủ mọi cái yếu trong người. Nhiều chị đi tập cứ nhìn nhau cười vì khi xuống gối bái thì không đứng dậy nổi nữa! Nếu không tuyển được những người trẻ tham gia thay thế, không biết vài năm nữa truyền thống của cha ông để lại có lưu truyền được không! Chắc Mõ lo xa quá nhỉ?

Trở về việc nghe giảng. Ở thời đại chúng ta đang sống hiện nay, mọi người có thể nghe giảng suốt ngày này, qua ngày khác mà chẳng cần vào “mùa.” Vì ai cũng có thể nghe hay xem qua Video, qua đĩa, qua băng, qua Radio và nghe qua máy giảng. Một chiếc máy nhỏ xíu mà có đến gần ngàn bài giảng tùy chọn, sướng thật. Cái sướng thứ hai là cứ mở máy cho giảng rồi tai thì nghe, mà tay thì làm. Thêm cái nữa chúng ta lại còn được chọn nghe những bài giảng của các cha ở xa hơn nửa vòng địa cầu nữa với hình ảnh sống động qua Youtube. Thật là khoa học, kỹ thuật truyền thông đã phục vụ thật tốt cho con người qua công tác truyền giáo.

Thật là khổ cho những con người ở tuổi của Mõ, hoài cổ! Vì cứ thấy cái hiện đại hôm nay, Mõ lại nhớ về cái thời xa xưa. Khi khoa học kỹ thuật còn sơ khai, quý cha giảng chưa có máy khuếch âm, chưa có loa điện. Quý cha có một bục giảng riêng, thường là ở giữa nhà thờ. Người ta đóng một bục giảng bên cạnh một cây cột nhà thờ, bục cao hơn đầu người, có những bậc thang vặn hình trôn ốc, để cha bước lên, đứng trên bục cao và giảng, nhờ ở trên cao, lời giảng mới có thể vang tới được tất cả các nơi, từ phía trên cho đến phía cuối nhà thờ, mọi người đều nghe được lời cha giảng. Chắc giảng xong, các cha sẽ mệt lắm nhỉ! Trong một lần Mõ về thăm quê, Mõ còn thấy một bục giảng trong ngôi Nhà thờ Phát Diệm.

Tiện kể, xin kể luôn về ánh sáng. Ánh sáng dùng cho việc thờ phượng cũng chưa có ánh đèn điện. Bàn thờ sáng nhờ ánh của các cây nến cao. Vì nến cao nên muốn đốt nến, tắt nến phải có cây sào. Cây sào có hai công dụng, vừa dùng để thắp sáng và cũng dùng để tắt nến. Sào có một cái bấc để đốt cháy để đưa lên đốt bấc nến. Và có một cái chụp hình nón dùng để chụp trên đầu ngọn nến, làm tắt lửa tại bấc ngọn nến đang cháy.

Việc đi lại ban đêm thì có đèn dầu, còn tại các nơi công cộng, văn minh hơn có đèn dùng khí đá, đèn dầu lớn, đèn măng xông (manchon) vv. Thế nhưng, thời xa xưa, thiếu ánh sáng ấy, con người đã tìm thấy, có một thứ ánh sáng từ trời qua lời Chúa luôn sáng soi hướng dẫn mọi người biết tìm về con đường đích thực, cho dù đi trong tối tăm trên đường dương thế.

Mùa Chay, mùa của sự sám hối, hay mùa của hòa giải. Nhưng tội ở đâu ra mà nhiều vậy nhỉ? Ngày còn nhỏ Mõ nghịch, hay Mõ trêu chọc người ta đều bị chửi là: “giồng tội,” là “trêu tội.” Thì ra vậy, tội do mình trồng, tội do mình trêu mà có. Và trong kinh cáo mình thì tội do ‘tư tưởng, lời nói, việc làm.’ Mõ cũng sám hối và có chuyện này xin xưng tội cùng Thiên Chúa và anh chị em về cái tội do ‘mình làm.’ Hơn mười năm trước, Mõ có viết một tập truyện ngắn đầu tay, lấy tựa truyện là “Bức Chân Dung Xấu Xí.” Trong đó có một truyện ngắn mang cùng tên. Lời văn rất ngô nghê cho một tự truyện, lấy bối cảnh cũng thật ngô nghê Mõ tự vẽ lại hình Mõ. Đương nhiên là câu chuyện không có thật, nhưng viết để xét lại đời mình và Mõ xin trích một đoạn:

“Đứa nào, đứa nào vẽ bậy vào tấm ảnh của bố mày đây? Bố mày mà biết thì chết!’’ Bà xã tôi hốt hoảng, nhưng hỏi mà không dám nói lớn, như sợ tôi biết. Các con tôi cùng uà ra xem, nhìn tấm ảnh tôi trên tay mẹ lem luốc, đứa nào cũng lắc đầu trả lời: “Con không biết, con không biết.”

Đang ở trong phòng, nghe như có việc gì quan trọng bên ngoài, chuyện gì đây? Tôi cũng chạy vội ra xem. Thấy tôi, bà xã như không dấu được bèn chià bức ảnh ra trước mặt tôi và nói: “Ông ra mà xem này, đứa nào nó nghịch vẽ lên bức ảnh của ông trông có gớm không này!” Nhìn bức ảnh tôi trên tay bà xã, khi bà chià ra cho tôi xem. Đúng là trông tấm ảnh với những vạch chì ngang dọc! Tôi cười lớn: “Đứa nào đâu, đứa này đấy.’’ Bà xã tôi nhìn tôi kinh ngạc như muốn hỏi tại sao? Tôi phải nói rõ ràng về việc tôi làm. Nghe xong bà nhăn mặt nói: “Ông đã làm hỏng bức ảnh!’’

Vâng, tôi đã làm hỏng bức ảnh! “Kể cũng đã lâu. Có một buổi sáng rảnh rỗi. Không có việc gì làm, tôi quay qua dọn dẹp nơi bàn học của các cháu, thấy còn vài tờ giấy trắng, vài cây bút bi, và cây bút chì nằm lăn lóc. Tôi nhặt tất cả lên và bỏ vào trong cái ly sành dùng đựng bút. Còn lại hai tờ giấy trắng. Thứ giấy dầy loại dùng để vẽ. Chẳng biết của cháu nào bỏ ra để dùng vào việc gì. Không biết là có bị hư gì không?

Nhưng không thấy có tì vết gì cả, tôi cũng cầm bỏ lên kệ sách. Trong đầu chợt nảy ra ý định: Vẽ gì chăng? Tôi rút cây bút chì từ trong cái ly đựng bút ra. Coi, cái đầu bút chì ai chuốt còn nhọn hoắc. Tôi đã tính nghệch ngoạc vài nét lên trên mặt giấy, nhưng kịp ngừng lại. Mình phải vẽ một cái gì có chủ đích chứ? Thừa giấy không lẽ đi vẽ voi! Chợt ngẩng đầu lên. Tôi thấy bức ảnh bán thân chụp chân dung tôi hồi còn trẻ, tôi rất ưng ý. Ảnh lồng trong khung kính treo trên vách và tôi lấy xuống ngắm nghiá, vẽ thử lại cái hình này?

Chẳng thèm nghĩ suy gì thêm. Tôi gỡ khung hình xuống, rồi ngồi mở khung hình. Lấy tấm ảnh ra. Đặt tấm ảnh trước mặt và thử làm một công việc tôi chưa hề làm bao giờ. Đó là vẽ. Tôi vốn mù tịt về các môn nghệ thuật. Tay chân lại vụng về thô cứng. Lại chẳng có chút năng khiếu gì về hội họa. Thế cho nên nhìn vào bất cứ bức tranh nào. Tôi cũng không có tí khái niệm hay hiểu hết ý nghĩa về bức tranh mà người họa sĩ muốn nói gì trong đó. Cho nên hôm nay. Khi chợt nảy ra trong đầu cái ý vẽ. Tôi đã tính bỏ đi, không làm nữa. Nhưng sau đó lại nghĩ: Sao chưa làm mà đã nản rồi! Cứ thử làm xem sao. Như nhiều công việc mình đã chưa bao giờ làm cả, thế mà cũng đã làm được. Dù không xuất sắc gì, nhưng cũng đã làm được mà.

Nghĩ thế cho nên tôi vẽ. Thoạt đầu, tôi cầm cây bút chì. Mắt nhìn vào bức ảnh, tay đưa cây viết theo cảm quan nhận được từ đôi mắt truyền lên đầu rồi đi xuống bàn tay. Được vài nét, tôi coi lại, hỏng! Chẳng có nét nào mà bàn tay tôi vẽ trúng với con mắt tôi nhận được từ tấm ảnh. Tôi dùng tẩy, tẩy sạch các nét vẽ hỏng. Lại hý hoáy vẽ tiếp. Cũng không được. Tính bỏ, chợt tôi nhớ lại ngày còn nhỏ, thấy thầy giáo Ý vẽ hình. Ông dùng bút chì kẻ ô vuông trên tấm ảnh, sau đó cũng phân ô vuông trên tờ giấy mà ông tính vẽ theo kích cỡ ông muốn nó lớn hơn nhiều hay ít theo tỷ lệ, rồi scan từ ảnh qua giấy. Từng ô, từng ô một, nét nào nằm ở ô nào trong ảnh thì được chuyển qua giấy đúng vào ô đó.

Hì hụi tôi kẻ những đường chì ngang, dọc. Cầm bức ảnh lên coi. Mặt tôi được chia ra từng ô nhỏ, tôi có thể nhìn và phân tích mọi nét nhỏ nhất trên khuôn mặt thanh tú của tôi, từ đôi mắt sáng, sống mũi thẳng, đôi mày rậm và chợt mỉm cười với hàng ria mép mượt mà, lưa thưa dài hai bên mép làm tăng thêm nét hài hoà của bờ môi. Tôi chợt nghĩ về mình với vài ý nghĩ ngộ nghĩnh: Lúc trẻ thì cố tình để râu ria cho có vẻ già dặn. Nhưng, làn da non căng, tươi trẻ, cộng với nét mặt cứ non choẹt trông chỉ thấy nghịch mà không già. Nay già rồi. Tóc cứ ngày một bạc trắng, nhuộm đi, nhuộm lại, vậy mà vẫn chẳng trẻ ra cho. Buồn!

Còn tờ giấy trắng, khổ lớn hơn, tôi cũng chia ô theo tỷ lệ mà tờ giấy có được, tôi đánh ghi những ô chuẩn sau đó tôi bắt đầu scan từ tấm hình qua tờ giấy. Cẩn thận, kiên nhẫn và từ từ sau vài ngày. Tôi đã có những đường nét rõ ràng về tấm ảnh, hơi hơi giống nhau. Tôi cũng mừng là với cố gắng, tôi đã làm được. Nhưng để thật giống, tôi còn phải tô những đường bóng mờ để tôn lên các góc cạnh, đường nét của khuôn mặt, sống mũi, bờ môi cho chỗ thì nổi lên, nơi nào cần thì chìm xuống, để cho nó thật giống với tấm ảnh mẫu. Điều này thì mới thật là khó đối với tôi, tôi không làm được dù đã cố gắng làm đi, làm lại nhiều lần và thử đủ mọi cách. Cuối cùng, khuôn mặt tôi trong bản vẽ và tấm ảnh đã biến dạng, chẳng còn giống nhau nữa. Bây giờ thì tôi thực sự nhận ra rằng tôi không đủ khả năng để vẽ. Tôi bỏ tấm ảnh vào ngăn kéo, còn bức vẽ tôi huỷ đi.”

Vâng, tôi đã làm hỏng bức ảnh. Tấm ảnh đẹp đẽ là tôi, là hình ảnh Chúa ban cho tôi. Những đường gạch ngang là những lỗi tôi đã vấp phạm cùng Chúa. Những đường kẻ dọc, là những lỗi tôi đã vấp phạm đến tha nhân. Trong Mười điều răn của Chúa, được tóm lại trong hai điều mà chớ là: Kính Chúa và yêu người. Cả hai lỗi trên tôi đều phạm cả! Cầm lại tấm ảnh, tôi ngồi xuống bàn, mở ngăn kéo, tìm cục tẩy, tay tôi đưa nhẹ nhàng cục tẩy lướt lên trên những lằn chì, hết lằn này, đến lằn khác, miệng thổi phù phù, cho các bụi do cục tẩy thải ra để lại trên mặt tấm ảnh bay đi. Xong tôi cầm tấm ảnh lên dũ cho các vẩn bụi rơi xuống. Cuối cùng, tôi dùng giấy mềm lau sạch mặt tấm ảnh. Coi kỹ lại tấm ảnh, giờ thì các vạch chì không còn nữa, nhưng mờ mờ, loang lỗ các mảng chì để lại trên mặt tấm ảnh. Tấm ảnh không còn trở lại được trạng thái ban đầu, nó đã xấu đi.  Cái xấu mà do chính bàn tay tôi làm ra!

Nhìn bức ảnh, tự nhiên tôi nghiệm lại bản thân mình. Thế là tôi đã sống qua mấy chục năm trời trên cõi đời này rồi đấy, và đã có bao nhiêu lằn chì vô hình ngang dọc, tôi đã kẻ trên đời tôi nhỉ? Làm sao mà đếm cho xuể! Như trong đời thường, vô tình tôi đã làm những việc sai, nó giống như tự tay tôi kẻ những tì vết lên cuộc đời đẹp đẽ mà Thiên Chúa đã ban cho tôi, trong suốt mấy chục năm qua, có những đường kẻ mờ, đường kẻ đậm, thế mà tôi đã không nhìn ra được! Như bức ảnh đẹp đẽ kia. Nó đẹp đến độ tôi đã muốn vẽ nó lớn ra và đẹp hơn, nhưng tôi đã không làm được. Ngược lại tôi đã làm cho nó xấu đi! Với khả năng hạn hẹp, tôi không còn làm cho nó trở lại cái đẹp của bức ảnh ở trạng thái lúc ban đầu được nữa. Vì những đường chì đã kẻ ngang dọc trên nó. Dù tôi có tẩy được mờ đi, thì nó vẫn còn để lại những mảng chì mờ mờ loang lỗ. Quá trễ, để chỉ còn nói được những câu tiếc nuối: (giá như mình đừng làm). Vì tôi không thể tự làm cho mình sạch sẽ được và chỉ còn biết cậy nhờ vào Lòng Chúa Thương Xót của Chúa, xin Ngài tha thứ cho Mõ. (Vì Mõ đã trồng nên tội!)

Đồi Ta’Pinu

Như mọi năm, Ban cổ động Nhà nguyện Đưc Mẹ La Vang trên đồi Đức Mẹ Ta’ Pinu có tổ chức hai buổi lễ. Một vào ngày lễ Sinh nhật Đức Mẹ và một ngày nữa nhân mùa chay. Tuy hai buổi lễ, nhưng vào Mùa Chay, Mùa Thương khó thì tổ chức lớn hơn với buổi đi đàng Thánh Giá bên sườn đồi dốc có cả tượng cho mười bốn nơi thương khó. Các bức tượng lớn bằng với người thật.

Thường thì sau thánh lễ tạ ơn, lúc đó đã vào khoảng 12 giờ 30 trưa. Ban tổ chức mời mọi người ăn tạm bữa cơm tay cầm và giải khát. Sau đó ban tổ chức còn phát cho mỗi người một giải vải mầu tím khoác vai, rồi cùng nhau xuống Nhà nguyện La Vang dâng lời nguyện cùng Mẹ, sau đó cùng nhau “Đi Đàng Thánh Giá.”

Bước những bước xuống đồi dốc, rất dốc để khởi hành chặng đàng thánh giá ở nơi thứ Nhất. Với lời nguyện, ngắm suy niệm và các bài hát mùa chay. Đoàn người theo thánh giá leo đồi, giống như leo Đồi Canve xưa. Khi đến chặng nào lời nguyện cất lên và mọi người quỳ xuống: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Giê Su, vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ. Nơi thứ..

Trong cái nóng, cái gió, lên con dốc cao mọi người lấm tấm mồ hôi, khăn tím trùm đầu, cuốn cổ, tay cầm sách. Những người có sức khỏe cũng tương đối dễ dàng lên hết mười bốn chặng. Nhưng coi vậy mà các cụ cũng không chịu kém, tay chống gậy, đi bên con cháu kè kè hai bên, cũng chia sẻ được trọn vẹn cuộc khổ nạn của Chúa trên Đồi Canve xưa.

Năm nay, trời nắng hơn, và cái gió sa mạc đe dọa mọi người, nên số người lên đồi có ít hơn. Cũng vì lo cho sức khỏe của mọi người. Cha linh hướng và ban tổ chức đã quyết định đi đàng Thánh giá trong nhà nguyện. Đương nhiên, có nhiều người thích và cũng có người muốn được đi đàng thánh giá ngoài trời.

Lễ giỗ Cha Phanxico Xavie Trương Bửu Diệp

Lễ giỗ Cha Trương Bửu Diệp đã qua, nhưng có những điều để lại đáng nhớ. Ngoài những khuôn mặt thân quen, năm nay, đã thấy thêm những khuôn mặt mới, những người Úc sống quanh ta. Không biết họ đã đến Việt Nam chưa? Đến Tắc Sậy chưa? Nhưng họ đã biết đến, khi nghe danh Cha Trương Bửu Diệp, và họ đã đến cùng hiệp dâng thánh lễ, tham dự vào các sinh hoạt của Hội Bác ái Cha Trương Bửu Diệp Melbourne.

Qua những thông tin mà hội cho biết. Mỗi lễ giỗ cha hằng năm, được sự cộng tác và lòng quảng đại của nhiều người, nhiều bàn tay đóng góp. Nhờ đó, hội đã làm trung gian chuyển những số tiền nhận được để gửi về các nơi như trại phong, trại tâm thần, người nghèo vv. Có nhiều, giúp nhiều. Có ít giúp ít. Hội đã thực hiện công việc chung là: đón nhận và chia sẻ.

Xin kính chúc quý Cha, quý tu sỹ và quý độc giả thân mến, hưởng một mùa Phục Sinh tràn đầy hồng ân Thiên Chúa.