MỖI NGÀY MỘT GƯƠNG THÁNH: THÁNH GIÁO HOÀNG LÊ-Ô CẢ – 10/11

VỊ GIÁO HOÀNG VĨ ĐẠI CỦA KI-TÔ GIÁO

(c. 461)

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Giáo hoàng Lêô có lẽ qua đời ngày 10 tháng 11 năm 461, và lễ nhớ ngài đã được chứng thực trong Sách Tử Đạo của thánh Giêrônimô. Ở phương Đông, ngay từ xa xưa, lễ này được mừng vào ngày 18 tháng 1 tại thánh đường Sainte-Sophie ở Constantinopoli. Còn tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh chỉ có từ 1754. Lăng mộ của ngài được đặt dưới hành lang của thánh đường Thánh Phêrô ở Rôma.

Thánh Lêô sinh vào cuối thế kỷ IV, có lẽ là người gốc Toscana có thủ phủ là thành phố Florence [Firenza], nước Ý, nhưng hấp thụ nền giáo dục Rôma. Là tổng phó tế [nhân vật số 2 của Giáo Hội Rôma] thời các Đức Giáo Hoàng Celestin I và Sixte III, ngài nổi bật về sự nhiệt tình phục vụ Hội Thánh. Trong số những hoạt động của ngài, chúng ta chỉ kể ra đây một số quan trọng :

–  Năm 430, vì lo lắng cho giáo lý chính truyền, ngài đã nhờ tới tu sĩ Jean Cassien người Marseille : “Xin giúp chúng tôi chống lại Nestorius, là người chủ trương Đức Kitô có hai ngôi vị…” Vị tu sĩ này trả lời bằng một khảo luận vững chắc về Nhập Thể, đề tặng cho tổng phó tế Lêô, “điểm son của Hội Thánh và của thừa tác vụ thánh”;

– Năm 439, nhờ tổng phó tế Lêô, Đức Sixte III lật tẩy được lạc thuyết của Julien dÉclane, giám mục ở Benevent, là người bênh vực thuyết Pêlagiô [loại bỏ sự cần thiết của ơn sủng để giúp con người nên công chính và được thánh hóa], và ông này bị truất ngôi sau đó;

– Năm 440, trong khi đang ở tại triều đình xứ Gaule [Nước Pháp], trong sứ mạng hoà giải cuộc xung đột giữa tướng Rôma Aetius và tướng Gaulois Albitius của Nươc Pháp, ngài được hàng giáo sĩ và giáo dân Rôma kêu gọi kế vị Đức Sixte III.

Hai mươi mốt năm giáo hoàng của ngài (440-461) có thể chia thành 2 thời kỳ, với những biến cố quan trọng nhất sau đây:

  1. Năm 443, Đức giáo hoàng Lêô triệu tập ở Rôma một hội nghị để tố giác những lạc thuyết của phái Manikê [kết hợp hai quyền lực ngang sức nhau là « thiện’ và « ác »] từng bị Đức giáo hoàng Innocentê I kết án năm 416 : tất cả tác phẩm của họ bị đốt hết. Ngài cũng làm như thế đối với phái Pêlagiô [phái phủ nhận quyềnlực và sự cần thiết của ơn sủng] mà công đồng Êphêsô đã kết án cùng với phái Nestoriô [chủ trương chối bỏ thiên tính của Chúa Giêsu] vào năm 431 ; năm 437, ngài cũng chống lại phái Priscilla [phái do ông Motanô chủ trương, nở rộ tại Phrysy, thuộc Phi Châu ; ông Môntanô thường đi với hai người phụ nữ là Priscilla và Maximilla là những người tự nhận là hiện thân của Thần Khí. Họ kêu gọi dân chúng ăn chay và cầu nguyện để có được những mặc khải cao cả, siêu phàm], Đức Lêô cả đã kêu gọi một công đồng cấp quốc gia kết án phái này. Đức giáo hoàng cũng can thiệp trong lãnh vực kỷ luật tại châu Phi, để tạo điều kiện cho việc phong chức các giám mục. Về cuộc tranh cãi giữa ngài với đức Hilaire, giám mục thành phố Arles và là đại diện giáo chủ Rô-ma tại Gaule, ngài kêu gọi vị giám mục này trở về với trật tự và ra hình phạt đối với vị này. Như thế Đức Lêô có ý khẳng định uy quyền toàn cầu của giám mục Rôma. Ngài tuyên bố trong một lá thư viết năm 446 : “Rôma đề ra những giải pháp trong trường hợp được người ta yêu cầu; những giải pháp này có giá trị sắc lệnh. Trong tương lai, Rôma sẽ ra những hình phạt theo luật.”
  2. Trong thời kỳ thứ hai của đời giáo hoàng, ngài chủ yếu quan tâm tới việc bảo vệ tín lý về Nhập Thể chống lại Eutychès, với tất cả những bước thăng trầm gắn liền với Công đồng Chalcédoiniô là công đồng địnhtín về MầuNhiệm Chúa Giêsu Kitô (451).

Chúng ta nhắc lại những sáng kiến rất dồi dào của ngài. Trên bình diện giáo lý có bức thư nổi tiếng là lá  Thư gửi Đức Flavien. Trên bình diện phụng vụ : rất nhiều bản văn của Sách Bí Tích Vêrona cũng được gọi là “của Đức Lêô”. Trên bình diện chính trị, các sáng kiến cá nhân của ngài, như việc chống lại Attila, vua người Huns, ở Mantoue (452), hay chống lại Senséric, vua của người Mandi  Vandalê, ở Rô-ma (455), xứngđ1ng với vai trò bảo vệ hòa bình.Trên bình diện văn chương hay tu từ : 96 thiên khảo luận hay bài giảng liên quan tới 5 năm thi hành thừa tác vụ đầu tiên của ngài, và 173 lá thư.

Khi Đế quốc Rôma tới ngày suy tàn, và khi những đạo lý mới lạ ngày càng lôi cuốn người ta và các lạc giáo xưa kia nổi dậy trở lại, Đức giáo hoàng Lêô ý thức vai trò kế vị thánh Phêrô của mình, đã có những hành động quyết định đối với vận mệnh của Hội Thánh và của Đế quốc.

2. Thông điệp và tính thời sự

Các lời nguyện thánh lễ lấy từ Sách Bí tích Vêrona, làm nổi bật một số đặc điểm của thánh Lêô.

  1. Lời Nguyện của ngày lấy ý từ Tin Mừng thánh lễ (Mt 16, 13-19), kêu mời tín hữu cầu nguyện để Hội Thánh, “được xây dựng trên đá tảng không lay chuyển của các thánh Tông đồ”, được luôn “vững vàng trong sự thật” và “bình an”.

Vào một thời kỳ đầy khủng hoảng và Đế quốc Rôma tan rã, thánh Lêô đã triển khai thần học về quyền tối thượng của giám mục Rôma đối với Hội Thánh toàn cầu. Như thế ngài thể hiện sứ mạng đảm bảo truyền thống công giáo bằng cách hăng say bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin chống lại mọi lạc thuyết và nền ngoại giáo La-Hi. Ngài đứng lên chống lạc giáo Pêlagiô, Priscilla, Manikê. . . và chống cả những pháp sư, phù thuỷ và bói toán đang quyến rũ rất nhiều tín hữu của Chúa Giêsu Kitô.

Ngài có hành động đặc biệt trong cuộc tranh luận chống Êutychès, Viện Phụ của một Đan viện ở Constantinopoli. Bị lôi cuốn bởi sự hăng say chống lạc thuyết Nestoriô qu1 nhấn mạnh đền nhân tínhĐức Giêsu, Êutychès cuối cùng lại rơi vào lạc thuyết đối nghịch, cho rằng nơi Chúa Ki-tô chỉ có một bản tính duy nhất (thuyết một bản tính). Đức Lêô phản ứng bằng một khảo luận tín lý dưới dạng một lá thư gửi cho Đức Flavienô, giáo chủ Constantinople: đó là tác phẩm nổi tiếng « Thư gửi Đức Flavienô » trong đó vị thánh tiến sĩ công bố rõ ràng Lời tuyên xưng (Credo) của Kitô giáo về mầu nhiệm Nhập Thể: “Đấng là Thiên Chúa thật sinh ra trong một bản tính hoàn hảo và toàn vẹn của con người, hoàn toàn trong bản tính của Người, hoàn toàn trong bản tính của chúng ta. . .Đấng là Thiên Chúa thật cũng là người thật. . .”

Năm 451, hoàng đế Marcianô thoả thuận với Đức giáo hoàng triệu tập công đồng Chalcédoinê, là Công Đồng Chung thứ 4, do các đặc sứ của giáo hoàng chủ tọa. Tại công đồng này đã hình thành tín điều liên quan tới Chúa Giêsu Kitô : “Chúng tôi tuyên xưng chỉ có một Đức Giêsu Kitô duy nhất. . . Sự kết hợp không xoá bỏ các bản tính, mà trái lại các thuộc tính của mỗi bản tính được duy trì và thống nhất nơi một ngôi vị duy nhất.” Công đồng phê chuẩn bằng lời ca ngợi giáo huấn của Đức Lêô trong Thư gửi Đức Flavienê, được đọc cho hội nghị: “Đây đúng là đức tin của các Tông đồ. Thực vậy, đúng là thánh Phêrô đã nói qua miệng Đức Lêô.”

Điệp ca của bài Magnificat : “Mỗi ngày, trong Hội Thánh, thánh Phêrô tuyên xưng : Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, làm vọng lại lời lẽ trong lá thư Đức Lêô viết cho giám mục Hilariô thành Arles: “Thiên Chúa, Đấng đã truyền cho các tông đồ sứ mạng rao giảng Tin Mừng, đã đặt thánh Phêrô lãnh đạo tất cả các tông đồ, để từ thánh Phêrô, trong tư cách là đầu, các ân huệ của Chúa có thể đổ tràn xuống toàn thân ; và ai dám cắt lìa khỏi sự duy nhất với thánh Phêrô, người ấy không được dự phần vào nhiệm cục cứu độ của Chúa.”

Thánh Lêô thật xứng đáng nhận tước hiệu Đức Lêô Cả. Đức Giáo Hoàng  Sergiô I (687-701) đã đề tặng trên mộ ngài văn bia này : “Các tác phẩm, thư từ của ngài chứng thực giáo lý chính xác của ngài. Các tâm hồn đạo đức tôn sùng chúng, quân vô đạo sợ hãi chúng. Sư tử đã gầm lên, tim của mọi dã thú run lên vì khiếp sợ, nhưng đoàn chiên thì đi theo các lệnh truyền của chủ chiên.”

Mọi hoạt động của vị giáo hoàng này luôn đi kèm với một thái độ lạc quan cơ bản và một sức mạnh thanh thản. Ngài giảng như thế này khi cử hành lễ Giáng Sinh : “Chúng ta hãy vui mừng, vì không ai được phép buồn sầu trong ngày sự sống sinh ra. . . Người tội lỗi hay vui mừng, vì họ được mời lãnh ơn tha tội. Người ngoại đạo hãy can đảm lên, vì họ được kêu gọi vào sự sống. Người Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của mình… Hãy nhớ lại anh em thuộc về vị thủ lãnh nào, và anh em là chi thể của thân  mình nào.” Thánh Lêô trước hết là một con người của Chúa, và Luật Chúa ghi tạc trong tim  ngài (Tv 36).

Thánh Lêô Cả được trình bày trong nhiều bức họa, trong đó phải kể đến những bức phù điêu của Fra Angelico và một bức hoạ của Raphael (Thánh Lêô ngăn chặn Attila), tại viện bảo tàng Vaticanô. Ngoài ra, một bức thảm danh tiếng của Gobelins (thế kỷ XVII), được trưng bày ở cung điện các giáo hoàng ở Avignon, vẽ hình Thánh Lêô ngăn chặn Attila trước cổng thành Rôma.