MỖI NGÀY MỘT GƯƠNG THÁNH: THÁNH VINH SƠN PHAO-LÔ – 27/09

THÁNH VINH SƠN PHAO-LÔ – ĐẤNG LẬP DÒNG TRUYỀN GIÁO LAZARIST VÀ NỮ TỬ BÁC ÁI
(1576-1660)

Thánh Vinh Sơn sinh năm 1576, tại Dax, nam Bordeaux, nước Pháp, trong một gia đình nghèo sống nhờ sức lao động. Dường như ngài được Thiên Chúa ban cho lòng thương xót của Chúa ngay từ lúc mới sinh. Khi còn nhỏ, ngài được cha ngài sai đến cối xay bột để xay bột cho gia đình. Trên đường về, ngài gặp một người nghèo và vì chẳng có gì trong người ngoài túi bột của gia đình cả nên ngài đã mở túi và cho người nghèo ấy vài đấu bột. Cha ngài, vốn là một người Ki-tô hữu, không những đã không tức giận, trái lại còn nhìn ra được thiên hướng tốt lành của cậu con trai và dự đoán có lẽ ngày nào đó cậu sẽ trở thành linh mục. Nghĩ thế, ông liền cho cậu theo học ở nhà nội trú của một nhóm các linh mục dòng tại Dax. Vinh Sơn đã tiến bộ rất nhanh, chỉ sau bảy năm học thần học tại Toulouse – Pháp và Saragossa – Tây Ban Nha, chàng trai trẻ Vinh Sơn đã được thụ phong linh mục vào năm 1600. Cậu luôn luôn chuyên cần học hỏi và theo lời khuyên của thánh Phao-lô: “Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, Đức Giê-su Ki-tô đã chịu đóng đinh vào thập giá.” Ngay sau khi chịu chức, ngài bị bắt bởi bọn cướp biển và bị bán đến Tunisia làm nô lệ. Ngài đã cải hoán chính tên lưu manh sống ngoài luật pháp đang sở hữu ngài, và cùng với hắn thoát về nước Pháp. Sau đó, ngài tiếp tục học tại Roma và trở về Pháp và chọn Abbé de Berulle, một vị linh hướng nổi tiếng, làm linh hướng của mình. Vị Đầy Tớ Chúa này đã thấy được nơi vị linh mục trẻ này một gọi ơn để cống hiến cho Giáo hội một việc phục vụ phi thường và lập một cộng đoàn các linh mục làm việc vị phần ích của Giáo hội. Ngài nói với cha Vinh Sơn để cha có thể chuẩn bị chính mình về phương diện nhân loại bao nhiêu có thể hầu có thể đón nhận thánh ý Chúa sau này. Khi Vinh Sơn được trao phó cho chức vụ tổng tuyên úy cho các tù nhân khổ sai trên thuyền tại Pháp, lòng từ ái của ngài đã mang lại hy vọng cho nhiều tâm hồn của các tù nhân trước nay vẫn bị nỗi tuyệt vọng ngự trị. Nhìn thấy một bà mẹ than khóc cho đứa con bị tù đày của mình, ngài đã tự mình mang lấy xiềng xích của chàng trai trẻ ấy, ngồi vào chỗ của cậu trên con tàu ấy để cậu có thể trở về với mẹ của mình. Lòng bác ái của ngài bao dung ôm lấy những người nghèo khổ, trẻ dại và già cả nơi những tỉnh lỵ bị tàn phá tan hoang bởi nội chiến; và cả những Ki-tô hữu bị bắt làm nô lệ bởi những dân ngoại chống đạo. Đối với ngài, những người nghèo khổ, bị bỏ rơi và khinh miệt là chính hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng đã trở nên chính người phong hủi. Ngài nói, hãy lật mặt mề đay và con sẽ thấy chính Đức Giê-su. Ngài rảo khắp các đường phố của Paris về đêm, tìm kiếm các hài nhi và trẻ nhỏ bị bỏ mặc (ước chừng có khoảng 300-400 mỗi năm). Một lần kia bọn trộm cướp đuổi theo ngài vì nghĩ rằng ngài mang theo vật gì quý giá thì ngài mở áo choàng ra để lộ một em bé bị bỏ rơi. Bọn chúng đã quỳ sụp xuống dưới chân ngài. Thánh Vinh Sơn không chỉ là sự quan phòng cho người nghèo nhưng còn cho cả người giàu có vì chính ngài đã dạy cho họ bắt đầu công cuộc của lòng thương xót. Năm 1468, công cuộc nuôi các trẻ mồ côi đứng trước nguy cơ phá sản do thiếu tài chính, ngài đã triệu tập các quý bà thuộc Hiệp Hội Bác Ái và nói: “Lòng trắc ẩn và bác ái đã khiến cho mọi người đón nhận những sinh linh nhỏ bé này như con cái mình. Trong ân sủng, chính các chị là mẹ của chúng, khi mà mẹ ruột của chúng đã bỏ rơi chúng. Bây giờ các chị lại từ bỏ việc làm mẹ của chúng hay sao? Giờ đây sự sống chết của chúng ở trong tay các chị. Tôi sẽ đếm phiếu biểu quyết vì đây là lúc quyết định.” Chỉ có nước mắt trả lời ngài và rồi công cuộc đã được tiếp tục.

Các Linh mục truyền giáo hay còn gọi là các cha dòng Lazarist và hang ngàn Nữ tử Bác ái vẫn còn tiếp tục an ủi những kẻ âu sầu đau khổ với lòng bác ái của Cha thánh sáng lập của họ cho tới ngày nay. Người ta vẫn nói rằng chưa có ai thực hiện được theo như lời của Đức Ki-tô: “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên…Ai càng cố gắng để hạ mình trong mắt của mọi người, Thiên Chúa nâng người ấy lên và còn ban cho chính ân sủng của Ngài trên mọi công việc của người ấy. Ngài mất vào năm 1660 trong tuổi già đã được tôi luyện thành vàng với những việc tốt lành không ngơi.

Lời Bàn

Giáo Hội là gia đình của mọi con cái Thiên Chúa không phân chia dân tộc, giàu nghèo, cấp bậc, bằng cấp hay sự hiểu biết nông sâu. Tâm điểm và kho tàng của Giáo hội chính là những người nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, và bị bỏ rơi. Thánh Vinh Sơn Phao-lô là tấm gương cho mọi Ki-tô hữu trong thế giời ngày nay về lòng từ ái của chính Thiên Chúa dành cho nhân loại. Ngài quả thật là quan thầy của các việc bác ái. Ngày nay, người đói nghèo và bị bỏ rơi ngày càng nhiều trong khi đó có nhiều người lại càng trụy lạc tỏng lối sống xa hoa. Thực trạng sa sút về thể chất và tâm linh của con cái Thiên Chúa cần phải được quan tâm cách xứng hợp với lòng can đảm truyền giáo để mang về cho Chúa những người con rất yêu dấu của Ngài đang bị bỏ rơi nơi góc đường và phố chợ.

Lời Trích

“Hãy cố gắng vui lòng chấp nhận sống với những điều kiện khiến bạn bất mãn. Hãy giải thoát tâm trí mình khỏi những điều làm bạn phiền hà, Thiên Chúa sẽ lo lắng mọi sự. Khi bạn vội vàng lựa chọn bạn sẽ làm buồn lòng Thiên Chúa, vì Người thấy bạn không tôn kính Người đầy đủ với sự tin tưởng thánh thiêng. Hãy tin tưởng vào Người, tôi nài xin bạn, và bạn sẽ được no đầy những gì mà tâm hồn bạn khao khát” (Thánh Vinh-sơn Phao-lô, Thư Từ).

Ngọc Đức SDB – chuyển dịch từ trang http://santoral.com