Người Cha và Tu sĩ

Trần Bá Nguyệt

  1. My Old Dad!

My old dad is a good guy!

Cha tôi là một con người thật tốt.

Ông không phải là một anh hùng.

Ông cũng không phải là một người thành danh hay đầy uy quyền,

Ông không đậu đạt hay có nhiều bằng cấp, Nhưng đối với chúng tôi, Ông là một good guy!

Ông dạy chúng tôi về những cây cỏ  mọc trong vườn;

Ông dạy chúng tôi buổi sáng mặt trời mọc và buổi chiều mặt trời lặn;

Ông dẫn chúng tôi lên đồi cao và dạy chúng tôi về những dòng suối, những cánh mai vàng, những đàn chim mỗi chiều bay về tổ từng đàn từng đàn, nhịp nhàng, có trật tự, có sự chỉ huy;

Ông dạy chúng tôi có buổi sáng, buổi chiều; có ngày mưa, ngày nắng;

Ông dạy chúng tôi cây lúa cho gạo và cây nho cho trái ngọt;

Ông dạy chúng tôi làm sao những hạt lúa trở thành hạt gạo;

Ông dạy chúng tôi bầy gà con và bầy gà mẹ;

Ông dạy chúng tôi bầy heo trong chuồng, đàn bò ngoài nương rẫy;

Ông dạy chúng tôi hạt mưa từ đâu đến và chảy về đâu;

Ông dắt chúng tôi lên đồi cao và vào thung lũng;

Ông không phải là một nhà sinh vật hay một nhà môi trường;

Ông dắt chúng tôi tới thăm thày dạy ngày đầu năm.

Cha tôi là một good guy! Ông dạy chúng tôi yêu mến anh em vì cùng cha, cùng mẹ.

Tôi lớn lên và nhớ những điều ông dạy. Ông là một good guy! A GOOD GUY!

(Ghi theo bài hát “My Old Dad!”)

  1. Người cha là ai?

Về chuyện lo lắng chăm sóc cho gia đình, có ba loại người cha.

  • Người cha làm hết mọi công việc Người ta thấy anh tay ẵm con bé mới sinh và dắt thằng anh đang chập chững bước đi. Anh cho con bú chai sữa. Ở nhà anh tắm giặt cho các con, cho chúng ăn và làm mọi việc cho hai đứa nhỏ. Anh là một ông chồng nội trợ.
  • Người cha biết chia sẻ công việc Hai vợ chồng trẻ đều đi làm. Hai đứa con nhỏ giao cho ông bà nội. Khi đi làm về, người mẹ lo cơm nước, người cha lo tắm rửa cho hai con nhỏ, chơi với chúng và cho chúng ăn uống. Mọi công việc ai rảnh nấy làm cho hai đứa nhỏ. Khi thì anh ghé shop mua sữa, khi tiện thì chị ghé shop thay anh. Không ai phàn nàn về công việc. Hai đứa nhỏ quấn quit bên cha mẹ khi cả hai đi làm về. Buổi tối cả hai cho con học bài, làm bài, ăn uống và đi ngủ, chuẩn bị cho công việc ngày mai ở trường cho con và ở nơi làm việc cho cha mẹ. Công việc tiếp diễn cho đến ngày cả hai đứa nhỏ vào mẫu giáo rồi vào tiểu học. Hai vơ chồng đón con cho chúng đi học thêm và dạy chúng ở nhà. Cả hai chia sẻ mọi công việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái.

  • Người cha vô tâm

Có những người cha chỉ biết làm ra tiền, sống với công việc và bỏ mặc việc nuôi nấng dạy dỗ, chăm sóc con cái cho người vợ, bỏ mặc người mẹ và sấp nhỏ quay mòng mòng với chuyện nấu nướng, ăn uống, tắm rửa, làm bài ở trường, ở lớp. Tệ hơn nữa là thực hiện chuyện “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, chỉ biết có con trai và bỏ mặc con gái, cho rằng con gái sau này lấy chồng là hết. Thật là hết biết.

Một em học sinh khi viết về cha mình đã kể hết những công việc ông phải làm, những chuyến đi công tác xa, những cú điện thoại hỏi thăm gia đình con cái khi ông đang bận rộn với những chuyến công tác mãi tận trời tây, hay ở một chân trời xa tắp tít nào đó. Ông cũng chăm chút sinh nhật cho vợ và con cái bằng những món quà gửi về từ bốn phương qua bưu điện. Nói chung là ông làm tròn bổn phận từ xa, từ rất xa. Và em kết luận, “Con không muốn một người cha như vậy! Con muốn có người cha ôm ấp vỗ về,ở bên con, dạy dỗ con và chia sẻ những nhọc nhằn của mẹ!” Đó là một bài văn có thật của một lớp học gồm 26 em học sinh nhỏ bé.

  1. Người Cha là gì?
  • Không được huấn luyện hay huấn luyện rất ít

Phần lớn những người làm cha đều không qua trường lớp, không được huấn luyện để trở thành người gia trưởng. Trong chữ “husband” của tiếng Anh, “người chồng” thời Trung Cổ có gốc từ chữ “Hus-bondi”. “Hus-“ là “house” (ngôi nhà); “-bondi” là “chief”, ông chủ của ngôi nhà. Ông chủ có nhiệm vụ gầy dựng, vun đắp, bồi dưỡng, tu sửa, chăm nom, săn sóc, trách nhiệm cho ngôi nhà của mình. Không làm tròn những nhiệm vụ ấy làm sao gọi là “chủ gia đình” hay “gia trưởng”. Chữ “gia trưởng” cũng thế. Anh chính là “trưởng” của “gia đình” của căn nhà, trong đó có những thành viên bé nhỏ, yếu ớt cần cánh tay chăm sóc của người đứng đầu. Ấy vậy mà có những người đứng đầu chỉ biết thoả mãn bản thân, sống vô cùng ích kỷ, và bỏ mặc vợ con cho thời gian trôi qua trước bão tố của cuộc đời. Thi hào Shakespeare còn gọi Người Cha là “Benedict”, “người ban ơn, làm ơn” trong gia đình với tấm lòng bao dung, độ lượng, chỉ biết cho mà không cần đền trả, một con người với tâm hồn cao thượng vô biên. Không cao thượng và làm ơn thì làm sao gọi là người cha cho được.

  • Sống theo truyền thống gia tộc Nhiều người cha chỉ biết sống theo truyền thống gia tộc, lấy Nho Giáo làm kim chỉ nam, nhưng lại chẳng hiểu gì vai trò và trách nhiệm của người quân tử trong Nho Giáo. Bắt mọi người trong gia đình phục vụ mình như một bậc vua chúa. Có ông bố cần gọi người vợ là gõ búa một tiếng, cần gọi người con là gõ búa hai tiếng. Ai cũng có nhiệm vụ “đứng hầu” để “Ông gọi là thưa, Dạ, Con đây!” Ngày nay cảnh này không còn nhiều, nhưng chuyện lơ là trách nhiệm, bắt vợ con phục tùng là chuyện vẫn còn xảy ra hà rầm. Chẳng hạn, cuối tuần bà vợ phải ứng trực để hễ ông gia trưởng gọi điện thoại về khi đi nhậu, đi giao tế, chén chú chén anh đâu đó  là phải đem xe đến đón ông về vì ông đã xỉn, sợ cảnh sát thổi còi, xét rượu giữa đường. Hết biết!
Đàn ông và Đàn bà Da Đỏ
  • Vai trò người cha

Người da đỏ bên Mỹ gọi người chồng, người cha trong gia đình là “Squawman”, nghĩa là “người đàn ông của mẹ”. Hai chữ “của mẹ” đã nói lên trách nhiệm và vị thế của người đàn ông trong gia đình. Lấy vợ rồi, anh không còn phải là người “độc thân vui tính”, nhưng là “người của người phụ nữ” với nhữngg trách nhiệm rõ ràng của việc phải chăm lo cho người phụ nữ và gia đình. Người đàn ông da trắng khi lập gia đình với một người Da Đỏ còn có nghĩa vụ phải giã từ cha mẹ mình và đến ở với gia đình bên bộ tộc người vợ. Người Á Đông cũng thường coi Cha là trụ cột gia đình, người phải lo lắng, chăm sóc và chu toàn trách nhiệm, bổn phận với cả gia đình. “Con có cha như nhà có nóc”. Cha sinh, mẹ dưỡng là sự chia sẻ trách nhiệm mẹ cha trong gia đình. Không có chuyện bỏ mặc việc nhà, việc chăm lo con cái cho người phụ nữ. “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.” Thật là bó tay khi bỏ mặc chuyện sinh, dưỡng, chăm sóc con cái cho một mình người phụ nữ trong gia đình.

4. Tu sĩ và tu hội đời

Người Việt có câu nói, “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa!” Tu tại gia là chuyện của chin mươi chin phấy chín phần trăm số người trên thế giới và đó cũng là chuyện con người đã tốn nhiều bút mực để bàn tới bàn lui.

4.1.   Tu hội đời

Còn “tu hội đời” là gì? Sách Từ Điển Công Giáo của Hội Đồng Giám Mục VN (trang 365) định nghĩa như sau.

“Tu Hội Đời: có tên tiếng La-tinh, tiếng Anh và tiếng Pháp như sau, Instituta Saecularia, Secular Institute, Institut Séculier. “Nghĩa chữ Hán-Việt giải thích: “Tu” là rèn luyện; “Hội” nhóm người cùng chung một hoạt động; “Đời” là thế gian. “Tu hội đời là nhóm người sống đời thánh hiến giữa thế gian. Thành viên của Tu hội đời là giáo dân hay linh mục triều. Mục đích là để hướng tới đức ái trọn hảo và nỗ lực góp phần thánh hoá trần gian ngay giữa lòng đời (x. GL 710).

“Các Tu hội đời bắt đầu được thành lập từ năm 1947, qua Tông Thư Provida Mater Exclesia (Giáo Hội Mẹ Quan Phòng) của Đức Giáo Hoàng PIO XII. Vai trò của các Tu Hội Đời đã được tái xác định trong Công Đồng Vaticanô II, Bộ Giáo Luật năm 1983, và Tông Huấn Vita Consecrata (Đời Sống Thánh Hiến) năm 1996. “Các thành viên của Tu Hội Đời sống đời thánh hiến bằng việc khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm. Tuy nhiên Tu Hội Đời không tổ chức đời sống như hội dòng truyền thống, nghĩa là không có tu phục, không bắt buộc có đời sống chung mà “sống trong những điều kiện bình thường của trần thế, hoặc đơn thân, hoặc trong gia đình của mình, hoặc trong nhóm huynh đệ” (GL 714), dưới sự coi sóc của Đức Giám Mục địa phương. Đó là cách hiện diện giữa đời như men trong một, để thánh hoá trần gian và tham dự vào sứ mệnh Phúc Âm hoá của Hội Thánh (x. GLHTCG 929).”

4.2.    Tu sĩ

Tu sĩ (the Religious) là những người chọn đời sống tu trì, khác với giáo dân (laic, laical).

Tu sĩ, khất sĩ của bốn dòng khất thực đầu tiên (Mendicant monastic orders) là dòng Phanxicô (Franciscains), dòng Đa-minh (Dominicans), dòng cát-minh (Carmelistes), và dòng Augustinô (Augustinians) (Theo Từ Điển Công Giáo Anh-Việt, nxb Tôn Giáo 2002).