Những bệnh ung thư thông thường

1- UNG THƯ NGỰC

Ung thư ngực là ung thư thông thường nhất trong giới phụ nử ở Úc. Mỗi năm có khoảng 12000 người mới bị ung thư ngực
Đa số những trường hợp ung thư ngực xẩy ra ngẩu nhiên. Tuy nhiên 1-5% người bị ung thư ngực do di truyền. Các khoa học gia đã khám phá ra gene gây nên ung thư ngực như gene BRCA1, BRCA2.
Phụ nữ cần phải tự khám ngực thường(thời gian khám ngực tốt nhất là 1-2 tuần sau khi có kinh) để phát hiện những bứu lạ ở ngực hay là ở nách, những thay đỗi da cũa nhũ hoa( da bị đỏ hay có vẻ trũng như quả cam) , đầu vú bị rút vô, đầu vú tiết ra chất nhờn hay là máu. Cần gặp bác sỹ nếu có những thay đỗi kễ trên.
Phụ nữ trên 50 tuỗi và không bị risk ung thư ngực sau đây hay là bị ung thư ngực cần làm mammogram mỗi hai năm. Những người dưới 40 tuổi không nên làm mammogram ngoại trừ bị những triệu chứng kể trên hay thuộc về những nhóm người có nguy cơ bị ung thư ngực cao.
Những nhóm người sau đây có nguy cơ bị ưng thư ngực hơn những người thường.

1- Tuổi – Càng lớn tuổi càng dễ bị ưng thư ngực.

2- Gia đình có người bị ung thư ngực

Nguy cơ bị ung thư ngực tùy theo người trong gia đình là 1 st degree relative( vd mẹ, chị,em) hay là 2nd degree relative( cô,dì ), số người trong gia đình bị ung thư ngực và tuổi khi mới bắt đầu bị ung thư ngực.
Nguy cơ của những người sau đây bị ung thư ngực bằng hay là hơi cao hơn nguy cơ những người bình thường bị ung thư ngực( =những người bị ung thư ngực nhưng không có các yếu tố khác gây nên ung thư ngực) một chút.
Nếu nguy cơ của người bình thường bị ung thư ngực là 1, thì nguy cơ của người sau đây bị ung thư ngực là từ 1 tới 1.5).

95% người dễ bị ung thư ngực thuộc vào nhóm này.

1 người 1st degree relative bị ung thư ngực sau 50 tuổi.

1 người 2nd degree relative bị ung thư ngựcbất kỳ tuổi nào.

2 người 1st degree relative hay là 2nd degree relative bị ung thư ngực sau 50 tuổi và không thuộc về 1 bên gia đình ( nghĩa là 1 người từ gia đình vợ và 1 người từ gia đình chồng).

2 người 2nd degree relative bị ung thư ngực sau 50 tuổi thuộc về một bên gia đình( vd 2 người 2nd degree relative từ gia đình vợ hay chồng).

Những người này cần khám ngực thường và cầm làm mammogram mỗi 2 năm( nghĩa là thử mammogram giống như người thường).

3- Những người sau đây bị nguy cơ ung thư ngực khá cao hơn người thường bị ung thư ngực

Nếu nguy cơ của người bình thường bị ung thư ngực là 1, thì nguy cơ của người sau đây bị ung thư ngực là từ 1.5 tới 3.

4% người dễ bị ung thư ngực thuộc vào nhóm này.

Người 1st degree relative bị ung thư ngực trước 50 tuổi
Người 1st degree relative thuộc về một bên gia đình bị ung thư ngực
Người 2nd degree relative thuộc về một bên gia đình bị ung thư ngực và một trong hai người nài bị ung thư trước 50 tuổi
4- Những người sau đây có nguy cơ bị ung thư ngực cao hơn người thường nhiều

Nếu risk của người bình thường bị ung thư ngực là 1, thì nguy cơ của người sau đây bị ung thư ngực là 4). 1% người dễ bị ung thư ngực thuộc vào nhóm này.
2 người 1nd degree relative hay là 2nd degree relative bị ung thư ngực cộng thêm một trong những điều kiện sau đây.

Một người nữa trong gia đình bị ung thư ngực hay ung thư buồng trứng hay

Một người trong gia đình bị ung thư ngực trước 40 tuổi

Bị ung thư hai bên ngực

Ung thư ngực và buồng trứng

Người Do Thái thuộc về sắc tộc Ashkenazi

Người nam bị ung thư ngực

Những ngườithuộc nhóm B&C kể trên, ngoài việc tự khám ngưc và di khám bác sĩ định kỳ, có thể làm mammogram thường hơn,sớm hơn và có thể tới gặp bác sĩ chuyên về những ung thư di truyền (family cancer clinic).

5-Những người:

Trước đó bị ung thư ngực hay tuyến ngực bị những thay đổi dễ dẫn tới ung thư ngực
Không có con
Có con trễ (sau 30 tuổi)
Có kinh sớm( trước 12 tuổi)
Tắc kinh trễ
Những người mãn kinh dùng hormone therapy
Mập (obesity)
Uống rượu nhiều

2- UNG THƯ RUỘT GIÀ

Triệu chứng của ung thư ruột già bao gồm chảy máu đường ruột( máu có thể đỏ đậm và hòa lẫn với phân), đau bụng,thay đỗi thói quen đi cầu( táo bón hay là đi cầu chảy),mắc cầu nhưng đi xong cảm giác vẫn còn, giảm cân, mệt mỏi. Nhiều khi người bị ung thư ruột không có triệu chứng. Ung thư ruột được khám hiện khi người bệnh được gởi đi soi ruột( colonoscopy) vì bị thiếu máu ( anaemia) hay thiếu chất sắc.

Những yếu tố tăng nguy cơ dẫn tới ung thư ruột già:

1- Tuổi – Càng lớn tuổi càng dễ bị ung thư ruột già. Lúc 50 tuổi,1 trong 300 người sẽ bị ung thư ruột già. Lúc 60 tuổi, 1 trong 100 người sẽ bị ung thư ruột già.

2- Gia đình có người bị ung thư ruột già

-Nguy cơ bị ung thư ngực tùy theo người trong gia đình là 1 st degree relative( vd mẹ, chị,em) hay là 2nd degree relative( cô,dì ), số người trong gia đình bị ung thư ngực và tuổi khi mới bắt đầu bị ung thư .Nếu 1st degree relative bị ung thư ruột già sau 55 tuổi, nguy cơ bị ung thư ruột già tăng lên một chút. Nhưng nếu 1st degree relative bị ung thư ruột già trước 55 tuổi, nguy cơ bị ung thư tăng hơn nhiều

Những người trong gia đình có 1 st degree relative bị ung thư ruột già nên được soi ruột( colonoscopy) lúc 50 tuổi hay là 10 năm trước tuổi người trong nhà bị chuẩn đoán ung thư ruột. Ví dụ nếu 1 st degree relative bị ung thư ruột lúc 53 tuổi, những người nhà cần được soi ruột lúc 43 tuổi. Nếu bình thường,người nhà nên được soi ruột mỗi 5 năm nếu không có triệu chứng gì, hay là soi ruột sớm hơn nếu bị những triệu chứng kễ trên. Những người cũng có thể thử máu vithể trong trong phân( FOBT) mỗi năm

3- Những người bị u thịt của ruột già( colonic polyp)

Có 2 loại polyp: hyperplastic và adenomatous polyp. Hyperplastic polyp không có nguy hiễm và không cần theo dõi thêm. Đa số ung thư ruột già từ polyp mà ra. Những ai bị adenomatous polyp cần phải soi ruột mỗi 2-5 năm một lần tùy theo polyp lớn hay nhỏ,nhiều hay ít.

4- Những ai bị bệnh ruột như ulcerative colitis hay Crohn có nguy cơ bị ung thư ruột nhiều hơn người thường nên cần được theo dõi và soi ruột thường đễ phát hiện sớm ung thư ruột

5- Thức ăn

Ăn đồ mỡ, thịt dễ dẫn tới ung thư ruột già

Vì thế nên :

TRÁNH BỚT ĂN ĐỒ MỠ, THỊT VÀ TRÁNH ĂN THỨC ĂN NHIỀU CALORIE
BỚT UỐNG RƯỢU, HÚT THUỐC VÀ NĂNG TẬP THỂ THEO SẼ GIÃM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ RUỘT GIÀ
NÊN ĂN THỨC ĂN CÓ NHIỀU CHẤT BÃ( FIBRES)
UỐNG CALCIUM 1000-1200 MG/NGÀY CÓ THỂ GIÃM NGUY CƠ BỊ UNG THƯ RUỘT GIÀ
MỘT SỐ THUỐC NHƯ NSAIDS ( NUROFEN,BRUFEN) , COX 2 INHIBITOR CELEBREX, MOBIC), hormone therapy (THUỐC HORMONE CHO NHỮNG NGƯỜI MÃN KINH) giãm nguy cơ bị ung thư ruột già. Nhưng bác sĩ không đề nghị uống những thuốc này đễ giãm ung thư ruột già vì những phản ứng phụ khác.
3- UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Xin xem bài ung thư tuyến tiền liệt đễ biết thêm phương pháp ngăn ngừa và chuẩn đoán bệnh ung thư tuyến tiền liệt

4- UNG THƯ PHỔI

90% trường hợp ung thư phổi do hút thuốc lá gây ra( smoker)

10% do hít hơi thuốc từ người hút thuốc lá ( passive smoking), abestos, thợ hầm mỏ hít radon gas.

Thuốc lá ít nicotin/tar vẫn có thể gây ung thư phổi. Ngưng thuốc lá hẵn vẫn là cách tốt nhất giảm tỷ lệ bị ung thư phổi. Ngưng hút thuốc lúc 40 tuổi giảm tỷ lệ bị ung thư phổi 80%, còn ngưng hút thuốc lúc 50 tuổi giảm tỷ lệ bị ung thư 50%. Nicotine patch giúp cai thuốc không gây nên ung thư phổi.

Triệu chứng của ung thư phổi

Ho, có thể ho ra máu

Khó thở

Đau ngực hay là đau đằng sau phỗi

Xuống cân

Seizure( gựt kinh phong) hay, đau xương hay dễ gãy xương trong những trường hợp ung thư phổi lan tới óc, xương

E- NHỮNG BỆNH UNG THƯ KHÁC

a- Nếu bi mệt mõi, khó thỡ, giãm cân,tiết mồ hôi nhiều ban đêm,nên coi chừng ung thư hạch(lymphoma)

b- Đau bụng, giãm cân, vàng da ( jaundice), biếng ăn nên coi chừng ung thư lá lách, gan

c- Trẻ em bị mệt mõi,giãm cân,đau xương, hay bị nhiễm trùng nặng nên coi chừng bị ung thư máu ( leukaemia)

d- Nhức đầu nặng nhất là bị nhức đầu sáng sớm,buồn nôn, mắt mờ hay những triệu chứng về hệ thần kinh khác, giựt kinh phong( seizure) nên coi chừng bị ung thư óc

BS Nguyễn Chí Thiện – 05.2010

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.