Những người mẹ thời ly loạn

Trần Bá Nguyệt, 4-2012

1. U tôi

Ngôi làng tôi sinh ra cách tỉnh Nam Định ba cây số. Nhìn về hướng tây là thấy dãy núi Côi mờ mờ. Mỗi lần về quê hay từ quê ra tỉnh là chúng tôi được ngồi trên chiếc thuyền nan mà người lái đò chèo qua những cánh đồng lúa nước trong veo. Thỉnh thoảng mới có dịp đi xe tay với ông nội qua ngả Cửa Trường. Tôi còn nhớ cảnh xảy ra năm đói Ất Dậu. Trên con đường qua Cửa Trường về tỉnh hai bên đường người chết đói nằm la liệt.

U tôi (có lúc gọi là bu tôi!) sinh ra tại ngôi làng An Cổ bên cạnh là làng Vị Xuyên, quê hương ông Tú Trần Tế Xương bên cạnh dòng sông Vị Thuỷ mà nghe nói bây giờ đã cạn. Ở nhà quê nhà nào chả nuôi gà và bu là cái dụng cụ bằng tre đan mắt cáo để chụp bà gà mẹ bên trong khi những chú gà con chui qua mắt cáo chạy lăng xăng kiếm mồi bên cạnh. Bà gà mẹ cục cục bên trong cái bu để lũ gà con đừng đi xa quá. À ra thế! Người nhà quê gọi mẹ là bu, là u. U hay bu là cái lồng nhốt gà ở nhà quê.

2. Ba lần chạy loạn

Mẹ tôi – có lẽ cũng như hầu hết những người mẹ sinh ra trong khoảng cuối 1910 và đầu 1920 đều giống nhau ở một vài điểm: Đó là cuộc sống gian khổ vì chiến tranh, có chồng con phải ra mặt trận và những lần chạy loạn.

Lấy ba tôi vào những năm cuối thập niên 1930, mẹ tôi lăn lưng vào công việc đồng áng. Rồi chiến tranh bùng nổ dữ dội những năm 1945, 1946. Tôi còn nhớ căn nhà của ông nội tôi dài ba gian. Gian đầu phía bên phải là những phòng ngủ bên cạnh cót thóc, nơi chứa đựng lương thực cho cả nhà, gian giữa là phòng của ông bà nội tôi, và gian cuối bên trái là nhà bếp, là nơi có cối xay lúa và cối giã gạo, nơi chúng tôi thường tụ tập với thày u và bà cô để quây quần bên bếp lửa, ăn khoai lang nướng, bắp nướng và ngủ trên lớp rơm trải làm nệm, nhất là những ngày mùa đông giá rét. Chiến tranh tràn về xóm làng và tôi còn nhớ những lần lính Tây từ bên đầu làng Vị Xuyên đặt đại bác bắn sang làng tôi. Một lần một quả đại bác rơi trúng nhà ông nội tôi, nơi gian chứa thóc. Cũng may là mọi người ở dưới bếp nên không ai bị thương. Sau này ông tôi đào một lỗ tăng-xê ngay đầu nhà kế cót thóc bên trên đậy mội cái nia thật lớn để làm nơi tránh đạn. Mỗi lần nghe tiếng đạn rít qua đầu là anh em tôi núp mình thật sâu dưới lỗ tăng-xê đó. Những năm cuối thập niên 1940, chiến tranh tràn về thôn xóm. Tôi nghe nói làng tôi là làng tề hay làng gì đó nên Tây hay về hành quân bắn giết. Khoảng cuối năm 1948, thày u tôi bỏ làng, chạy tản cư ra tỉnh Nam Định. Lần chạy loạn đầu tiên này là lần trắng tay đầu tiên của thày u tôi. Nơi tạm trú là trại tế bần An Phong gần khu nhà thờ Khoái Đồng… Ra tỉnh, u tôi làm nhà máy dệt Nam Định. Tôi được đi học trường Lê Bảo Tịnh kế bên nhà thờ lớn, nhìn thẳng ra phố Paul Bert, bên phải là phố khách.

Lần chạy loạn thứ hai là sau ngày 20-7-1954, ngày ký hiệp định chia đôi đất nước. Sau ngày đó, Nam Định đã tràn ngập quân «cách mạng» và không khí thật căng thẳng. Tôi còn nhớ một đêm tối trời, mẹ tôi gói cho mỗi đứa trong năm anh em chúng tôi mỗi đứa một nắm cơm nóng muối vừng bỏ vào tay nải khoác trên vai. Đêm ấy, cả nhà tôi gồm ông bà nội, thày u của năm đứa chúng tôi lên đường giữa lúc trời mưa nặng hạt và đêm tối mịt mùng. Sau này tôi mới biết nhờ cơn mưa đó mà chúng tôi thoát ra bến đò Tân Đệ. Ngoắc một chiếc đò (hình như đã chờ sẵn dưới cơn mưa tầm tã) cả nhà ngược dòng sông Đáy hướng về Hưng Yên trên đường đi Hà Nội. Buổi sáng chầm chậm đến, tôi thấy người lái đò thay lá cờ Việt Minh bằng lá cờ Pháp. Thế là an toàn, thoát khỏi vùng u tối. Tại Hà Nội chúng tôi tạm trú nhà thờ lớn hai ngày và đêm thứ ba xe cam-nhông chở chúng tôi và những người khác ra phi trường lên máy bay vô nam. Thày u tôi nói gia tài cả nhà chỉ còn vài bộ quần áo nâu, và vài đôi dép.

Những ngày tạm trú tại Trường Đỗ Hữu Phương trôi qua thật nhanh. Đoàn người định cư lên đường nhắm hướng rừng cao su Củ Chi. Đây cũng vẫn là nơi tạm ngụ vì ít tháng sau chúmg tôi theo đoàn người lên xe vận tải trực chỉ Đồng Tháp Mười. Phải nói Đồng Tháp là vùng trời đất ưu đãi. Cây trái ê hề, cá chim, rắn, rùa, … nhiều vô kể. Rồi những gia đình cư ngụ được cấp cây làm nhà. Cha xứ lo dựng ngôi nhà thờ mới, ngôi trường mới. Cuộc sống diễn ra khá tốt. Nhà nào cũng có ghe xuồng, vườn cây trái với chuối, ổi, xoài, mảng cầu, thơm, … và những cánh đồng lúa trải dài.

Nhưng thày u tôi bảo, thế này thì chúng mày thất học mất. Thế là thày u tôi cho chúng tôi ra tỉnh lỵ Mỹ Tho tìm trường theo học. Thày tôi phải đi theo để chăm sóc chúng tôi và tìm một nghề sinh sống. Cũng may những người từ miền Bắc di cư vào Nam trước kia theo chương trình mộ phu của Tây là những người rất tốt nên sẵn sàng giúp đỡ công ăn việc làm.

Lần chạy loạn thứ ba xảy ra khoảng năm 1958 khi chiến tranh tràn về vùng nông thôn yên bình Đồng Tháp Mười. Thế là cả nhà chúng tôi một lần nữa chạy ra tỉnh lỵ Mỹ Tho. Mẹ tôi ra chợ làm quen với những người Tàu và nhờ họ giúp đỡ mở một cửa hàng tạp hoá nho nhỏ, cứ bán hàng xong hôm trước, hôm sau mới phải trả tiền mua hàng. Nhờ vậy mà chúng tôi được nuôi ăn học.

3. Nhận xác con

Ở tỉnh lỵ Mỹ Tho, chúng tôi biến thành người Miền Nam chính hiệu. Thày u tôi trở thành ông Bảy bà Bảy. Chúng tôi là anh hai, anh ba, anh tư, … cho đến đứa em thứ chín là con gái duy nhất. Nhưng cuộc sống không phải êm đềm trôi mãi. Chiến tranh diễn ra sau những biến đổi chính trị cuối năm 1963. Rồi anh tôi, ba đứa em tôi nhập ngũ. Đứa xuống tận Trà Vinh làm lính địa phương. Đứa gia nhập binh chủng nhảy dù. Đứa vào Thủ Đức rồi ra trường biến thành lính cọp rừng Biệt Động Quân. Đứa vào giang thuyền. Tôi may mắn được hoãn vì học vấn nên mãi đến 1970 mới vào Thử Đức.

Tôi biết mẹ tôi đã khóc nhiều mỗi lần nghe tin chiến trận hay mỗi lần nghe ông anh hai của tôi đóng quân ở Cổ Cò về phép kể chuyện mỗi tối phải lấy kim băng gài lựu đạn đã rút chốt nổ đặt quanh nơi đóng quân và mỗi sáng lại đi mò lựu đan và gài chốt lại. Đứa em nhảy dù và biệt động quân là oai hùng nhất. Nhưng chiến tranh không phải trò đùa cũng chẳng phải chuyện giỡn chơi. Một ngày tháng hai năm 1970, thày u tôi nhận tin chú em nhày dù tử trận. Xác để tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Tôi và u tôi lên nghĩa trang nhận xác người em thứ năm đó. Chú Năm, em tôi, nằm im lìm trong chiếc túi nilon đen đặt trong hộp kẽm ướp lạnh. Người thượng sĩ già của binh chủng thay mặt binh chủng gắn anh dũng bội tinh cho em tôi trong một nghi lễ đơn giản nói với chúng tôi rằng em tôi nhận nguyên một băng AK vì em tôi là xạ thủ đại liên 6o. Tôi quên kể chú năm em tôi có đai đen tekwando và là hướng đạo thuộc tráng đoàn Cửu Long. Nhìn mẹ tôi ngồi đằng sau chiếc xe chở quan tài người em có phủ một lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phập phồng. Chiếc xe chạy từ Biên Hoà về Mỹ Tho. Chiếc huy chương anh dũng bội tinh gắn một bên góc lá cờ phập phồng theo gió. Mẹ tôi không khóc, nhưng yên lặng. Đám ma chú em thứ năm do Tráng Đoàn Hướng Đạo Cửu Long và gia đình đưa từ nhà thờ lớn ra nghĩa trang trên một chiếc xe ngựa bốn con ngựa kéo.

4. Những tháng ngày rong ruổi sau 1975

Sau tháng tư 1975, tôi và người em biệt động quân vì là sĩ quan nên khăn gói lên đường đi họp tập “mười ngày”. Ông anh tôi là thượng sĩ già nên học tại chỗ. Những ngày sau 75, u tôi có một công việc là thu gom áo quần lính tráng của các con, đem nhuộn màu đen hay nâu và chuyển xuống miền Tây bán cho dân làm ruộng. Những bộ quần áo lính màu xanh, những bộ đồ loại B kaki màu vàng dùng khi đi phép, và những bộ đại lễ woolworsted mùa hè, đại lễ mùa đông tất cả là món hàng của u tôi. Khi đã hết hàng quần áo lính, u tôi chuyển sang mua hàng từ chợ lớn và ban đêm ngủ trên xe đò vận chuyển xuống chợ Cần Thơ hay Trà Vinh.

Cái mà chúng tôi nhớ nhất của người mẹ tảo tần là mùi mồ hôi trên áo mẹ tôi. Tôi chưa từng bao giờ thấy mẹ tôi mặc một chiếc áo màu xanh hay đỏ. Áo mẹ tôi mặc là áo đen hay nâu bạc màu, chiếc nón lá mà quai nón cũng mùi mồ hôi như áo. Chỉ những khi đi nhà thờ hay những lúc đám cưới chúng tôi là mẹ tôi mặc chiếc áo dài vải thường màu trắng. Bà nội tôi rất khó, cái khó của mấy bà nhà quê miền Bắc. U tôi chịu đựng thật hay, không bao giờ than vãn.

5. Lần chạy loạn thứ năm

Thày tôi nói lần chạy loạn nào cũng trắng tay. Sau 1975, anh em chúng tôi lần lượt được “tạm tha” và trả về nguyên quán. Tôi phải ký giấy «cam đoan đi kinh tế mới». Không giống như lần chạy trốn trong đêm mưa gió 1954, những chuyến ra đi sau 1975 thực hiện ban ngày ban mặt. Cũng bị trật duột đôi ba lần. Có thằng theo đoàn người đi đường bộ. Có thằng Chủ Đề│ 11

theo đoàn tàu ra biển. Cuối cùng thì mấy anh em tôi vài đứa ở Mỹ, một đứa ở Úc. Cả thày tôi (sau khi u tôi mất) cũng sang Mỹ với mấy người em. Ngày tôi từ Úc sang thăm ông cụ, ông cụ móc trong túi ra một tấm hình một cô gái thật trẻ. Ba tôi nói, «Nao chúng mày về ngoài Bắc, cho tao về để tao tìm cái cô này này!» Đó là hình u tôi hồi 19 tuổi, lúc mới lấy thày tôi. Rồi ông cụ chặc lưỡi, «Nói vậy chứ về làm sao được! Mà chúng mày có về, tao theo về rồi khi chúng mày đi tao cũng đi! Chứ ở lại sao được!» Nhưng thực ra bọn tôi chẳng bao giờ nghĩ mình có dịp quay về Miền Bắc, nơi làng quê ngày xưa nữa. Cả thày chúng tôi cũng vậy.

6. Về với Chúa

Ngày mẹ tôi qua đời, bố tôi nhắc lại chuyện cũ và chỉ nói “mẹ các con thật hiền”, chưa từng bao giờ to tiếng với một ai. Thánh lễ an táng do vi linh mục là em họ u tôi cử hành: Cha Lê Trung Độ, người đã từng là tuyên uý Hướng Đạo Công Giáo. U tôi mất lúc 74 tuổi. Bố tôi hiện còn sống với tuổi đời 96. Điều mà bố tôi nhắc các con cháu mỗi lần đến thăm ông cụ là «tuổi già cô đơn». Chú em thứ tám sống gần ông cụ nhất nói «thì ba đã cô đơn từ bao lâu rồi còn gì nữa!»

U tôi cũng như biết bao bà mẹ thời chinh chiến, bốn năm lần chạy loạn, bốn năm lần tay trắng và ít nhất cũng một hay đôi ba lần chôn xác con mình hy sinh trong cuộc chiến. Thằng em thứ bảy của tôi sống trên giang thuyền. Những năm tháng thiếu thốn, lạnh lẽo và nghèo nên rượu và thuốc lá đã cắt ngắn cuộc sống. Chú em mất sau mẹ tôi vài năm bên những người bạn trên một cù lao vùng Kiến Hoà. Chỉ có anh hai tôi, cô em út và tôi xuống thăm chú và tiễn chân lần chót với vị linh mục lo ca đoàn của mấy em tôi từ Mỹ Tho sang. U tôi cũng như biết bao người mẹ phải tảo tần lo lắng cho con, không một lần có một nụ cười rạng rỡ , không có một đam mê nào cho riêng mình. Những người mẹ chỉ biết làm việc hết mình, yêu thương gia đình hết mình dù chẳng bao giờ nói ra. Tôi nhớ câu nói của A. Dozon, «Thường thường, tình thương của đứa con đến lúc chín muồi thì người mẹ đã xương tàn cốt rụi, không còn để mà thương.»

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.