Phục Vụ Trong Lòng Mẹ Thánh Giáo-Hội

I. BỐI CẢNH TÔN GIÁO VÀ XÃHỘI

Vào thế kỷ 12-13, nhiều người đã muốn trở về nguồn và đi tìm một đời sống Phúc âm trọn vẹn, một “lối sống theo gương các Tông đồ” như các giáo hữu tiên khởi ở Giêrusalem. Nhưng họ đã bất mãn vì không thấy lý tưởng đó trong Giáo hội. Niềm ao ước đó thường pha lẫn với một thứ ác cảm đối với hàng giáo sĩ. Họ đi đến chỗ chỉ trích Giáo hội là đã phản bội Tin Mừng. Nhưng dần dần chính họ cũng đã quên rằng chính Tin Mừng trước hết dạy con đường yêu thương và khiêm nhường… Cuối cùng họ đã đi lạc đường, vì đã muốn sống Tin mừng ngoài Giáo-hội. Chúng ta có thể nêu ra đây vài nhân vật nổi tiếng

-Arnauld de Brescia (+1155): Người miền Bắc Nước Ý, học trò của Abélard một giáo sư nổi tiếng tại Paris (11151119), sau đó trở về Ý và thụ phong linh mục. Ông muốn canh tân Giáo hội. Ông chỉ trích Giáo hoàng và toàn thể hàng giáo sĩ quá giàu có nên đã bất trung với sứ mạng. Vì thế ông từ chối chấp nhận quyền bính của Giáo hội và giá trị các phép bí tích các ngài làm. Ông đứng đầu nhiều cuộc nổi loạn chống lại Giáo hội. Ông đã bị thiêu năm 1155.

-Pierre Valdo (+1218): Một lái buôn người Pháp ở thành Lyon. Vào năm 1170, ông nghe một người hát rong hát về câu chuyện thánh Alexis. Cảm động, ông liền từ bỏ của cải và cùng vài người bạn đi rao giảng cuộc đời nghèo khó đền tội. Ông thuê một sinh viên nghèo dịch Phúc âm và các sách khác ra tiếng Pháp và một nhà ngữ học dịch ra thổ âm Provence. Tuy không phải linh mục, ông cũng làm các phép bí tích, nghĩ rằng ai thánh thiện là có quyền. Các đồ đệ ông mang tên “Những người khiêm hạ”, “Những người nghèo xứ Lyon”.

-Những người “thanh sạch” (Cathares)

Phong trào này phát xuất từ thời thượng cổ, ở phương Đông, ngoài đạo Công giáo. Những người “trong sạch” đầu tiên xuất hiện ở Tây Phương vào khoảng năm 1140. Giáo lý của họ là một thứ hỗn hợp nhiều tà giáo khác nhau.

Họ tin có một nguyên lý thiện dựng nên thế giới vô hình và một nguyên lý ác dựng nên thế giới vật chất hữu hình. Thể chất và tất cả những gì liên hệ tới thể chất (như hôn nhân) là xấu xa, ô uế. Vì thế họ phủ nhận mầu nhiệm Nhập thể.

Họ chủ trương phải sống theo một khổ chế nhặt nhiệm để giải thoát mình khỏi thế giới vật chất, xác thịt. Bè rối này thịnh hành ở miền Nam nước Pháp (trong địa phận Albi, vì thế người ta gọi họ là: Albigeois).

Thánh Phan-xi-cô, như được Chúa phú bẩm cho một bản năng siêu nhiên, thấy ngay được mối nguy các bè rối ấy gây ra, nên đã có một lập trường khác hẳn.

II. Sống Tin Mừng nhờ Giáo-hội

Ngay từ đầu Phan-xi-cô đã muốn sống cuộc đời hoán-cải dưới sự che chở của Giáo-hội. Người đã ghi lại trong Di-chúc:

Sau khi Chúa đã ban cho tôi một số anh em, không ai chỉ bảo cho tôi phải làm gì, nhưng chính Đấng tối cao đã mạc khải cho tôi biết phải sống theo mẫu mực thánh Phúc âm. Và tôi đã xin viết ra luật sống ấy một cách đơn sơ và ngắn gọn, và Đức Thánh Cha đã xác nhận cho tôi (D.C 14-15)

Truyện của Ba người bạn đã kể lại sự kiện như sau: khi con số anh em đã lên tới con số 12, Phan-xi-cô nói với anh em: “Này anh em, tôi thấy Thiên-Chúa rủ lòng thương và muốn gia tăng đoàn chúng ta. Vậy chúng ta hãy đến với Mẹ chúng ta là Hộithánh Rôma, tâu trình lên Đức Thánh Cha về những gì Chúa đã khởi sự để chúng ta để thực hiện, để dựa trên ý muốn và chỉ thị của Người mà tiếp tục những gì đã bắt đầu” (Bnb 46; thêm 1Cel.32). Phan-xi-cô đã muốn Giáo-hội xác nhận ơn gọi và sứ mạng mà Thiên-Chúa đã ban cho mình và cho anh em mình. Và Đức Thánh Cha đã chuẩn nhận điều người xin. Phan-xi-cô đã ghi rõ ngay đầu bản luật:

“2 Đây là đời sống theo Tin mừng Đức Giêsu Kitô, mà tu sĩ Phanxicô đã xin Đức Giáo hoàng chấp thuận và chuẩn y. Ngài đã chấp thuận và chuẩn y cho Anh và cho các anh em hiện có và sẽ đến”(Lksc, Lời mở đầu 2).

Phanxicô muốn sống Tin Mừng không chỉ là với sự chấp thuận của Đức Thánh Cha, nhưng là trong sự tuân phục tuyệt đối đối với người đại diện Chúa Ki-tô ở trần gian:

3 Tu sĩ Phanxicô và tất cả các Anh sẽ đứng đầu Hội dòng này phải tuyên hứa vâng phục và tôn trọng Đức Giáo hoàng Innôxenxiô và các Đấng kế vị. 4 Còn tất cả các anh em khác phải vâng lời tu sĩ Phanxicô và những người kế vị”.(Lksc, Lời mở đầu).

Đây là lần đầu tiên trong Giáohội một Hội Dòng hoàn toàn tự đặt mình dưới quyền định đoạt của Đức Giáo-hoàng và tuyên thệ tuân phục Ngài. Điều này sẽ được nhắc lại trong bản luật hiện hành (L 1,2).Và để Hội Dòng luôn luôn đi đúng đường lối của Giáo-hội, Phan-xi-cô muốn có một Đức Hồng y bảo trợ thay mặt Đức Thánh Cha:

“Sau nữa, nhân danh đức vâng lời, tôi buộc các anh Phục vụ phải xin Đức Thánh Cha một vị Hồng y của Hội Thánh Rôma làm người hướng dẫn, bảo trợ và sửa dạy Huynh đệ đoàn này [20], để luôn luôn phục tùng và quì gối dưới chân Hội Thánh, bền đỗ trong đức tin công giáo, chúng ta tuân giữ sự nghèo khó, khiêm nhường và thánh Phúc âm của Chúa Giêsu Kitô như chúng ta đã dốc lòng thề hứa”(L 12, 3-4) [21].

Để biểu lộ sự tuân phục, “anh em không được giảng trong giáo phận của một giám mục, khi ngài ngăn cấm [22]” (L 9,1). Sự tuân phục đối với Giáo-hội, đó là dấu chỉ anh em “bền đỗ trong đức tin Công giáo”. Sở dĩ Phan-xi-cô kính trọng và tuân phục hàng giáo sĩ như vậy, vì cặp mắt đức tin của người nhận thấy nơi các ngài sự hiện diện của Con Thiên-Chúa. Người nói trong Di-chúc:

“Tôi muốn kính sợ, yêu mến và quí trọng các ngài cũng như tất cả các linh mục khác như là tôn chủ của tôi. 9 Tôi không muốn xem xét tội lỗi của các ngài, vì tôi nhìn thấy Con Thiên Chúa hiện diện nơi các ngài và vì các ngài là tôn chủ của tôi”(DC 8-9).

Ngay trong bản luật không sắc chỉ, Phan-xi-cô đã dạy anh em phải kính trọng hàng giáo sĩ của Giáo-hội:

“Chúng ta hãy xem tất cả các giáo sĩ và tu sĩ như những vị thầy của chúng ta khi các ngài dạy những điều liên hệ tới phần rỗi linh hồn và không đi ngược với đời sống của Dòng chúng ta. Vì Chúa, chúng ta hãy tôn kính thánh chức, công việc và thừa tác vụ của các ngài” (Lksc 19, 3).

III. Sống Tin Mừng trong Giáo-hội

Chúng ta có thể đặt câu hỏi: tại sao Phan-xi-cô quý mến Giáohội như thế? Người không để lại cho ta một suy tư dài dòng và có hệ thống về Giáo-hội. Nhưng qua một số câu nói và nhất là qua thái độ của người, chúng ta gặp được câu trả lời rõ ràng.

Lý do thúc đẩy người quý mến Giáo-hội, là vì chỉ trong Giáohội người ta mới gặp được các phương thế cứu độ. Tôma Xêlanô đã viết: “Ngài xem việc phục-vụ, tôn kính và noi theo đức tin của Hội-thánh Rôma là điều quan trọng trên hết mọi sự, vì chỉ có nơi đức tin ấy mới tìm thấy ơn cứu độ cho mọi người được cứu” (1Cel 62).Vì thế điều kiện cơ bản để sống đời hoán-cải và bước theo Chúa Ki-tô là phải bền vững trong đức tin công giáo (L12,4):

“Tất cả anh em phải là những người công giáo, sống và ăn nói theo tư cách công giáo. Nếu ai lệch đi xa đức tin và đời sống công giáo, trong lời nói hay việc làm, mà không chịu sửa mình, thì phải bị trục xuất hẳn khỏi Huynh đệ đoàn chúng ta” (Lksc 19,1-2).

Trước hết Giáo-hội gìn giữ kho tàng Lời Chúa, và người có quyền phân-phát Lời Chúa là các linh mục. Các ngài làm việc ấy qua việc giảng dạy. Tại Po-xiun-cu-la, sau khi nghe bài Tin mừng Chúa Giê-su sai các môn đệ đi giảng, ngài muốn được hiểu kỹ hơn, nên “đã khiêm nhường đến gặp vị linh mục xin giải thích thêm”. Khi vị linh mục đã giải nghĩa từng điểm một, ngài nói: “Đây là điều tôi mong mỏi, đây là điều tôi tìm kiếm, đây là điều tôi hết sức muốn thực hiện” (1Cel.22). Phan-xi-cô thâm tín rằng “không ai có thể được cứu độ nếu không phải là nhờ các lời thánh thiện của Chúa Giê-su…” (2TTh 34).

Vào thời đại mà nhiều giáo dân tự động giảng dạy Lời Chúa theo ý riêng của họ, Phan-xi-cô nói thêm “… (các lời thánh thiện của Chúa Giê-su) mà các giáo sĩ đọc, rao giảng và phân phát” (2TTh 34). Ngài đặc biệt tôn kính các nhà thần học, vì họ phân phát Thánh Khí và sự sống, như lời người khẳng định trong Di-chúc:

“Đối với tất cả các nhà thần học và những người ban phát lời chí thánh của Chúa, chúng ta phải quí mến và tôn kính: chúng ta phải xem các ngài như là những người thông ban cho chúng ta Thánh Khí và sự sống” (DC 13).

Sau nữa Giáo-hội phân phát các Bí tích đặc biệt là Bí tích Thánh thể. Như đã nói ở trên, vào thời thánh Phan-xi-cô, nhiều phong trào tôn giáo cho rằng họ có thể sống theo Tin Mừng của Chúa mà không cần đến các Bí tích, và từ đó không cần đến Giáo-hội. Trong bản luật không sắc chỉ, thánh nhân thúc giục mọi anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, nếu muốn sống đời hoán-cải, hãy đón nhận Bí tích Hoà-giải và Bí tích Thánh thể (Lksc 20). Riêng về Bí tích Thánh thể, Phan-xicô rất nhiều lần nhắc nhở anh em cũng như mọi tín hữu đó là phương thế cần thiết để được cứu độ. Người khuyên bảo anh em:

“Mỗi khi giảng dạy, xin anh em hãy thúc giục dân chúng hoán cải và nhắc nhở họ rằng: không ai có thể được cứu rỗi nếu không tiếp rước Mình và Máu cực thánh của Chúa” (1TcPv 6).

Cùng các tín hữu, người khuyên bảo:

“Chúng ta cũng phải xưng mọi tội lỗi chúng ta với linh mục và hãy tiếp rước từ tay ngài Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô. 23 Ai không ăn Mình và uống Máu Chúa thì không thể vào Nước Thiên Chúa được” (2TTh 22-23; Hn 1,11.22).

Về chủ sự của Bí tích Hoà giải, Phan-xi-cô viết:

“Anh em hãy biết chắc rằng, khi đã nhận lãnh việc đền tội và lời tha tội do bất cứ linh mục công giáo nào ban, thì chắc chắn anh em được tha hết mọi tội lỗi, miễn là khiêm nhường và trung thành chu toàn việc đền tội mà linh mục đã ấn định” (Lksc 20,2).

Về Bí tích Thánh thể cũng vậy, Phan-xi-cô khẳng định mạnh mẽ là “chỉ có các linh mục mới được ban phát cho kẻ khác” (DC 10).

Vì chỉ có các linh mục của Giáo-hội mới có quyền ban các Bí tích nhờ đó người mới có thể đạt tới sự sống đời đời, cho nên Phan-xi-cô yêu mến Giáo-hội như người con hiếu thảo đối với mẹ mình. Người gọi Giáo-hội là “Mẹ Hội-thánh chúng ta” như được ghi trong di-chúc được viết tại Xiêna:

“Anh em hãy luôn luôn tỏ ra trung thành và tuân phục đối với tất cả các chức sắc và các giáo sĩ của Mẹ Hội Thánh chúng ta” (NDc 5).

Vì tự xem mình là đứa con của Mẹ Hội-thánh, nên Phan-xi-cô muốn được người Mẹ ấy hướng dẫn mình và anh em mình trên con đường sống Phúc-âm. Trong mọi vấn đề quan trọng, người luôn nhắc nhở anh em phải hành động đúng “theo thể thức của Hội-thánh Rôma”: việc nhận một ứng sinh vào Dòng (Lksc 2,12), việc cử hành Thánh tụng (Lksc 3,4), việc giảng dạy (Lksc 17,1), việc cử hành Thánh lễ (TTd 30). Riêng về việc cử hành các Bí tích, Phan-xi-cô viết trong thư gửi cho các giáo sĩ:

“Chúng ta biết, chúng ta phải tuân giữ các điều này trên hết mọi sự, theo các giới răn của Chúa và các qui luật của Hội Thánh, Mẹ chúng ta”( 2TGs 13).

Truyện Ba người bạn cũng nêu ra nhận định:

“Phanxicô ân cần khuyên dạy anh em tuân giữ Thánh Phúc Âm và Luật Dòng mà anh em đã quyết tâm hứa tuân giữ, và nhất là kính trọng và trung thành với Thần Tụng và các qui định của Hội Thánh…”(Bnb 57).

Như vậy ơn gọi phan-sinh là phải sống với Giáo-hội và trong Giáo-hội.

IV. Sống Tin Mừng để xây dựng Giáo-hội

Mục đích chính yếu của đời sống hoán-cải không phải là sự hoàn thiện cá nhân, nhưng là xây dựng Giáo-hội. Từ cây Thánh giá ở San-Đamianô, Phan-xi-cô đã nghe tiếng Chúa: “Phan-xi-cô, con hãy đi xây lại nhà Ta đang đổ nát” (2Cel.10). Người đã ý thức được Chúa giao cho sứ mạng tu bổ lại Nhà Chúa. Lập tức, người đi tìm vôi, tìm gạch và sửa sang được ba ngôi thánh đường. Nhưng dần dần người hiểu ra rằng sứ mạng của người liên hệ đến “Giáo-hội mà Chúa Ki-tô đã lấy chính máu mình mà cứu chuộc” (2Cel 11). Chúa Thánhthần đã dẫn dắt Phan-xi-cô đi từ thực tại hữu hình tới thực tại vô hình, từ Nhà Chúa bằng vôi bằng gạch, tới Nhà Chúa thiêng-liêng tức là Giáo-hội, là Nhiệm thể Chúa Ki-tô.

Khi các anh em tiên khởi, từ Rôma trở về, phân vân không biết phải sống giữa đời hay rút lui vào chốn cô tịch, thì Phan-xi-cô, sau khi đã cầu nguyện, liền hiểu rằng “sứ mạng của mình là chiến đấu để đưa về cho Chúa các linh hồn mà Satan đang cố sức cướp đoạt” và “người đã chọn không sống cho riêng mình, mà sống cho Đấng đã chết vì mọi người” (1Cel.35). Từ đó người ý thức rằng người anh em hèn mọn sống đời hoán-cải, không chỉ vì phần rỗi của riêng mình, mà vì phần rỗi của nhiều người, vì lợi ích của toàn Giáo-hội. Trong thư gửi cho các tín hữu, người nói:

“Chúng ta là mẹ của Đức Kitô khi chúng ta cưu mang Người trong tâm hồn và thể xác, bằng cách yêu mến Người và gìn giữ lương tâm trong trắng và chân thành (x. 1Cr 6,20); chúng ta sinh Người ra bằng hành vi thánh thiện nhằm nêu gương sáng cho kẻ khác” (2TTh 53).

Chứng từ của Tôma Xêlanô cũng phù hợp với những lời vừa trích của Phan-xi-cô:

“Ngài vẫn thường quả quyết rằng các Anh Em Hèn Mọn được Chúa sai đến vào những thời sau hết này để nêu cao gương sáng cho những kẻ bị vùi lấp trong bóng tối tội lỗi” (2Cel.155).

Như vậy khi anh em “nêu gương sáng”, là anh em đang cộng tác với sứ mạng của Mẹ Hội-thánh là dẫn đưa các linh hồn vào đời sống siêu nhiên. Có lẽ không ai đã hiểu chân lý này hơn thánh nữ Clara, người đã noi gương thánh Phan-xi-cô một cách trung tín nhất. Clara cũng đã xem đời sống hoán-cải của chị em mình như một đóng góp quan trọng cho giáo-hội . Trong thư III gửi cho cân phước A-nê thành Praha có câu:

“Chị xem em như là cộng-sự viên của Thiên-Chúa, như một nơi nương tựa và bổ sức cho những thành phần yếu nhược trong Thân thể khôn diễn-tả của Người”[23]

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.