SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT

T.s. Trần Quang Huy Khanh
Mỗi lần tham dự một thánh lễ an táng, tôi lại thấy xao xuyến cho thân phận và số kiếp con người. Tôi phân vân tự hỏi: “Không biết giờ này thì linh hồn người quá cố ở đâu?” Và rồi đêm nay, sau khi nằm dưới lòng đất lạnh, những người đó sẽ có cảm giác gì? Một mình giữa nghĩa trang đìu hiu, nắng mưa giãi giầu, và đêm đêm nghe những tiếng nỉ non của côn trùng. Nhưng nhất là tôi tưởng tượng ra cái thân xác kia sẽ bắt đầu rữa nát, nứt nẻ, tiêu hao đi để rồi còn lại một bộ xương trắng phau. Và với tháng năm, thì những nắm xương tàn ấy cũng trở về hoàn toàn và hòa tan trong cát bụi. Rồi tôi lại nghĩ đến tôi, một ngày nào đó, đến phiên mình, khi những gì tôi đang nghĩ, đang thấy hôm nay đây cũng sẽ trở thành một sự thật cho chính mình. Vẫn biết rằng, theo đức tin thì sau khi chết linh hồn sẽ về với Chúa, thân xác nằm tạm trong lòng đất để chờ ngày sống lại. Nhưng tự nhiên, những tư tưởng kia vẫn cứ theo tôi mấy ngày liền, và làm tôi thấy rờn rợn, hoang mang và sợ hãi. Vì tuy tin Chúa, nhưng tôi vẫn chỉ là một con người.
Đời người vui ít, buồn nhiều. Ít nụ cười mà lại nhiều nước mắt. Như vậy thì thân phận con người sinh ra, lớn lên, và chết có nghĩa lý gì. Sắc đẹp, danh vọng, học thức, quyền bính, và giầu có để làm gì. Có khác chi một giấc chiêm bao?!!! Mà tại sao chúng ta lại phải sinh ra.
Nhưng có một người mà cái chết của người ấy không đem lại cho tôi những suy nghĩ như trên, ngược lại đã cho tôi một niềm hy vọng và một sức mạnh khiến tôi không bi quan khi nhìn cuộc đời này, và kiếp sống con người. Người ấy và cái chết của người ấy đã đổi mới quan niệm và cái nhìn về giá trị cuộc sống và giá trị sự sống của tôi. Một cách nào đó, con người này cũng không khác gì bao nhiêu người khác đã từng được sinh ra, lớn lên, và chết. Có khác chăng là con người này sinh ra trong một gia đình nghèo và đạm bạc. Vì gia cảnh nghèo mà tuổi thơ đã không một ngày cắp sách đến trường. Ngược lại, ngày ngày giúp đỡ song thân bằng nghề thợ mộc.
Khi trưởng thành vào đời, con người này mang lý tưởng cao, muốn rao giảng cho anh chị em mình một chân lý cứu rỗi. Nhưng vì tư tưởng và đường lối đi ngược lại với quan niệm và lối sống của thế giới và những người đang sống chung quanh, kết quả bị nhóm thượng tế, ký lục và Pharisiêu thù ghét. Cuối cùng thì bị một môn đồ phản trao nộp cho những người ghen tức. Bị kết án bất công, và bị đóng đinh vào thập giá.

Cái chết coi như bất công, vô lý và nhục nhã ấy, mỗi năm vẫn được nhắc nhở. Trải qua hơn 2000 năm, cái chết của con người này đã mang lại một luồng sinh khí mới, một sức sống mới, và tràn trề hy vọng về một tương lại sáng lạn. Nó không ủ dột và đau thương như thân phận và cái chết của con người, nhưng đã trở nên nguồn mạch mang lại sự giải thoát cho nhân loại. Đó là cái chết của Giêsu Nazareth.
Gọi đây là cái chết giải thoát, cái chết mang niềm hy vọng, vì không như những thụ tạo khác, sau khi chết thân xác trở thành cát bụi, và linh hồn trở thành đối tượng của phán xét lành dữ, tội phúc dựa theo những gì đã làm khi còn sống. Trái lại Giêsu đã chết, đã được chôn táng trong mộ đá, nhưng ngày thứ ba đã sống lại. Điều này đã do chính miệng ngài loan báo, và được làm chứng do những nhân chứng đáng tin cậy: “Rồi Chúa Giêsu bắt đầu nói với các môn đệ mình rằng ngài phải lên Giêrusalem và chịu đau khổ ở đó do tay những trưởng lão, tư tế và ký lục và sẽ phải chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16:21).
Thánh Máccô trong trình thuật về biến cố này đã viết về những gì mà Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê, và bà Salômê đã thấy trong buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần. Thánh ký ghi nhận, tảng đá che mồ đã được đẩy qua một bên, và khi bước vào trong, các bà đã thấy một thanh niên nói với các bà: “Các bà đừng sợ: Các bà đi tìm Giêsu Nazareth chịu đóng đinh, nhưng người đã sống lại, không còn ở đây nữa. Đây là chỗ người ta đã đặt ngài. Các bà hãy nói với các môn đệ ngài, nhất là với Phêrô rằng: “Ngài đến xứ Galilêa trước các ông. Ở đó các ông sẽ gặp ngài như ngài đã từng nói trước” (Mc 16:6-7).
Thật vậy, chúng ta hãy tưởng tượng nếu thân xác của Chúa Giêsu cũng rữa nát và tan biến vào lòng đất như mọi người, thì niềm tin của chúng ta, theo Thánh Phaolô “sẽ trở thành vô ích” (1 Cor 15:17), và thánh nhân cũng khẳng định rằng những lời rao giảng của ông sẽ“trở thành vô nghĩa” (1 Cor 15:14). Nhưng nhìn vào cuộc đời của Phaolô và cái chết của ông, cũng như cuộc đời của Phêrô, của các Tông Đồ và sau này từng đoàn đoàn, lớp lớp người đã anh dũng chấp nhận cái chết để chứng minh sự sống lại ấy thì đủ thấy rằng sự sống lại của Chúa Giêsu không những đem lại cho con người ơn giải thoát, mà còn ban cho con ngươì sự sống trường sinh khiến nhiều người đã sẵn sàng chấp nhận và đánh đổi sự sống tạm bợ này để được sự sống ấy. Đây là lý do tại sao các vị tử đạo, những tâm hồn đạo đức sẵn sàng chấp nhận mọi khổ đau, và dù phải chết miễn sao bảo vệ được niềm tin nơi Đức Kitô. Và đó cũng là điều mà chính Chúa Giêsu đã nói với Mátta và Maria khi các bà khóc lóc, thương tiếc người em trai vừa mới qua đời. Các bà đã trách Chúa vì xem như ngài lơ là và không quan tâm đến một người bạn thân của mình. Nhưng ngài đã nói với các bà về niềm tin tưởng nơi sức mạnh phục sinh của người trước đó: “Ta biết nó sẽ sống lại” (Gioan 11:24). Và người bảo các bà: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin ta dù đã chết cũng sẽ được sống; còn ai sống mà tin ta, sẽ được sống đời đời” (Gioan 11:26).
Nhưng vì đây là một mầu nhiệm cao cả và trọng đại, nên những gì chúng ta cảm nghiệm được qua Tin Mừng, thì trí khôn con người không thể giải thích được. Tất cả chỉ được khám phá qua cặp mắt đức tin. Cũng như Chúa Giêsu đã hỏi Mátta trước khi cho em hai bà sống lại “Con có tin như thế không” (Gioan 11:26), và chỉ sau khi bà vững mạnh trả lời: “Lậy Chúa con tin” (Gioan 11:27), lúc đó bà mới được nhìn thấy em mình sống lại.
Theo Thánh Phaolô, giáo lý sống lại của Đức Kitô dựa trên nền tảng ngài là Con Thiên Chúa. Ngài là đấng vô tội. Satan không hề ảnh hưởng gì đến ngài. Việc ngài chịu thương kho và chết là do tình thương yêu nhân loại, và vì muốn trả cái nợ Tổ Tông thay cho nhân loại. Và vì thế, sau khi người ta đã đóng đinh ngài, đã mai táng ngài trong mộ, thì ngài đã chỗi dậy. Thánh Phaolô gọi đó là chiến thắng sự chết hay chiến thắng tội lỗi. Cũng theo thánh nhân, vì tội lỗi không có trong Đức Kitô, nên mầm mống sự chết không có trong ngài. Và việc ngài sống lại vì thế, đem lại cho nhân loại sự sống ân sủng và trường sinh.
Tuy nhiên, con người chúng ta ai cũng phạm tội, và mầm mống sự chết đã có sẵn nên khi thời gian qua, thì bằng cách này hay cách khác chúng ta đều phải chết. Mà một trong những hệ quả của sự chết là thân xác chúng ta sẽ thối rữa trong mồ, và theo tháng năm, thân xác ấy sẽ trở về với cát bụi. Nó chỉ được cho phép sống lại bằng vào quyền năng và sự phục sinh của Chúa Giêsu, đấng đã chiến thắng tội lỗi, và chiến thắng sự chết.
Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Quyền năng ngài đã chiến thắng sự chết và ban cho nhân loại ơn giải thoát và sự sống trường sinh. Nhưng như Thánh Phaolô đã cho biết, cái ảnh hưởng của sự chết kia tiềm ẩn trong ta bằng tội lỗi và đa mê tội lỗi của chúng ta. Vậy để đón nhận sự sống đời đời, và để được sống lại trong ngày sau hết, chúng ta không còn cách gì hơn là chế ngự thói hư, tật xấu, và tránh xa tội lỗi. Chỉ có thế, dù thân xác này có bị thối rữa trong lòng đất nó vẫn được phục sinh toàn thắng cùng với Chúa Giêsu trong ngày ngài ngự đến trong vinh quang, như dấu chỉ của sự phục sinh của ngài mà chúng ta mừng kính hôm nay. Ngài sống lại cho chúng ta và vì chúng ta. Cũng như ngài đã nói với Phêrô và các môn đệ sau khi sống lại, là ngài sẽ đến Galilêa trước và đón các ông, Chúa Giêsu cũng sẽ đến trong vinh quang trong ngày thế mạt để đón chúng ta về Thiên Đàng với ngài, nếu trong cuộc đời này, chúng ta sẵn sàng chết cho niềm tin phục sinh nơi ngài bằng cách vâng giữ những lệnh truyền của ngài, và thực tế nhất, bằng cách xa tránh và chừa bỏ tội lỗi. Vì tội lỗi là mầm mống của sự chết, cũng như nhân đức là hoa trái của sự sống trường sinh và hạnh phúc Thiên Đàng.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.