Suy Niệm & Thực Hành Lời Chúa

  • Lm. Phêrô Hà Ngọc Đoài

Chúa Nhật III Mùa Chay 04/03/2018

Lời Chúa: Exodus 20:1-17; 1 Corinthians 1:22-25; John 2:13-25.

Ý CHÍNH: THANH TẨY ĐỀN THỜ

Chuyện hôm nay: “Trong những ngày ấy, Chúa phán bảo những lời sau đây: Ta là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã dẫn dắt ngươi ra khỏi vùng Ai-cập, khỏi nhà nô lệ … Ngươi không được thờ thần nào khác trước mặt Ta…” (Exodus 20:1-3)

Khi được giải thoát khỏi Ai Cập, sau 40 năm trong samac, dân Do Thái được vào Đất Hứa. Họ sống chung với dân địa phương, là dân ngoại thờ các thần.

Dân ngoại tin rằng ‘vái lạy’ nhiều thần để cầu may. Thần này cho việc này, thần khác giúp sự khác. Nhưng Môisen dạy dân Do Thái rằng chỉ có “Một Chúa của các Tổ Phụ” có sức mạnh tuyệt đối. Ngài đã đem dân ra khỏi kiếp nô lệ tại Ai Cập, và

Ngài luôn thương, và đồng hành với dân trong sa mạc. Nhà Tạm và Cột Mây là dấu hiệu sự hiện diện của Chúa. Vì thế Chúa muốn dân Do Thái, cũng như Kitô hữu hôm nay là thờ một mình Chúa thôi. Không nên tin ‘bùa ngải’, ‘ông địa’, ‘thần tài’ khác nữa.

  • Chúa làm chủ tất cả và an bài cuộc sống cho mọi người. Kitô hữu không van lạy nhiều thần: vừa thờ Chúa, lại âm thầm tham dự các buồi cầu hồn, lên đồng, … Nếu có ‘các thần’ là do ma qủy bày ra để lôi kéo Kitô hữu ra khỏi Thiên Chúa.

 Suy Niệm: “Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Ðền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, … “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” (John 2:13-25).

Chúa Giêsu luôn yêu mến nơi thờ phượng, vì đó là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và các tâm hồn. Khi thấy các ‘phẩm trật’ của đền thờ dùng nơi đó để kinh tài, thì Chúa Giêsu không hài lòng và giận dữ, nên Ngài đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.

Đây là cử chỉ dứt khoát giữa đời và đạo, giữa sự dữ và sự thánh Chúa Giêsu muốn Kitô hữu đừng biến tâm hồn mình, là đền thờ của Chúa trở thành ‘chợ trời’, nơi ôm ấp những ý tà không xứng đáng với Thiên Chúa.

  • Kitô hữu luôn ý thức và tôn trọng nơi thờ phượng. Hãy cầu xin cho ‘tư tế’ đền thờ không lạm dụng quyền hành, cũng không ‘kinh tài’ trong nơi thờ phượng.

Thực Hành: ‘‘Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những

người được gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Ðức Kitô, quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Chúa Cha..” (1 Corinthians 1:22-25)

Nhiều người Do Thái không chấp nhận Chúa Giêsu là ‘Tin Mừng’ cho dân tộc. Họ cho Ngài là người điên, vì Ngài không đáp ứng đường lối ‘chính trị’ họ mong muốn. Họ không tin một Vị Cứu Thế bị đóng đanh, chết nhục nhã,…yếu đuối qúa! Ngài cứu được nhiều người, mà không tự cứu mình! Nhưng, thánh Phaolô thấy sức mạnh và vinh quang của Chúa trong những gì loài người cho là điên rồ và thất bại.

  • Sự Chết và Sống Lại của Chúa Giêsu muôn đời làm chứng cho sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn cho đời mình có ý nghĩa và sự sống của mình bền lâu, hãy sống theo Lời Chúa và tô đẹp bằng Ơn Thánh, vì “Chúa có lời ban sự sống đời đời.” (Jn 6:69) Chúa Nhật IV Mùa Chay 11/03/2014

Lời Chúa: 2 Chronicles 36: 14-16,19-23; Ephesians 2:4-10; John 3:14-21.

Ý CHÍNH: THÁNH GÍA TRỞ THÀNH PHƯƠNG TIỆN CỨU CHUỘC.

Chuyện hôm nay: “Trong những ngày ấy, tất cả những đầu mục tư tế và dân chúng đều bất trung, bắt chước những sự ghê tởm của các dân ngoại. Họ làm dơ bẩn đền thờ Chúa … Quân thù đã đốt đền thờ Chúa … Nếu có ai thoát khỏi lưỡi gươm, thì bị dẫn về Babylon để làm nô lệ nhà vua và con cái vua, cho đến thời vua nước Ba-tư thống trị;.” (2 Chronicles 36:14-23).

Sách Sử Biên Niên (Chronicles) quyển thứ hai chú trọng vào nghi lễ trong đền thờ Giêrusalem. Vua David dự định và chuẩn bị vật liệu, đến thời vua Solomon xây xong đền thờ rất đẹp để dâng kính Thiên Chúa.

Nghi lễ được tổ chức rất long trọng, nhưng các vua sống thoái hóa và tội lỗi! Từ đó dân Do Thái chuyển mình sang thờ ngẫu tượng! Họ đã loại Chúa ra khỏi cuộc đời, và bị vua Babylon, Nebuchadnezzar đến chiếm và phá hủy đền thờ, đến nỗi ‘không hòn đá nào trên hòn đá nào! và bắt dân đi lưu đày.

  • Khi dân biết thống hối, biết kêu cầu Chúa là ‘đá, là nền tảng’, thì Ngài cứu khỏi kiếp lưu đày. Ngài sai vua dân ngoại là Cyrus cho dân Do Thái được trở về để xây lại Đền Thờ. Nếu đời của Bạn bị tàn phá ‘tận gốc’! đừng thất vọng. Hãy đến với Chúa là ‘nền tảng’, để xây lại đời của Bạn.

Suy Niệm: “Như Môisen đã treo con rắn lên ở trong sa mạc như thế nào, thì Con người cũng sẽ bị treo lên như vậy.’’ (John 3:14)

“Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, … vì Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ.” (Jn 3:14-21)

Tin Mừng của Gioan mạc khải cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với con người như mưa tưới gội trên mọi người: cả người lành cũng như kẻ ác. Tình yêu ấy sẽ không bao giờ phai nhạt dù cho cuộc đời có đổi thay. Ngài không áp đặt con người phải theo Ngài.Trái lại, Ngài cho họ được quyền tự do lựa chọn hạnh phúc cho chính mình. Vì thế:

  • Chúa Giêsu đã trả gía rất đắt là hy sinh mạng sống để cứu nhân loại. Kẻ tin theo Chúa, đặt tin tưởng vào Chúa thì được cứu. Còn kẻ không tin, thì tự họ, họ đã tìm đến cõi diệt vong.

Thực Hành: “Anh Chị Em chết bởi tội và được cứu rỗi bởi ân sủng.’ (Ephesians 2:4-5)

Trong thư gửi cho tín hữu Ephesians, thánh Phaolô có một lý luận rất mạnh mẽ. Ngài nói rằng, “Chúa thương loài người “không phải vì” loài người trung thành với Chúa, nhưng “dù loài người đang ở trong tội lỗi, Ngài tìm cách để cứu.

Ngài cứu chúng ta không phải vì công đức chúng ta có, nhưng Ngài cứu vì “Hình Ảnh Ngài” của Ngài trong chúng ta.

  • Ngày nay, Chúa tiếp tục tha thứ tội lỗi và cứu các hối nhân qua Bí tích Giải Tội và ban ân sủng trong Bí Tích Thánh Thễ. Tôi đã ăn năn trở lại với Thiên Chúa, với tha nhân qua bí Tích Hòa Giải chưa?

Chúa Nhật V Mùa Chay 18/03/2018

Lời Chúa: Jeremiah 31:31-34; Hebrews 5:7-9; John 12:2033.

CHỦ ĐỀ: CHẾT PHẦN XÁC ĐỂ SỐNG VĨNH CỬU.

Chuyện hôm nay:“Chúa phán: “Ðây là giao ước Ta sẽ ký kết với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng.” (Jeremiah 31:31-34) 

Tại núi Sinai, Thiên Chúa đã viết giao ước ‘Mười Giới Răn’ trên đá, và trao cho Môisen, để ông dạy dân Do Thái tuân giữ. Nhưng nhiều lần, và nhiều thế hệ, dân đã không tuân giữ, hoặc liên miên tái phạm! Tệ hơn nữa: Họ thờ thần dân ngoại!

Thấy sự bất trung và vô ơn của họ, Chúa có thể hủy diệt toàn dân và tạo dựng một dân tộc mới như thời Noah. Nhưng Chúa đã không làm như vậy. Ngài sẽ trao cho họ giao ước mới, được viết trong trái tim mọi người.

  • Ngôn sứ Jeremiah giúp dân Do Thái hướng về tương lai và chờ đợi Chúa Cứu Thế đến để thiết lập giao ước mới đó. Giao ước mới chính là Chúa Kitô. Kitô hữu học nơi Chúa Giêsu Kitô để biết ý của Chúa Cha. Nhờ vậy mỗi người tạo sự liên kết mật thiết với Chúa Cha. (Jeremiah 29:11; 32: 38-40).

Suy Niệm: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” (John 12:24)

Khi con người sống theo ý mình, đi ngược lại Thiên Chúa thì họ phải xa Thiên Chúa, họ đối diện với hai sự chết: phần xác (Genesis 3:19) và phần hồn, là xa Chúa muôn đời (Genesis 3:23). May thay, sau khi phạm tội, Chúa cho con người cơ hội khác là được trở lại đời sống thiên đàng qua sự cứu độ của Đức Giêsu (Genesis 3:15).

Đây là hình ảnh đẹp về sự hy sinh của Chúa Giêsu. Ngài nhận lấy án phạt của tội do loài người phạm, để chịu chết thay cho họ được sống. Như hạt lúa mì rơi xuống đất, thối đi, sẽ sinh nhiều bông hoa. Sự chết của mỗi người được hiểu hai nghĩa. Nghĩa phần xác và phần hồn.

  • Chúa dùng các tiên tri đển rao giảng sự tha thứ, để con người sống trong hy vọng. Ước gì cuộc đời chúng con là hạt lúa được chôn vùi – chôn vùi chính mình, để nẩy sinh nhiều bông hạt yêu thương cho Chúa, cho tha nhân. “Ta sẽ lập một giao ước mới, và không còn nhớ đến lỗi lầm của dân Ta nữa.” (Jeremiah 31:34).

Thực Hành: “Đức Kitô đã học biết thế nào là vâng phục, và trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu”(Hebrews 5:8).

Để cứu lại những gì đã mất do tội lỗi, Đức Giêsu nhập thể, giảng dạy để hướng dẫn loài người theo bước của Ngài về lại với Thiên Chúa Cha. Cuối cùng, Chúa Giêsu phải trải qua cơn đau của ‘hấp hối’ khi phải chịu: sỉ nhục, lìa xa Chúa Cha khi bị chết và chôn trong mộ, nhưng tất cả vì ‘Vâng Phục’ để chương trình cứu chuộc của Chúa Cha được hoàn tất (Luke 22:41-44).

  • Hình ảnh hạt lúa được gieo vào lòng đất để sinh hoa kết trái, giúp Kitô hữu học biết gía trị của Thánh Thể. Khi rước Lễ là lúc Kitô hữu chấp nhận hy sinh để ơn trời biến đổi mình trở nên của ăn cho muôn người. Khi chịu đựng đau khổ, Kitô hữu học biết gương Chúa Giêsu trong sự vâng theo ý Chúa Cha. Tôi học biết vâng phục, từ bỏ ý riêng, chấp nhận hậu qủa của tội mình gây ra để ăn năn hối cải là: chết phần xác, để được sống vĩnh cửu.

Chúa Nhật Lễ Lá 25/03/2018

Lời Chúa: Rước Kiệu: Mark 11:1-10; hoặc John 12:12-16; Thánh Lễ: Isaiah 50:4-7; Philippians 2:6-11; Mark 14:115:47.

Ý CHÍNH: VIỄN TƯỢNG VINH QUANG CỦA ÐỨC KITÔ QUA CUỘC KHỔ NẠN.

Kiệu Lá: Bài Phúc Âm: Mark 11:1-10 (Hoặc Gioan 12:12-16) “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô: Khi các ngài đến gần Giêrusalem ngang qua Bêtania, gần núi Cây Dầu, thì Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp ngay cột sẵn đó một lừa con chưa ai cỡi, các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con ‘Sao các ông làm thế?’, thì hãy nói rằng: ‘Chúa cần dùng, xong việc Ngài sẽ trả lại đây’”.

Hai môn đệ ra đi và gặp lừa con cột trước cửa ngõ, nơi ngã tư đàng, hai ông liền mở dây. Vài người trong những kẻ đứng đó hỏi hai môn đệ rằng: “Các ông làm gì mà mở dây lừa con vậy?” Hai môn đệ đáp lại như lời Chúa Giêsu dạy bảo, và người ta để cho đem đi. Hai ông dắt lừa con về cho Chúa Giêsu, và trải áo lên mình lừa và Ngài lên cỡi. Nhiều người trải áo xuống đường, kẻ khác chặt nhành cây trải lối đi: Kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: “Hoan hô! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Chúc tụng nước Ðavit tổ phụ chúng ta đã đến.

Hoan hô trên các tầng trời!” Ðó là lời Chúa.

Thánh Lễ: Bài Thương Khó: Mark (14:1 – 15:47)

“Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

Ghi chú: C: Người kể. S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu.

C. Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Marcô.
Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Tuần Lễ ăn bánh không men, các thượng tế và luật sĩ tìm mưu bắt giết Chúa Giêsu. Họ bảo nhau rằng:
S. “Ðừng làm trong ngày lễ, kẻo sinh náo động trong dân”.
C. Khi Chúa đang dùng cơm ở Bêtania trong nhà ông Simon tật phong, thì có một người phụ nữ mang đến một bình ngọc đựng dầu thơm rất quý giá. Ðập vỡ bình, bà đổ dầu thơm trên đầu Người. Có mấy người khó chịu nghĩ thầm rằng: Làm gì mà phí dầu thơm như vậy? Dầu này có thể bán được hơn ba trăm đồng bạc để bố thí cho kẻ nghèo khó. Và họ nặng lời với bà đó. Nhưng
Chúa Giêsu bảo:
J. “Hãy để mặc bà, sao các ông lại làm cực lòng bà? Bà vừa làm cho Ta một việc rất tốt. Vì bao giờ các ông cũng có những kẻ nghèo ở bên mình, và các ông có thể làm phúc cho họ lúc nào tuỳ ý, nhưng Ta, các ông không có Ta ở luôn với đâu. Làm được gì thì bà đã làm, bà đã xức dầu thơm có ý tẩm liệm xác Ta trước. Ta bảo thật các ông: Trong khắp thế giới, Phúc âm này rao giảng đến đâu thì người ta cũng sẽ thuật lại việc bà mới làm để nhớ bà”.
C. Khi ấy, Giuđa Iscariô, một trong nhóm Mười Hai, đến tìm các thượng tế để tình nguyện nộp Người cho họ. Nghe vậy, họ mừng rỡ và họ liền hứa cho nó tiền. Và nó tìm dịp tiện nộp Người.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng Lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Người:
S. “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ
Vượt Qua tại đâu?”
C. Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng:
J. “Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó.
Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu? Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó”.
C. Hai môn đệ ra đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo, và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.
Chiều đến, Người cùng Mười Hai môn đệ tới. Và khi mọi người đang ngồi ăn, thì Chúa Giêsu nói:
J. “Ta bảo thật các con, một trong các con đang ăn cùng Ta, sẽ nộp Ta”.
C. Các ông đều buồn rầu và lần lượt từng người thưa Ngài:
S. “Thưa Thầy, có phải con không?”
C. Người đáp:
J. “Là một trong mười hai, kẻ cùng chấm một đĩa với Thầy. Con Người phải ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà nó đừng sinh ra thì hơn”.
C. Ðang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: J. “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”.
C. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông:
J. “Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa”.
C. Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu. Chúa Giêsu bảo các ông:
J. “Ðêm nay, tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy, vì có lời chép rằng: ta sẽ đánh chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”.
C. Phêrô thưa Người:
S. “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, nhưng con thì không”.
C. Chúa Giêsu bảo ông:
J. “Thầy bảo thật con: Hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Thầy ba lần”.
C. Nhưng Phêrô càng lên giọng cương quyết hơn mà rằng:
S. “Không, dầu phải chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy”.
C. Và tất cả đều nói như vậy.

C. Và tất cả đều nói như vậy.

Ði đến một vườn kia tên là Ghếtsêmani, Người bảo các môn đệ: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .