Tái Sinh Trong Ơn Chúa

Báo Dân Chúa Úc châu trong số tháng 11, chúng ta được đọc nhiều bài viết về việc cầu nguyện cho những người chết trong ơn nghĩa Chúa.

Số báo Dân Chúa Úc Châu tháng 12 này, ai lại chẳng đoán ra chủ đề là: Mùa Vọng và Giáng Sinh. Chính vì thế mà Thuỵ Miên xin viết những mẩu truyện ngắn xoay quay về đề tài Mùa Vọng và sự Giáng sinh của Chúa Giêsu, với tựa đề: ‘Tái sinh trong ơn Chúa’, qua cuộc sống hàng ngày của chính mình.

Vợ chồng chúng nó đã lấy nhau được hơn 44 năm. Với cái tuổi trên 65, thì mấy ai còn sinh đẻ con cái được nữa. Chúng nó mong ước được sống bên nhau trong cái tuổi chờ chết, hay nói khác đi là sống có đôi cho khỏi buồn, cái tuổi lo tích trữ công đức để chờ ngày Chúa gọi đến toà phát xét riêng.

Chúng nó sống bên nhau để mà thưa kinh thì đúng hơn, vì đọc kinh một mình nào có ơn ích cho bằng đọc với cả hai đứa. Thế nhưng chỉ thực hiện được ít lâu, nó đành chịu thua và bỏ ngang, vì vợ nó siêng đọc kinh qua sức. Đọc kinh buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, và cả trong khi ngủ cũng nằm mơ nó thấy cũng đang đọc kinh. Ấy thế! Nàng còn đi dự lễ sáng hàng ngày.

Đúng là giỏi kinh sách không ai bằng các bà, nhất là các bà sơ. Nhiều khi các cha cũng không thuộc bằng.

Lúc đầu, nó cứ tưởng đây là sự đạo đức của các cụ cao niên tám mươi hay chín mươi tuổi. Hoặc là của những người tu hành, hay cùng lắm là của những người giáo dân thoát tục, không phải lo lắng trách nhiệm về tài chánh hay về cuộc sống trần gian. Nhưng sau này nó mới hiểu ra rằng: Nhu cầu về tâm linh là nhu cầu chung của con người, chỉ khác biệt ở chỗ nhiều hay ít mà thôi. Có người chỉ làm dấu, hay đọc vài ba kinh trước khi đi ngủ thế là xong; Có người thì đọc sách kinh nhật tụng hàng ngày, đúng giờ giấc như các vị tu sĩ; Có người thì lần chuỗi cả đêm, rồi ngủ ban ngày; Cũng có nhiều người chỉ thầm lặng quỳ trước bàn thờ, để nâng hồn lên với Chúa. Thật là đúng khi nói linh đạo có nhiều cách, nhiều lối sống đạo khác nhau, để mọi người được sống trong ơn nghĩa cùng Chúa.

Vợ nó khoảng chừng vài tháng trước khi bị bệnh, bỗng dưng thích đi tham dự thánh lễ hàng ngày, đọc kinh Lòng Chúa thương xót vào lúc 3 giờ chiều, tối đến thúc giục con cháu đọc kinh trước khi đi ngủ. Nó cứ tưởng thế là tốt, vì nhờ lời cầu nguyện ấy của vợ nó, mà nó cùng con cháu được hưởng lây các ơn phúc ấy.

Thế nhưng, từ việc đọc kinh ấy mà ma quỷ đã khiến cho vợ nó bị tâm bệnh. Nhiều người cho rằng nó nói sai, ấy khoan khoan nghe nói giải bầy. Ma quỷ nó khôn ngoan hơn con người ta gấp nhiều lần, nó có nhiều cách nói khiến chúng ta sợ hãi và mất niềm tin vào Thiên Chúa.

Ai chẳng biết “sợ” phạm tội, vì tội là làm mất lòng Chúa. Một khi người ấy đã phạm tội, thì ma quỷ sẽ rêu rao rằng: “Ngươi đã thuộc về ta”, chính vì thế chúng dùng chiêu bài này khiến cho chúng ta sợ Thiên Chúa, và rồi xa lánh Thiên Chúa.

Ma quỷ còn tinh vi hơn nhiều những kẻ tàn ác ở thế gian này, chúng dùng những lỗi lầm của kẻ phạm tội, để uy hiếp những thân nhân trong gia đình ấy, hoặc làm cho họ đau khổ, sống không bằng chết và nhất là làm cho những người thân của kẻ phạm tội ấy mất niềm tin vào Thiên Chúa. Thí dụ cộng sản dùng tính mạng của cha mẹ để uy hiếp đứa con phải thi hành những nhiệm vụ mà chúng giao phó, hay chúng dùng những lời hứa cuội, những bằng khen để dẫn dụ tuổi trẻ đi làm việc cho chúng trong thời chiến tranh xâm lược miền Nam.

Ma quỷ còn tinh vi hơn nhiều phần, chúng tạo ra cho người phạm tội mất niềm tin vào Lòng nhân hiền và tha thứ của Chúa, như dân gian thường nói: “Bước chân đi cấm kỳ trở lại”. Chúng nói với người ít hiểu biết lẽ đạo rằng: Chúa là Đấng ngay thẳng, công bình, cho nên những kẻ có tội đều phải chết, phải chịu án đời đời.

Ngày nay có nhiều người bỏ đạo vì sợ Chúa phạt “chu di tam tộc” như thời các vua phong kiến.

Ma quỷ đã cố tình đầu độc chúng ta về vị Thiên Chúa Công bằng, ngay thẳng, khiến chúng ta sợ hãi Người.

Có nhiều cha trong thánh lễ chỉ giảng về các tội mà con người mắc phạm hàng ngày, và còn nhấn mạnh rằng là họ sẽ không vào được Nước Thiên Chúa khiến giáo dân không dám đi tham dự thánh lễ nữa.

Cũng may là còn có các cha nói lên các tội lỗi của thế gian đã phạm, nhưng đồng thời các cha cũng chỉ cho họ nhận biết lòng thương yêu, tha thứ và nhân từ của Thiên Chúa. Giúp cho giáo dân sau khi đi nghe giảng phòng. Họ ăn năn xám hối, được nhận lãnh ơn hoà giải và lòng được tràn ngập niềm vui.

Vợ nó bỗng tự dưng bị trầm cảm, không muốn giao tiếp với bạn bè, vì mặc cảm mình tội lỗi. Vợ nó với vẻ mặt buồn bả, thở dài, thường so bì sự giữ đạo, sống đạo của con mình với con cái của người khác. Đến nỗi nhiều lần nó phải gắt lên vì những lời than phiền ấy. Nó cũng nhiều lần an ủi, giải thích với vợ nó rằng: Đừng so sánh, cách tốt nhất là hãy cầu nguyện cho con cái của mình.

Trong hoàn cảnh văn hoá khác biệt giữa Úc và Việt Nam; Các phong tục tốt lành của người việt ở thời xưa, bây giờ không thể đòi buộc các con trẻ áp dụng vào đời sống của chúng được nữa.

Luật pháp nước Úc, đã tạo cho chúng nhiều sự chọn lựa tự do. Chúa cũng còn bó tay, huống gì là con người. Như những luật tự do phá thai, tự do đồng tình, luyến ái, và tự do ly dị…

Theo luật hội thánh khi con trẻ đến tuổi trưởng thành, thì chúng phải chịu trách nhiệm về mọi hành động chúng đã chọn lựa. Chúng ta bậc làm cha mẹ chỉ trợ giúp bằng lời nguyện cầu, lời khuyên bảo, nếu chúng không nghe, thì đó không phải là tội của chúng ta nữa. Ma quỷ đã khôn khéo đổ thừa con cái hư hỏng là tại chúng ta, khiến cho nhiều người quên mất đi lòng yêu thương của Thiên Chúa. Chúng ta quên rằng chúng ta chỉ là cha mẹ ở thế gian mà còn xót thương con cái mình đến thế, thì Thiên Chúa là người Cha trên trời còn đau khổ và xót thương toàn thể con cái loài người đến thế nào.

Bài hát: “Con tưởng rằng con vững tin” của Cha Nguyễn Duy, đã giúp cho mọi người thấu hiểu được niềm tin vào Thiên Chúa nhân hiền, Đấng quan phòng cho tất cả ngững người làm con cái của Thiên Chúa.

Thật vậy vì khi đường đời của nó gặp phong ba, bão táp, trời đen mây kịt. Lúc này nó không còn biết phương hướng lái thuyền đời về với Chúa, Nó mới biết rằng nó thật sự chưa vững tin.

Kỷ niệm chuyến vượt biên cuối cùng năm 1983, đã gợi cho trí óc của nó nhớ lại cảnh tượng phong ba, bão tố, trời đen, sóng cao, mưa nặng hột vào chiều ngày thứ tư của chuyến hải hành. Mọi người đều sợ hãi, thất vọng vì cái chết đã cầm chắc trong tay. Phen này thì xác của mọi người sẽ bị làm mồi cho cá. Có kẻ đã liệng hình các Đấng, mà họ tôn thờ xuống biển vì sợ hãi và nhất là vì họ cầu mà không được như ý họ.

Chính nó cũng ngửa mặt lên trời, gào to lời nguyện cầu: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn phạt, xin hãy phạt con vì con là kẻ tội lỗi. Lạy Chúa con tin Chúa là vị thuyền trưởng chứ không phải con. Xin Chúa, vì lòng nhân từ mà cứu vớt 34 mạng người còn lại đang ở trong chiếc thuyền bé nhỏ này”.

Vì chiều tối trước khi đi vượt biên nó đã đi xưng tội, cho nên lúc đó nó rất vững tin vào việc làm của Thiên Chúa. Chết thì về thiên đàng với Chúa, chứ có gì đâu mà phải lo.

Sau khoảng sáu tiếng đồng hồ đã cầm cự với cơn bão, thì bão tố nhẹ dần và ngừng hẳn. Chiếc thuyền cỏn con của nó đã may mắn gặp được chiếc tàu đánh cá của dân Mã-Lai. Họ cho nước uống, thuốc lá và chỉ cho hướng đi về Đảo Tioman, cách đó khoảng 8 giờ đồng hồ với vận tốc chiếc thuyền 1 “lốc” của nó.

Nó đã được Chúa cứu, hay đúng hơn là tất cả 35 người trên chiếc thuyền nhỏ ấy, đã đến được một hòn đảo của nước Malaysia. Ít hôm sau, nó được phái đoàn Úc phỏng vấn, và họ chấp nhận cho nó chuyển trại qua Sungei Besi, và nó đã được đi định cư tại Melbourne vào ngày 15/2/1984.

Từ ngày ấy, niềm tin của nó vào Thiên Chúa quan phòng vẫn vững vàng và không hề thay đổi.

Vợ và các con của nó đã được đoàn tụ gia đình sau đó 6 năm, 2 tháng và 3 ngày bằng đường máy bay. Niềm tin của vợ nó vào Thiên Chúa vẫn giữ theo lề lối các ông bà thời cổ xưa. Không dám phạm tội vì sợ Chúa phạt hơn là vì yêu mến Chúa. Phải vào đoàn hội, phải đọc kinh thật nhiều, để sau khi chết được nhiều người cầu nguyện cho, và để Chúa cho vào thiên đàng. Niềm tin của vợ nó vẫn còn ở thế kỷ thứ 16, thời của các cha người ngoại quốc sang nước Việt Nam ta truyền đạo. Nó chỉ biết cười im lặng và nhận tiếng là khô khan đạo nghĩa với cái nhìn của vợ nó.

Qua cái chết mới có thể tái sinh

Chẳng hiểu nguyên nhân nào đã khiến cho vợ nó bị trầm cảm nặng đến thế. Nặng đến nỗi cái chết gần kề trong gang tấc. Vợ nó đêm không ngủ, ra ngoà phòng khách quỳ đọc kinh suốt đêm, ăn ít, lẽ dĩ nhiên chỉ còn thở ra chứ không đủ sức hít vào, thở dài, nói toàn chuyện gở chết. Có hai thứ lý do mà nó đoán được là:

Nguyên nhân thứ nhất là do cuộc sống của gia đình, tỉ dụ như lo lắng quá độ về phần xác và phần hồn của chính mình hay của con cái, để rồi vợ nó nhìn, nghe thấy điều gì cũng cho là tội, là mê của cải thế gian.

Nguyên nhân thứ hai là vợ nó nghe quá nhiều lời than vãn từ bạn bè thí dụ như: Thời buổi bây giờ con cái sống tội lỗi quá, ly dị, sống ích kỷ, lãnh đạm trước sự đau khổ của người thân. Hoặc do lời bàn của bạn bè rằng: Cha mẹ cần phải ăn chay, cần phải thức khuya cầu nguyện hay đi đến nhà nguyện của các bà sơ, để có thể viếng Mình thánh Chúa, cầu nguyện cho giới trẻ biết ăn năn trở lại. Hoặc bàn rằng họ cần phải ăn ít đi, và cần phải làm phúc bố thí thật nhiều, để mong Chúa nhận lời.

Chỉ trong vòng hơn 1 tháng mà vợ nó sụt hơn 10 ký lô. Lúc đầu thì nó cũng tưởng là do tại các bà kiêng ăn cho bớt mập và để giảm mỡ trong máu. Nó chẳng giám than van gì cả, vì chính nó cũng bị ăn theo chế độ kiểu ấy. Cho đến khi vợ nó với tấm thân chỉ còn da bọc xương, than rằng mất ngủ, ăn không tiêu, đại tiện thì táo bón. Thì nó giật mình hỡi ôi, vì thờ kính Thiên Chúa theo kiểu của vợ nó là hãm mình ép xác, để đền vì phần tội cho con cái là sai lối mất rồi.

Bác sĩ gia đình khám bệnh chẩn đoán rối loạn tiêu hoá do bị trầm cảm. Thuốc sổ, thuốc nhuận trường, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm đều được mua cho uống. Nhưng coi bộ chưa có biến chuyển tốt. Nó bèn liên lạc với bác sĩ chuyên khoa về chửa bệnh thuộc về hệ thống tiêu hoá. Các thử nghiệm như CT Scan về ngực, bụng, cho biết sưng phần đầu tuỵ tạng, hạch bạch huyết của tim phổi bị sưng nghi là có thể bị ung thư tuỵ tạng. Bác sĩ chuyên khoa gởi đi làm MRI tuỵ tạng thì kết quả lại bình thường. Bác sĩ lại gởi đi soi bao tử và ruột thì kết quả cho biết là loét 4 chỗ của bao tử và viêm sưng khúc đầu của ruột non, nguyên nhân do bởi khuẩn: Heli pyloyis. Bác sĩ gia đình cho biết bệnh này chỉ cần trị liệu đúng cách bao gồm thuốc chống acid trong bao tử cộng thêm hai loại trụ sinh, uống trong một tuần là có hiệu qủa ngay.

Về phần tinh thần thì nó xin cha cho xưng tội, sức dầu và khuyên giải; Thông báo đến mọi người trong gia tộc, bạn bè thân quen để xin cầu nguyện. Về phần con cái thì họp bàn cách trị liệu và làm theo lời của vợ nó muốn.

Nó thì ngày ngủ đêm thức để theo dõi tình trạng bệnh của vợ nó. Nghề chăm sóc bệnh nhân mà nó đang làm đã giúp nó ghi lại mọi sự việc xảy ra từng ngày của bệnh lý. Như tìm ra vợ nó bị bệnh “Sleep apnoea” là bệnh ngưng thở trong khi ngủ, khiến cho cơ thể, đăc biệt là não thiếu dưỡng khí khi ngủ làm cho cơ thể mệt nhọc, nhức đầu. Nó thay đổi cách nằm nghiêng cứ 2 tiếng lại đổi một lần. Cho đi ngủ sớm vào lúc 9 giờ tối, sau khi uống thuốc an thần, thuốc ngủ. Buổi sáng, khi vợ nó vừa thức giấc thì nó đo huyết áp, thử đường máu, cân trọng lượng, uống thuốc đúng giờ, ăn cháo. An ủi tinh thần vợ nó bằng cách nhắc lại lời yêu thương nồng thắm lúc ban đầu. Trong sự lo lắng về cái chết kề gần của vợ nó. Nó đã viết nháp bài nhạc: “Một mai em về với trời”, vì lúc ấy nó sợ không thể viết được thành lời.

Tạ ơn Chúa, nhờ lời cầu nguyện của các cha cùng mọi người, và do sự thăm viếng của thân nhân, bạn bè xa gần cùng thuốc men do các bác sĩ thân quen gia đình trị liệu, đặc biệt là Bác sĩ Hồng Thái chuyên khoa về hệ thống tiêu hoá: Bao tử, Ruột đã giúp đỡ, chăm sóc tận tình như việc liên lạc với bệnh viện thánh Vincent, để xin được làm siêu âm tuỵ tạng qua đường bao tử cho vợ nó.

Bệnh tình của vợ nó bây giờ đang trên đà hồi phục, ngủ được, bớt thức khuya đọc kinh, nói chuyện được nhiều hơn, ít dùng chữ ‘sợ’ hơn, mặc dù trọng lượng vẫn chưa tăng hơn, nhưng có thể đi bộ được nửa tiếng đến nhà thờ để tham dự thánh lễ hàng ngày.

Vợ chồng của nó đã được tái sinh, sau cơn bệnh nghiệt ngã (nó hy vọng không phải là Ung thư). Vợ chồng nó thêm vững tin vào lời cầu nguyện của mọi người, và nhất là vững tin vào Lòng thương xót của Chúa. Đặc biệt, là vợ nó hiểu biết nhiều hơn về cách chăm sóc Đền thờ của Thiên Chúa là thân xác của chính mình. Xin nhắn nhủ những ai còn đang sống đạo theo kiểu hành xác, cuồng tín thì hãy thay đổi, để cho vợ (chồng), con cái của họ được nhờ, vì nếu thân xác của chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa bị huỷ hoại, thì làm sao Thiên Chúa còn chỗ ngự trị trong con người của chúng ta được nữa. Hơn thế nữa, làm phúc nơi nao, để cầu ao nhà mình rách nát, bổn phận đối với gia đình không làm tròn, thì làm sao hài lòng Thiên Chúa cho được.

Tóm lại, Thiên Chúa không bắt riêng một ai phải gánh tội giùm cho thiên hạ bao giờ cả, nhưng Người đã sai Con một của Người làm việc ấy.

Mọi người phải chịu trách nhiệm về những tội riêng mà họ đã phạm. Cha mẹ, sau khi họ đã giải bày điều hơn, lẽ phải cho con cái đã trưởng thành, mà nếu chúng không vâng nghe, thì chúng phải chịu trách nhiệm trước mặt Chúa về việc chúng đã làm sai, chứ không phải là người làm cha, làm mẹ.

Nó xác tín một điều rằng: Tình yêu thương của Thiên Chúa luôn tuôn đổ tràn đầy xuống cho con cái của Người, qua những khổ đau, hạnh phúc, bệnh tật, sức khoẻ, may mắn, hay bất hạnh, ngõ hầu chúng ta có thể sống bình an ở dưới thế gian này.

“Bình an dưới thế cho người thiện tâm” đó là tiếng hát của các thiên thần khi loan báo tin vui Chúa Hài Nhi giáng sinh xuống thế gian làm người, để hướng dẫn chúng ta về nước trời mai sau.

Mong ước mọi người mở cửa lòng mình ra, mở cửa linh hồn của mình ra, và sửa soạn đón chờ Con Thiên Chúa sẽ giáng sinh trong tâm hồn của chính mình.

Xin kính chúc toàn thể Cộng Đồng Dân Chúa Úc Châu, một mùa Giáng Sinh An Bình và Hạnh Phúc.

Thuỵ Miên.