THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 1 & 2 – 2018

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo

PHỤ CHƯƠNG

Hai đoạn thơ sau đây cho ta thấy rõ thái độ bất bạo động của các vị tử đạo. Một đàng cương quyết đấu tranh cho thự do lương tâm của con người, đàng khác vẫn luôn luôn muốn là trung thần của nhà vua. Bài thứ nhất của ông Lý Mỹ:

“Gông đóng xiềng mang, dạ nguyện kinh,

Những say về đạo, hả về tình, Vai mang bốn điệp tai thêm ấm

Xồng xềng ba vòng cổ lại thanh.

Phép nứớc đành lòng không óan thán

Nghĩa thầy để dạ vẫn đinh ninh

Khiến sao nên vậy nào lo nghĩ

Phó mặc Hoàng Thiên sự tử sinh.”

Đoạn thơ thứ hai của linh mục Đoàn Công Quý gửi cho mẫu thân:

”… Dầu trăng trói gông cùm tù rạc

Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề

Miễn vui lòng cam chịu một bề

Cho trọn đạo trung thần hiếu tử. ..”

2. Liên đới tập thể

Một chứng từ khá đặc biệt các tín hữu thời tử đạo nêu lên với quần chúng là việc họ luôn gắn bó, thông cảm và sẵn sàng san sẻ những khó khăn cũng như liên đới với nhau để tuyên xưng niềm tin của mình. Không cảm động sao được, hình ảnh cô bé cháu 5 tuổi ở Tây Ban Nha mỗi ngày cầu nguyện cho bác là Giám mục Henares Minh: “… Trung thành phục vụ Chúa suốt đời, và nếu cần để tôn vinh và làm hiển danh Chúa hơn, xin cho bác được hiến dâng mạng sống vì yêu Ngài.” Ấy thế mà em chỉ biết: “Bác tên Đaminh, tu dòng Đaminh, đang truyền giáo ở xa thật xa, nơi người ta bách hại các Kitô hữu”.

Không cảm động sao được, một linh mục Tuần đang ở nơi yên hàn, khi hay tin vị thừa sai Fernadez Hiền không có nơi ẩn trú, đã đến gặp để cùng nhau trên đường lưu lạc, cùng phơi nắng phơi sương nhiều ngày trong đầm lầy, cùng bị bắt và cùng bị kết án, có điều cha Tuần chết rũ tù mấy ngày trước buổi hành quyết.

Không cảm động sao được, cụ Án Khảm vốn là tiên chỉ làng Quần Cống, đang khi quân lính bao vây làng, cho mõ đi rao: “Trình quan viên làng nước, có lệnh cụ Án truyền rằng: ai mà quá khóa phải phạt ba roi và bị đuổi khỏi làng”. Và ngay trước mặt quân lính, cụ Án đứng ra ngăn cản một tín hữu nhát sợ định đạp lên Thánh Giá.

Khi các vị tử đạo bị bắt, các vị vẫn tìm được nguồn khích lệ từ bên ngoài qua thư từ, thăm viếng, tiếp tế. Các linh mục tìm đủ mọi cách vào thăm các chứng nhân đức tin để đưa Thánh Thể và giải tội cho họ. Linh mục Lựu đã bị bắt khi làm mục vụ cho các tín hữu trong ngục tù Mỹ Tho. Đọc đoạn thư sau đây của Đức cha Retord Liêu gửi linh mục Khoan trong tù, chúng ta thấy phần nào nội dung những mối liên đới đó:

“Sách có câu: Chết vinh hơn sống nhục. Hãy coi những kẻ bội giáo, cuộc đời họ đáng tủi hổ biết bao. Ngược lại, khắp bốn phương thiên hạ đều vang lời ngợi khen những ai chết cho đức tin. Các vị tử đạo như tiếng kèn Thiên Quốc với âm điệu vang lừng muôn người lắng nghe. Những kẻ chối đạo, ở lại trần gian chỉ chờ lưỡi rìu chặt dem về tiếp lửa cho hỏa ngục…Tôi viết cho cha những lời vắn tắt vội vã này. Ước mong nó thành ngọn gió đưa cha lướt êm đến bến bờ Quê Hương. Ước mong nó thành bó hoa rực rỡ với làn hương ngát tỏ niềm vui tô thắm tâm hồn cha trong cuộc chiến cuối cùng. Xin kính cẩn tạm biệt cha, xin kính cẩn hôn lên gông cùm xiềng xích của cha. Trong lúc cầu nguyện, xin đừng quên tôi nhé!”

Như vậy, chúng ta thấy cuộc tử đạo của mỗi người không chỉ một mình mình biết, nhưng thường mang tầm vóc tập thể. Sự bền vững của một người có tác động khích lệ đến nhiều ngứơi. Đức cha An xin quân lính đừng chém mình chết sớm, nhưng ngài yêu cầu họ chém mình ba nhát: Một tạ ơn Thiên Chúa cho làm người và đến Việt Nam rao giảng Tin Mừng; một cám ơn công sinh thành dưỡng dục của mẹ cha; và một để làm gương cho các tín hữu. Linh mục Tuần khẳng định: “Sao tôi phải lại bắt chước những kẻ bội giáo, mẫu gương tôi coi là hai Giám mục (Y và Minh) của tôi”.

Với những nhân chứng đức tin cùng bị giam, tình liên đới của họ còn cụ thể hơn. Một người ra tòa trở về, các người khác xúm vào chăm sóc những vết thương, hỏi han về cuộc điều tra và thuật lại cho nhau những lời đáp khẳng khái khi phải đối diện với quan quyền. Rồi họ cùng nhau tạ ơn Chúa đã cho anh em mình vượt qua cơn thử thách. Đẹp làm sao hình ảnh linh mục Hoan, tuy tuổi già tóc bạc, cổ mang gông, tay đeo xiềng xích, mỗi ngày đi từ phòng giam này qua phòng giam khác để khích lệ các tín hữu. Đẹp làm sao hình ảnh hai ông Thọ và Cỏn, sẵn sàng quỳ xuống liếm từng vết thương ba vị linh mục Ngân, Nghi, Thịnh theo đòi hỏi của quan. Đẹp làm sao linh mục Vinh Sơn Liêm đã bênh vực cho bạn (cha Castanẽda Gia) bằng cái gía chính mạng sống mình, khi nói: “Xin quan nếu tha thì tha cả, nếu giết thì giết cả”.

Nhóm năm người, hai thầy Mậu, Úy và ba anh Mới, Đệ, Vinh khi thấy linh mục Tự, chỗ dựa tinh thần của nhóm đã bị xử tử, cả năm người đã thất vọng chán nản. Nhưng khi họ ngồi lại với nhau, ôn lịa những lời khuyên của thầy mến yêu, năm người đã tìm được can đảm. Họ gửi thư cho cha chính dòng Đaminh để xin khấn dòng ba ngay trong ngục, rồi hợp lực với nhau làm tông đồ tại nhà giam. Chỉ một thời gian ngắn, thầy Mậu đã viết thư loan tin mình đã rửa tội được 44 người.

a) Loan báo Tin Mừng

Lời Chúa không thể bị trói buộc. Nếu những nhân chứng đức tin chẳng để lại di ngôn nào ngoài thái độ quả cảm xác nhận và cương quyết: “Tôi là Kitô hữu” hoặc “Tôi không bao giờ đạp lên Thánh Giá” thì trong số 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, ta cũng thấy được nhiều mẫu gương nhiệt tâm tông đồ có tính cách sáng tạo.

Linh mục Federich Tế, chính bẩy năm rưỡi trong tù đã khéo quan hệ với với cai ngục để tự do thăm viếng phục vụ các tín hữu Thăng Long, đến độ Đức cha Longer Gia dự định đặt ngài làm cha sở xứ Thăng Long. Bẩy tháng trước ngày xử, cùng với linh mục bạn là cha Liciniana Đậu, hai vị rửa tội được trên 100 người. Hai linh mục Gia và Liêm có cơ hội may mắn khác, trong ba ngày tham gia Hội Đồng Tứ Giáo trao đổi ba đề tài lớn của cõi nhân sinh: Người ta bởi đâu mà có; sống để làm gì, và chết rồi đi đâu? Hai ngài đã làm chứng cho sự thật và niềm tin Công Giáo. Còn Đức cha Tuấn (Hermosilla Liêm) bị giam trong cũi chỉ có 10 ngày, tuy lom khom không đứng được, cũng chẳng thể nằm, nhưng ngài đã giảng đạo và rửa tội cho đứa con trai viên đội Bái. Về giáo dân có ông cai Lê Đăng Thị đã dậy đạo cho một phạm nhân cũng bị xử, buổi sáng ngày ra pháp trường, anh đã nhận lãnh bí tích rửa tội, thế là ông Thi có một người bạn đồng hành về Thiên Quốc.

Đôi khi việc loan báo Tin Mừng không thể hiện bằng ngôn ngữ mà bằng hành động. Ông Đổng đã bị áp lực khắc lên má chữ “Tả đạo”, ông can đảm chịu đau lần thứ hai để rạch xóa chữ Tả đạo. Khi khác, lại chịu đau lần thứ ba để khắc thay vào hai chữ “Chính đạo”. Linh mục Hiển, 71 tuổi, mỗi buổi tối chăm chú vẽ trên vải những hình Thánh Giá đẹp với những nét trang trí hoa văn để tặng cho các tín hữu vào thăm. Những hình Thánh Giá đó được chuyền tay nhau, giúp một số tội nhân thống hối, một số người nhát đảm tìm lại được lòng can trường, nên các tín hữu đến xin ảnh rất đông. Vị linh mục phải nhờ anh bạn tù khắc hình Thánh Giá trên gỗ để in hàng loạt ban phát cho họ. Thế đấy, tuy ở trong tù, cha Hiển đã gây được phong trào kính Thánh Giá rộng rãi ở Nam Định.

Một trường hợp loan báo khác cũng khá đặc biệt. Linh mục Tự đến ngày bị xử đã xin phép quan được mặc trọn bộ áo dòng Đaminh và ôm Thánh Giá ra pháp trường. Trước khi bị chém, cha xin nói đôi lời và ứng khẩu giảng gần một giờ về Đức Giêsu, về ơn cứu độ, về tình huynh đệ mọi người là anh em.

IV.      CHÂN DUNG CÁC VỊ TỬ ĐẠO

Trong các phần trên, chúng ta quan sát các anh hùng tử đạo trong sinh hoạt hằng ngày, nghiên cứu về tâm tư và lời nói các vị. Giờ đây chúng ta chiêm ngưỡng chân dung các ngài, dựa vào thái độ trong giờ phút cuối cùng đời chứng nhân, chúng ta thấy được tư thế, nét mặt và có lẽ cả ánh mắt của các ngài nữa.

1. Lòng anh dũng hào hùng

Một quan niệm sai lầm các tín hữu dễ mắc phải là tưởng tượng các vị thánh quá linh thiêng như những thiên thần, nghĩ rằng với ơn Chúa, các vị tử đạo chẳng biết đau đớn là gì nữa. Thực ra, các vị vẫn mang thân phận rất con người như chúng ta, cũng sợ đòn đánh tra tấn và luyến tiếc cuộc sống trần gian. Ngay trong số 117 Hiển Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, cũng không ít vị từng đạp lên Thánh Giá, có điều sau đó các vị đã hồi tâm và tiếp tục chọn Chúa.

Trong vụ án ba thánh Huy, Thế, Đạt thì 500 binh sĩ Công Giáo Nam Định, ngay hôm đầu tiên đã có 485 người nghe tiếng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh dầy đạp Thánh Giá. Ít ngày sau, 15 người chỉ còn 9 kẻ trung thành, rồi còn 5, còn 3; và ba người cuối cùng cũng mọt lần chối đạo. Đến khi về nhà nghĩ lại, ba ông họp nhau nộp đơn xin tiếp tục giữ đạo và phải vào thẳng kinh đô dâng sớ tận tay vua. Từ đây các ông anh dũng chịu mọi hình khổ cho đến chết.

Thầy giảng Tôma Toán, 76 tuổi, đạp lên Thánh Giá những hai lần. Nhưng khi đã thống hối, thầy chấp nhận mọi thử thách cách can đảm lạ thường. Có lần sau 13 ngày bị lột trần, bị trói ngoài sân phơi nắng phơi sương, bị mọi người qua lại sỉ nhục, hành hạ. Thế mà khi quan cho dọn một mâm cơm yêu cầu thầy ăn rồi bỏ đạo, thầy nói: “Nếu ăn mà phải bỏ đạo, tôi sẽ không bao giờ ăn”. Và thầy bị bỏ đói chết gục trong nhà giam.

Ông Năm Thuông bị án lưu đầy xuống Vĩnh Long sau nhiều ngày đi bộ mệt nhọc, ông không chịu dừng lại Sàigòn, cương quyết đi cho trọn hành trình đến tận nơi bản án quy định. Rồi vừa đến Vĩnh Long, ông đã kiệt sức, trút hơi thở cuối cùng. Linh mục Hạnh từng được mệnh danh là “Laurensô Việt Nam”, vì lần kia sau một trận đòn, cha đã bình tĩnh chắp tay sau lưng và nói: “Làm quan lớn mà bất công, bắt một mông chịu cả, còn mông kia chẳng chịu gì hết”. Chí khí bà Đê (Lê Thị Thành), vị thánh nữ Việt Nam duy nhất, cũng không chịu thua kém các bậc nam nhi. Quan quân cho cột các ống tay áo, rồi bỏ rắn độc vào trong người, bà vẫn bình tĩnh đứng yên không nhúc nhích, không sợ hãi. Con cái vào tù thăm, khóc lóc khi thấy thân thể mẹ bầm tím, áo bê bết những vết máu, bà mỉm cười an ủi: “Sao con lại buồn, mẹ mặc áo hoa hồng đấy con ạ!”. Bà đã coi những vết máu như vòng hoa khóac lên cổ người chiến sĩ thắng trận trở về.

Lòng anh dũng của những chứng nhân tử đạo đã được tô điểm thêm bằng sự kiên trì theo năm tháng. Chấp nhận bản án và bình tĩnh chờ đợi, không một ai quyên sinh để tự kết liễu đời mình. Một phụ nữ ngoại giáo tặng linh mục Đạt lọ độc dược để khỏi kéo dài những ngày tra tấn khổ đau; một viên quan yêu cầu Đức cha Y uống thuốc độc theo kiểu những người “quân tử Đông Phương thường làm”. Nhưng các ngài lại dùng chính cơ hội ấy trình bầy quan điểm Giáo Hội về mạng sống con người.

2. Lòng bao dung tha thứ

Nếu lòng anh dũng giúp các vị tử đạo bình thản đón nhận cái chết không run sợ, không quỵ lụy khóc than thì lòng bao dung tha thứ mới là đặc tính phân biệt vị tử đạo với những vị anh hùng vì lý do khác.

Các tín hữu chỉ thực sự chết vì đạo nếu biểu lộ được tình yêu, lòng nhân ái, sự bao dung của Tin Mừng. Các vị chắc chắn không đồng ý với bản án bất công của triều đình, nhưng như Đức Giêsu trên Thánh Giá vẫn cầu nguyện cho quân lính giết hại mình, các chứng nhân tử đạo vẫn tiếp tục yêu thương vua quan và chính những người hành xử mình.

-Thừa sai Gagelin Kính gửi thư cho bạn bè: “Tôi sẵn lòng tha thứ cho những kẻ áp bức tôi”.

-Chuyện linh mục Théophane Vénard Ven, khi viên quan nói: “Tôi phải theo lệnh vua, đừng giận tội nhé”. Ngài đáp: “Tôi chẳng ghét gì ai cả, tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho quan”.

-Cụ Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười, vì khi họ yêu cầu cụ đọc kinh đạo cho nghe, cụ đã đọc: “Cầu Chúa Giêsu, xin cho các quan trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh”.

-Linh mục Minh trong tù đã giải tội cho bếp Nhẫn, kẻ dẫn lối cho quan quân bắt ngài. Cũng vậy, linh mục Viên,, trên đường ra pháp trường, ban phép xá giải cho hai phụ nữ tố giác nơi cha trú ẩn.

-Ông Lê Văn Phụng tại pháp trường nhắn nhủ con trai mình: “Con ơi! Hãy tha thứ, đừng báo thù kẻ tố giác ba nhé”. Và dặn dò thân hữu: “Hãy tha thứ, các bạn ơi! Hãy tha thứ, vì chính tôi đã tha thứ”.

-Linh mục Khoan và hai thầy Thành, Hiếu trước lúc bị xử chém đã giơ tay lên cùng cầu nguyện: “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời đất, chúng con hiến dâng mạng sống cho Ngài. Xin Ngài chúc phúc cho nhà vua được cai trị lâu dài trong an bình. Xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất đem lại cho con người hạnh phúc đích thực”.

Việc chiêm ngưỡng lòng bao dung thứ tha của các vị tử đạo cho phép chúng ta mường tượng ra khuôn mặt của các ngài: không một chút bất mãn tức tối, không một chút oán ghét hận thù; ánh mặt và nụ cười của các ngài toát lên nét dịu hiền thông cảm. Thế nhưng, còn hơn thế nữa, các ngài tràn trề hân hoan ngước nhìn về trời cao, vì trong thâm tâm, các ngài tin tưởng rằng: chết tử đạo là chết vinh quang, sẽ khai mở cho các ngài vào cuộc sống mới muôn đời bất diệt.

3. Niềm tin Phục Sinh

Linh mục Xuyên trong thời gian bị giam đã phổ biến cho các tín hữu bài vè lục bát sau:

“Ai ơi giữ lấy túi khôn,

Đầy tràn tin cậy, đầy lòng mến yêu.

Gươm đao đe dọa dẫu nhiều,

Quỷ ma cám dỗ sớm chiều đe loi.

Ai mà thắng được trên đời,

Mai sau hưởng phúc cõi Trời cao sang.”

Với các vị tử đạo, cái chết chính là cuộc thử thách cuối cùng mà họ đã sẵn sàng mong đợi. Thầy Mậu đại diện cho anh em nói với quan: “Thưa quan, chúng tôi mong ước về bên Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy”. Ông Án Khảm vui vẻ nói với mọi người: “Cha con chúng tôi hôm nay vào nước Thiên Đàng đây”. Linh mục Hạnh cũng tươi tỉnh đi chào mọi người: “Anh em ở lại nhé! Chúng tôi đi về Thiên Đàng đây”. Ông Cỏn thấy người anh em sụt sùi nước mắt, ông nói: “Sao anh lại khóc, lẽ ra phải mừng cho tôi chứ?”

Ngoài ra, trong các bức thư trao đổi với gia đình và bạn bè, các vị tử đạo không chào vĩnh biệt mọi người mà chỉ chào tạm biệt, hẹn ngày tái ngộ. Thầy Uyển trả lời thắc mắc kẻ dọa chém đầu mà thầy không sợ rằng: “Hãy chém đi! Đến ngày phán xét, tôi lại được cài đầu khác”. Linh mục Xuyên diễn tả nìềm tin này bằng câu: “Thưa quan, tôi chọn cái chết để được sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu rồi muôn đời bị tiêu diệt”.

Linh mục Lê Bảo Tịnh nói: “Thân xác tôi đây, các ông muốn làm gì thì làm, tôi sẵn lòng không óan than, nó chết đi nhưng mai này sẽ sống lại vinh quang”. Niềm tin sống lại của các chứng nhân ấy được bộc lộ khá rõ rệt, vì chính vua Minh Mạng cũng phải lo lắng bồn chồn trong vụ án linh mục Gagelin Kính. Chính vua ra lệnh canh mộ vị tử đạo ba ngày, sợ ngài sống lại, rồi còn cho đào lên xem hài cốt có còn đó chăng, sau mới cho chôn lại.

Hình ảnh tuyệt đẹp về niềm tin Phục Sinh của các vị tử đạo là câu chuyện linh mục Khoan và hai thầy Hiếu, Thành. Trong những ngày bị giam giữ, ba vị chia bè hát kinh tạ ơn TE DEUM bằng tiếng Latinh. Lời kinh Te Deum ấy nối kết các vị với Giáo Hội sơ khai, khi cuộc bách hại 300 năm chấm dứt. Lời kinh tràn trề tin tưởng và phó thác trong niêm tri ân Thiên Chúa. Lời kinh nối các vị với cộng đoàn các Thánh trên Thiên Quốc:

“Tâu Thượng Đế,

Này thần dân xin hát mừng trước bệ

Tuyên xưng Ngài là chúa tể càn khôn…

Suy tôn Chúa, bậc tông đồ hợp xướng,

Tán tụng Ngài bao thế hệ tiên tri.

Đoàn tử đạo quang huy hùng dũng,

Máu đào đổ ra minh chứng về Ngài…

Cúi lạy Chúa xin phù hộ bề tôi,

Ngài cứu chuộc bằng bửu huyết tuôn tràn.

Xin được hợp đoàn cùng muôn thần thánh

Phúc niên trường vui hưởng ánh vinh quang.”

Rồi ngay tại pháp trường, ba vị lại tiếp tục cầu nguyện bằng thanh ca. Như trong đêm Phục Sinh, cha Khoan hát ba lần lời ALLELUIA, mỗi lần với cung giọng cao hơn. Xen kẽ vào đó, hai thầy giảng cùng hát thay cộng đoàn theo cao độ của vị chủ sự: ALLAELUIA, ALLELUIA, ALLELUIA. Như vậy đó, các vị tử đạo đã diễn lại trong đời mình cuộc khổ nạn của Đức Kitô, nhưng là một Đức Kitô Phục Sinh. 117 hiến tế tình yêu cũng là 117 chứng từ niềm tin của những con người xác tín rằng: Chết vì Đức Kitô, chết đi là sống lại trong cụôc sống muôn đời.

Cuối cùng, bài học rút ra từ những cái chết của các vị tử đạo là bài học của SỰ SỐNG. Cái chết nguyên nó chẳng có giá trị gì hết, chính SỰ SỐNG mới làm nên muôn điều huyền diệu. Sự sống đó chính là tình yêu với con người chung quanh, tình yêu với những gì cao thượng và chân thật. Tình yêu đó bừng lên cách mãnh liệt trong mầu nhiệm tự hủy và hiến dâng. Bài học của các vị tử đạo không phải là khơi lên máu nóng tìm đến cái chềt, mà chính là sống hiến thân từng giây từng phút của đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Sự sống đó luôn kêu mời chúng ta: Mỗi ngày chết đi những yếu đuối tầm thường, để can đảm làm chứng và đấu tranh cho Chân Lý. SỰ SỐNG đó hứa hẹn với chúng ta một ngày sau rạng rỡ, ngày đoàn tụ với cha anh chúng ta trên cõi bất diệt.

              Hết