THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 10, 2016

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo

  • Áo trắng lòng son.

Biết ngày xử án sắp tới, cha Tự nhờ một giáo hữu mời linh mục Phương xứ Kẻ Roi đến giải tội. Từ hôm đó, cha tỏ ra vui vẻ khác thường, mong chờ ngày hạnh phúc. Sáng ngày 05.09, bản án về tới Bắc Ninh, cha và ông Trùm Giuse Cảnh bị điệu ra xử. Hai vị cười cười nói nói, tạm biệt các đồng bạn. Cha lấy tu phục ra mặc, cụ Cảnh cũng khoác tấm áo dòng ba. Thấy cha rạng rỡ trong bộ áo trắng, quan thắc mắc về ý nghĩa bộ áo, cha giải thích:

“Đây là áo dòng tu lớn trong Giáo Hội mà tôi được hân hạnh là phần tử. Mầu trắng tiêu biểu cho đức khiết tịnh mà tôi hết lòng gìn giữ. . .”

Rồi cầm lấy Tượng Chịu Nạn, cha nói tiếp:

“Đây là Chúa Cứu Thế, đã chịu đóng đinh vì tội thiên hạ. Xin quan cho phép tôi được mang áo dòng và cầm Thánh Giá này khi đi xử.”

Quan không nói gì cả, hiểu ngầm là đồng ý. Bấy giờ dân chúng hiếu kì chen lẫn nhau ùa đến xem, cha xin phép quan nói đôi lời. Thế là trong gần một giờ đồng hồ, cha giảng về Chúa Giêsu, về ơn cứu độ, về mọi người là anh em con cùng một cha trên Trời.

Trên đường ra pháp trường, lính xếp hàng đi hai bên, cha Tự và cụ Cảnh đi ở giữa, vừa đi vừa sốt sắng đọc kinh Cầu Các Thánh. Pháp trường là một ngọn đồi nhỏ, ở ngoài thành Kinh Bắc. Đến nơi, hai vị quỳ xuống hai chiếu đã trải sẵn. Theo tiếng trống lệnh, lý hình thi hành phận sự, chém rồi tung đầu hai vị lên cho mọi người trông thấy. Tức thì nhiều người, trong đạo cũng như ngoại đạo, xô nhau chạy vào để thấm máu các ngài. Một người về sau chuộc được ảnh Thánh Giá của cha, trao lại cho nhà dòng Đaminh. Trong hồ sơ phong thánh, người ta thuật lại nhiều ơn lạ Chúa đã thực hiện nhờ các di tích này.

Vị chứng nhân áo trắng đã về Trời với tấm lòng son ngày 05.09.1838. Thi hài cha được lệnh chôn ngay gần đó, giáo hữu đã phải bỏ tiền chuộc đưa về an táng tại họ Nghĩa Vũ, huyện Yên Dũng, cũng thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn cha Phêrô

Nguyễn Văn Tự, linh mục dòng Thuyết giáo lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

 

Ngày 05 tháng 09

Thánh Giuse HOÀNG LƯƠNG CẢNH

Trùm họ dòng Đaminh

(1763 – 1838)

 

Lời kinh thắp sáng cuộc đời.

Đã là Kitô hữu thì ai ai cũng từng thuộc và đọc một số kinh để cầu nguyện. Thế nhưng số người sống theo lời kinh mình đọc không phải là nhiều. Đối với cụ lang Giuse Cảnh thì lời kinh chính là hơi thở của cuộc đời mình. Lời kinh là nến sáng soi dẫn hành trình dương gian tiến về nước Chúa. Đọc truyện tử đạo của cụ, ta thấy rất rõ điều đó.

Giuse Hoàng Lương Cảnh sinh ra dưới thời Chúa trịnh Doanh năm 1763 tại làng Vân (hoặc Ngàn Vân), tỉnh Bắc Giang. Sống ở làng Thổ Hạ, huyện Yên Việt, ông được mọi người quý mến, nổi tiếng hiền lành và bác ái. Là một lang y, ông tận tụy với các bệnh nhân, thường chữa trị miễn phí cho người nghèo. Tuy không đi tu, nhưng trọn ngày sống của ông được dệt bằng kinh nguyện và các việc tông đồ. Ông đã rửa tôi nhiều người trong giờ hấp hối, đặc biệt cho trẻ em. Giáo dân Thổ Hà tín nhiệm và bầu ông làm Trùm họ. Từ đó, ông càng hăng say hơn với việc truyền giáo phục vụ cộng đoàn dân Chúa.

Đầu tháng 07.1838, đang khi quân lính vây bắt các giáo hữu làng Thổ Hà, có người mời ông đến chữa bệnh và rửa tội cho con họ. Dù biết nguy hiểm, ông Trùm vẫn tìm cách lén đi giúp đỡ, nhưng khi đến đó, quân lính phát giác ra, bắt ông đeo gông và giải về Bắc Ninh với cha Tự, thầy Úy, ba ông Trùm xứ khác và một số giáo dân.

  • Sức mạnh của lời kinh.

Ngày 12.07, quan đưa tất cả ra tòa và bắt họ bước qua Thánh Giá. Ba ông Trùm kia và một giáo dân nhát gan đã nghe lời để được tha về. Chỉ còn bẩy người tuyên xưng niềm tin là cha Tự, cụ lang Cảnh, hai thầy Úy và Mậu, cùng ba thanh niên Mới, Đệ, Vinh. Xét rằng cụ Giuse ở chức vị Trùm họ lại cao niên, nên có ảnh hưởng lớn đến giáo dân, quan kết án cụ như cha Tự, còn năm người kia chỉ bị án phát lưu.

Dù tuổi già sức yếu, cụ lang Cảnh vẫn giữ lòng trung kiên, vui lòng chấp nhận mọi hình khổ, không than van, không oán trách. Những lần quan bắt bước qua Thánh Giá cụ quỳ xuống hôn Tượng Chịu Nạn và thầm thì đọc kinh. Thấy thế, quan bảo cụ đọc to lên, cụ liền đọc lớn tiếng những lời kinh nguyện cầu thay cho những lời giải thích lý luận. Khi thì cụ đọc kinh Chúa Thánh Thần: “… Xin yên ủi chúng con, dậy dỗ chúng con làm những việc lành. .  .” khi thì đọc kinh Thánh Danh Giêsu: “Chúa Giêsu là đựờng nẻo thật, ai theo đường này thì sẽ sống mãi vui vẻ chẳng cùng. . .” Đặc biệt có lần cụ đọc một lời kinh làm cho các quan ngạc nhiên phá lên cười: “Cầu Chúa Giêsu cho các vua trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh. “ Họ hỏi tại sao cụ lại cầu cho kẻ hành hạ mình như thế. Cụ bình tĩnh trả lời cho các quan về giới luật yêu thương của đạo Chúa.

Một lần khác quan hỏi ý kiến về những kẻ bỏ đạo hoặc tố cáo các linh mục, cụ liền chậm rãi kể tích truyện Giuđa phản thầy vì 30 đồng bạc, rồi cụ thêm: “Thực ra lính cũng chẳng bắt được Chúa Giêsu, vì khi Chúa nói chính ta đây, toán lính Do Thái bị té xuống hết, chính Chúa đưa tay cho họ trói để hoàn tất việc chuộc tội thiên hạ, trong đó có cả các quan nữa đấy”.

  • Vinh phúc ngàn thu.

Quan tỉnh Bắc Ninh tội nghiệp người già yếu, nên tìm hết cách khuyên dụ cụ bỏ đạo về với con cháu. Nhưng cụ trả lời: “Xin quan cứ làm án cho tôi được chết với cha Tự của tôi, thì tôi mừng rỡ bội phần.” Ngày 05.09.1838, tỉnh Bắc Ninh nhận được bản án từ kinh đô ra. Thay vì án xử giảo như các quan đề nghị, bản án quyết định:

“Đạo trưởng Nguyễn Văn Tự và đạo mục Hoàng Lương Cảnh phải trảm quyết ngay tức khắc.”

Khi biết tin sắp bị xử tử, vị linh mục và cụ Trùm họ liền vui vẻ chào giã biệt các bạn tù. Viên cai ngục kêu riêng cụ Cảnh ra, có ý cho uống chén nước lã để lấy sức, cụ đáp: “Xin cám ơn, tôi chẳng thiết ăn uống chi nữa, chỉ mong theo cha tôi ra pháp trường thôi.” Thấy cha Tự mặc bộ tu phục tắng toát trên mình, cụ cũng khoác tấm áo dòng ba, như biểu hiệu nỗi lòng người con Cha Thánh Đaminh. Cụ nâng niu trên tay ảnh Chuộc Tội nhỏ mà trong hai tháng tù vừa qua mà cụ đã hôn kính cả ngàn lần, giờ đây là nguồn trợ lực quý giá của cụ trong cơn thử thách cuối cùng.

Đường ra pháp trường nô nức như ngày hội. Cha Tự vừa đi vừa thong thả xướng kinh Cầu Các Thánh, cụ lang Cảnh bước đi vất vả hơn vì yếu sức, nhưng vẫn đều đặn thưa đáp: “Cầu cho chúng tôi.” Hai vị như thấy lòng mình ấm lại vì như thấy toàn thể chư thánh đều hiện diện đâu đây như sẵn sàng đón mình về Trời cao. Đến nơi xử, vị chứng nhân đức tin và cha Tự quỳ xuống trên hai chiếc chiếu nhỏ. Lý hình theo lệnh trống thi hành phận sự, đưa cụ về hưởng Thánh Nhan Chúa muôn đời. Hôm đó là ngày 05.09.1838, cụ Trùm Cảnh đã quá thất tuần, 75 tuổi.

Thi hài cụ Giuse Cảnh được chôn táng dưới một ngọn đồi gần đấy. Sau giáo dân làng Thổ Hà rước về họ mình.

Ngày 27.05.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cụ Trùm Giuse Hoàng Lương Cảnh lên bậc Chân Phước của Giáo Hội.

 

Ngày 17 tháng 09

Thánh Emmanuel NGUYỄN VĂN TRIỆU

Linh mục (1756 – 1798)

 

  • Cho trọn đạo hiếu. . .

Là một linh mục địa phận Đông Đàng Ngoài, với biết bao bận rộn vì công tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên người mẹ già ở quê nhà. Năm 1798 giữa cơn bách hại gay gắt của vua Cảnh Thịnh, nhất là tại kinh đô, cha đã xin phép Bề trên về Phú Xuân thăm mẹ, và ở lại gần ba tháng để gầy dựng cho bà một mái nhà xinh xắn. Chính vì muốn trọn đạo hiếu với mẫu thân mà vị linh mục đã bị bắt.

  • Không phải Chúa Trịnh mà là Thiên Chúa.

Emmanuel  Nguyễn Văn Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, Phú Xuân (nay là Huế). Thân phụ cậu là ông Cai Lương, Nguyễn văn Lương, một võ quan Công Giáo phò Chúa Nguyễn đã bị tử trận trong một cuộc chiến với Tây Sơn, Sớm mồ côi cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc, gia nhập quân đội năm 1771 khi mới 15 tuổi. Năm 1774, anh cùng các bạn gia nhập quân đội của vua Lê Chúa Trịnh, chiếm được Phú Xuân. Đến khi Tây Sơn từ phía Nam đánh lên, trở thành chủ nhân ông mới của Phú Xuân, vệ binh Nguyễn Văn Triệu đành theo Trịnh Khải rút về Thăng Long (1786).

Tháng 6 năm đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến ra Bắc lấy cớ phò Lê diệt Trịnh. Trịnh Khải phải mổ bụng tự tử. Rồi vua Lê Cảnh Hưng băng hà, Lê Chiêu Thống lên ngôi, miền Bắc lại xẩy ra nội chiến giữa hai phe Trịnh Lệ và Trịnh Bồng. Chính bối cảnh nhiễu nhương thay ngôi đổi chúa đó đã làm cho anh vệ binh Triệu phải suy nghĩ và đi đến quyết định dứt khoát cho cuộc đời mình.

Ba mươi tuổi đời, mười lăm năm binh nghiệp với biết bao thăng trầm, Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng sự Vua trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực hơn. Mới đầu anh được một linh mục dòng Tên ở Hà Nội hướng dẫn, nhưng sau anh được Đức cha Obelar Khâm địa phận Đông Đàng Ngoài nhận vào học tại trường thần học Trung Linh. Và năm 1793, Đức cha Alonsô Phê truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37 tuổi.

Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm trong đời sống quân ngũ, và nhất là nhờ ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở thành mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sáu năm phục vụ trong địa phận Đông, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên quí mến.

  • Đường lao vào tù.

Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792-1802) tình hình trong nước ngày càng phức tạp. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh, hùng cứ ở Gia Định, hàng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế. Hỗ trợ cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do Đức cha Bá Đa Lộc chiêu mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi Đức cha Lambertette Bình (giám mục Đàng Trong) ở Phú Xuân, nhà vua càng nghi ngờ đạo Công Giáo tiếp tay cho giặc.

Một quan văn có đạo, quan Thượng Hồ Cung Điều nhiều lần thanh minh trước mặt nhà vua rằng: “Đạo dậy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải đạo dậy làm giặc đâu.” Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan nội hầu tên Lợi, cứ gièm pha mãi, nên cuối cùng, tháng 08.1798, một chiếu chỉ cấm đạo được ban hành. Trước đó ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên trở về khu Thợ Đúc, Phú Xuân (Huế). Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa cách, hai mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc của mẹ đã bạc phơ, còn con nay đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Cha Triệu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân mình phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác. Cha quyết định ở lại, cùng với bà con lối xóm, dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Thời gian này, cha Triệu nhân thế cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được các tín hữu ở đây thương mến nhiều.

Ngày 07.08.1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, bốn cơ binh (mỗi cơ 50 quân) bất thần bao vây bốn giáo xứ vùng kinh đô. Tại xứ Thợ Đúc, quan quân có ý tìm cha chính xứ, cha Nhơn, nhưng nhờ quan Thượng Điều đã báo tin, nên ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, nên quan không biết, quan quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha Triệu và tra hỏi về các linh mục. Cha Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là người mà họ lùng bắt. Quân lính liền trói tay cha lại dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha Triệu dừng lại nói ít câu từ giã: “Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Ngài. Xin mẹ đừng khóc nữa. Mẹ hãy vui lòng vâng theo ý Chúa.”

  • Vượt qua gian khổ.

Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, chịu ba trận đòn dữ dội. Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quán ở Phú Xuân, vì hoàn cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong đạo và làm linh mục. Quan hỏi: “Thầy có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài?” Cha đáp: “Tôi không lấy vợ, vì là linh mục nên tôi sống độc thân.”

Ngày 17.08 các quan định kết án voi giầy nhưng một viên quan không đồng ý nên vụ án được trì hoãn.

Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất, là được một linh mục cải trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến thăm. Cha an ủi bà và xin bà cầu nguyện cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ rảnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.

  • Giờ phút vinh quang.

Ngày xử được ấn định là 17.09.1798. Sáng hôm đó, các quan hỏi cha lần cuối: “Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng về quê quán sinh sống không? Nếu thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho.” Cha Triệu khẳng khái trả lời: “Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chớ không bỏ việc giảng đạo.” Thế là đến 10 giờ sáng cha Triệu bị điệu ra pháp trường cùng với sáu tên trộm cướp cũng bị tử hình hôm đó. Cha bước đi bình tĩnh, trang nghiêm như một chiến sĩ thận trọng trước giờ lâm chiến. Các tín hữu nghe tin lũ lượt đi phía sau. Đằng trước cha, một người lính cầm thẻ bài đọc ghi bản án:

“Tên Triệu, con nhà Nguyễn văn Lương, chuyên giảng đạo Hoa Lang, quyến rũ dân chúng theo đạo đáng ghê tởm ấy. Vậy y phải trảm quyết.”

Tại Bãi Dâu, nơi thi hành bản án, cha Triệu quỳ xuống cầu nguyện. Theo thói lệ, quan phát cho mỗi tử tội một quan tiền để ăn uống trước khi chết.

Cha từ chối, quan liền nói: “Của vua ban không được coi thường.” Cha trả lời: “Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gửi cho người nghèo.” Một người lính thấy thế liền tát vào mặt ngài một cái. Viên quan nổi giận và mắng anh ta: “Chưa đến giờ xử mà mi dám ngạo ngược như thế sao?” Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói: “Khi nào đến giờ, tôi sẽ nói cho thầy.” Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.

Đúng giờ (12 giờ trưa), viên quan nói với vị linh mục: “Giờ đã đến rồi”. Cha Triệu quỳ lên giơ cổ cho lý hình chém.

Thi hài vị tử đạo được các tín hữu an táng tại họ Dương Sơn, sau được cải vào nhà thờ Dương Sơn.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27.05.1900.

 

Ngày 18 tháng 09

Thánh Đaminh TRẠCH

Linh mục dòng Đaminh

(1793 – 1840)

 

  • Chứng nhân sự sống bất diệt.

“Thưa quan, nếu quan muốn được sự sống bất diệt, xin quan kính lạy Thánh Giá này.”

Vị anh hùng Kitô giáo khi bị ép buộc bước qua Thập Giá, đã bình tĩnh hiên ngang giảng về Thập Giá cho chính viên quan đó là thánh Đaminh Trạch.

Chào đời năm 1793 tại họ Ngoại Vối, tỉnh Nam Định (xứ Ngoại Bồi), Đaminh Trạch vào ở với cha xứ từ bé. Trong thời gian vua Gia Long, cậu có hoàn cảnh được học đầy đủ chương trình ở chủng viện và thụ phong linh mục năm 30 tuổi. Năm sau cha xin vào dòng Đaminh và tuyên khấn ngày 03.06.1825.

  • Không sợ cũng chẳng hối tiếc.

Những người làm chứng trong hồ sơ phong thánh ca tụng cha Trạch sống nghiêm ngặt và hết lòng tuân giữ kỷ luật dòng. Tuy mang trong mình chứng bệnh lao phổi nan y, cha vẫn giữ đủ luật ăn chay hãm mình và chu toàn mọi công tác. Cha coi xứ Quần Cống, rồi về Lục Thủy để dưỡng bệnh và kiêm nhiệm việc linh hướng cho các chủng sinh. Năm 1839, cha bị bắt ở Ngọc Cục, nhưng dân làng bỏ ra 200 quan để chuộc cha về. Từ đó, cha ở nhà ông lang Thiện và ông Trùm Bảo ở Trà Lũ.

Ngày 11.4.1840, khi lên thăm hai linh mục Vinh và Thản ở Ngưỡng Nhân, cha bị quân lính phát hiện. Do tình trạng bệnh hoạn, sức yếu chân chậm, cha không kịp chạy trốn trên đường về Tử Liêu, cha bị bắt và giải về phủ Xuân Trừơng. Sau một thời gian bị giam và bị tra hỏi ở đây, cha Trạch được chuyển qua ngục thất tỉnh Nam Định.

Sự hiện diện của cha trong ngục là niềm vui và khích lệ cho nhiều Kitô hữu, cả những phạm nhân khác đang bị giam ở đó. Mặc dù sức đã kiệt, cha Trạch vẫn cố gắng an ủi khuyên nhủ các giáo hữu và giải tội cho họ, đặc biệt cha đã giúp thầy Tôma Toán, sau khi đạp lên Thánh Giá lần thứ hai thống hối trở về với Chúa và can đảm chịu tử đạo. Cha kêu mời anh em cùng cầu nguyện, nhất là đọc kinh Mân Côi. Khuôn mặt cha lúc nào cũng vui vẻ, cha thường nói:

“Tuy tôi thể lực yếu đuối, nhưng đã vì đạo mà bị bắt, tôi chẳng sợ gì, cũng chẳng hối tiếc chi”.

Ra  tòa  lần  nào  cha  cũng  bi vặn  hỏi về linh mục Hermosilla Vọng dòng Đaminh, vị thừa sai Tây Ban Nha mà quan tưởng là người cuối cùng chưa bị bắt. Quan còn hứa trả tự do nếu cha bước qua Thập Giá và đe dọa: ”Hãy nhìn cây Thập Giá kia, một là bước qua, hai là chết”. Cha Đaminh Trạch không trả lời ngay, tự động quỳ xuống hôn kính Thánh Giá rồi quay về phía quan và nói: ”Thưa quan, Thánh Giá là giường Chúa Kitô nằm chết thay cho nhân loại, nếu quan muốn sự sống đời đời, xin quan kính lạy Thánh Giá này. Tôi thà bị chết chớ không bước quan Thánh Giá”.

  • Cứ để tôi đi trước.

Nghe vậy quan tổng đốc nổi giận tát vào nhà thuyết giáo, rồi đấm đá túi bụi. Quan bắt lính cầm hai đầu gông khiêng qua Thánh Giá, nhưng cha co chân lên mặc cho chúng đánh đập tàn nhẫn. Vừa mỏi mệt thất vọng, vừa phẫn nộ điên cuồng, các quan đồng thanh kết án xử cha. Ngày 18.9.1840, bản án được vua Minh Mạng châu phê ra tới Nam Định và được thi hành ngay tức khắc. Quan cho một cơ hội ân xá cuối cùng nếu bước qua Thánh Giá, nhưng cha từ chối.

Khi sắp rời ngục đi xử, cha tạm biệt các cha Ngân, Nghi, Thịnh, thuộc Địa Phận Tây Đàng Ngoài cùng bị giam tại đó. Như một người xác tín mình sắp được vào Thiên Quốc vỉnh cửu, cha nói: ”Các cha ở lại để tôi di trước”. Dân chúng hiếu kỳ theo ngài ra pháp trường đông như xem hội. Đến nơi xử, lính tháo gông cho cha. Sau đôi phút cầu nguyện, cha Trạch đưa đầu lãnh nhát gươm tử đạo tiến về Nước Hằng Sống. Thi thể ngài được an táng tại chỗ, năm sau các tín hữu cải về nhà chung ở Lục Thủy.

Ngày 27.5.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn linh mục dòng Thuyết  giáo, cha Đaminh Trạch, lên bậc Chân Phước.

 

Ngày 20 tháng 09

Thánh Gioan Charles CORNAY TÂN Linh mục Thừa Sai Paris

(1809 – 1837)

 

  • Thanh gươm sẽ xức dầu cho con.

Lạy Chúa! Xin nhận lời con thống hối thay cho việc xưng tội, và máu con đổ ra thay cho bí tích xức dầu. Lương tâm con không vướng mắc trọng tội nào, nhưng không vì thế, con coi minh là công chính. Xin Đức Maria chứng giám cho việc thống hối, và thanh gươm sẽ xức dầu cho con.”

Đó là lời cầu nguyện và lời chia sẻ chân thành của linh mục Gioan Tân trong ngày bị xử tử. Trứơc mặt cha giờ đây, một Thiên Chúa công bằng xét định tội phúc, cũng là một Thiên Chúa yêu thương khoan hồng tất cả, khi con người dám dâng trọn vẹn vì tình yêu Ngài.

  • Xin chọn nơi này làm quê hương.

Gioan Cornay sinh ngày 28.02.1809 tại

Loudun, nước Pháp, trong một gia đình giầu có. Thời niên thiếu, ngoài việc học hành, cậu chỉ vui chơi với chúng bạn. Hết bậc trung học, được Chúa kêu gọi, cậu xin vào chủng viện Saumur, Mont Morillon, và sau vào đại chủng viện Thừa Sai Paris năm 1830. Năm sau thầy lãnh chức phó tế, và xuống tầu đi giảng đạo ở Viễn Đông. Khi đến Macao, bề trên phái thầy đến tỉnh Tứ Xuyên, Trung Hoa, nhưng vì khi đó đường vào Quảng Đông bị cấm ngắt, thầy phải đến Việt Nam, có ý đi bộ theo lối Vân Nam cho an toàn hơn.

Đến Việt Nam thầy lấy tên là Tân và ở xứ An Tôn chờ đợi. Chẳng may hai giáo hữu Trung Hoa qua đất Việt Nam để đón thầy, khi đến Hà Nội lại mắc bệnh dịch tả và qua đời, nên thầy Tân liền xuống địa phận Nam, được Đức cha Havard Du truyền chức linh mục ngày 20.04.1834. Sau đó cha ngược lên Son Tây phục vụ ở địa phận Tây Đang Ngoài. Đường đi Trung Hoa vẫn con trắc trở, nên năm 1836, cha chính thức xin ở lại Việt Nam, và được gửi đến xứ Bầu Nọ giúp thừa sai Marette. Hỗ trợ cho cha có hai thầy Phaolô Mỹ và Phêrô Đường, sau cũng bị bắt một ngày với cha.

Với cha Tân, Việt Nam là quê hương thứ hai mà cha rất thân thương. Khi mang bệnh nặng, nhiều người đã khuyên cha về Pháp chữa trị, cha nói rằng: “Được Chúa sai đến đây, tôi sẽ không chịu bỏ về, dù phải chết đi nữa.” Và sau này cha đã tioại nguyện.

  • Tình ngay lý gian.

Ở làng Bầu Nọ có một người tên Đức chỉ huy một băng cướp, đã bị các tín hữu bắt nộp cho quan. Để trả thù, anh ta tố cáo dân làng Bầu Nọ che giấu linh mục Âu Châu. Khi ấy, quan trấn Sơn Tây Lê Văn Đức cũng chẳng tha thiết với lệnh bách hại đạo cho lắm, nên cũng lờ đi. Anh liền tố cáo cha Tân xúi dân nổi loạn, y dặn vợ là Yến giả xin học đạo để biết chỗ cha ở, rồi lén đến chôn vũ khí trước khi báo cho quan. Lần này y thành công. Quan nghe tin có nổi loạn, liền đưa đại quân gồm 1.500 lính đến bao vây làng Bầu Nọ ngày 20.06.1837.

Mới đầu viên lý trưởng Bầu Nọ cũng là người Công Giáo, đã tìm cách che chở cho cha Tân, nhưng khi quan đưa ông tới chỗ giấu gươm giáo và đánh đòn điều tra, ông liền tiết lộ chỗ của vị thừa sai. Lúc ấy cha Tân đang núp trong bụi rậm, thấy gươm giáo của lính đâm ngay bên mình, biết là không thóat khỏi, cha đứng dậy bứơc ra trình diện. Quan liền sai lính đóng gông nhốt vào cũi giải về Sơn Tây.

Cha kể lại trong một lá thư rằng: “Thứ năm ngày 22.06 đoàn áp tải khởi hành từ sớm. Suốt con đường, tôi cầu nguyện, nói chuyện và ca hát không ngừng. Dân chúng tụ tập và khen tôi vui vẻ quá.” Tiếng hát của cha khá độc đáo và kích thích sự tò mò của nhiều người. Mấy ngày liền, quan bắt cha phải hát, rồi mới cho ăn. Cha liền chọn một khúc thánh ca chúc tụng Đức Mẹ để hát . . .Từ đấy cha bị nhốt tù gần ba tháng.

Nhận được tin, vua Minh Mạng ủy quyền cho các quan tỉnh xử án. Các quan cho điệu cha ra tòa, ép cha nhận tội phiến loạn. Cha trả lời:

“Thưa quan, chúng tôi chỉ chuyên giảng đạo dậy người ta làm lành lánh dữ, dậy con cái thảo kính cha mẹ, dậy dân vâng phục vua quan. Tôi đâu thể đi ngược lại giáo huấn của mình mà chống đối nhà vua được.”

Ngày 11.08, cha bị 50 roi kép bện bằng nhiều sợi dây, đâu mỗi sợi có một miếng chì, khiến thân thể cha bị rách da nát thịt, máu tuôn thấm cả y phục. thế nhưng cha không một lời kêu trách, đứng lên cha lại tiếp tục hát thánh ca. Tám ngày sau, quan bắt cha đạp lên Thánh Giá, cha ôm Thánh Giá lên hôn một cách cung kính. Lính đánh cha nát ba cây roi mây trứơc khi trả cha về ngục. Lần khác, khi ép nhận tội làm loạn, cha khẳng khái tuyên bố:

“Không, tôi thà chịu đủ mọi cực hình, hơn là nhận tội tôi không phạm đó. Được sống đấy, nhưng phải mang tiếng xấu suốt đời.”

  • Chết vẫn còn ca hát.

Cuối cùng các quan kết án cha phải chém đầu, nhưng khi gửi vào Huế, vua Minh Mạng sửa thành án lăng trì. Nhận được tin do cha Jaccard Phan báo, cha Tân viết thư cảm ơn và gửi lời vĩnh biệt mọi người. Cha viết thư về cho gia đình:

“Cha mẹ yêu quí, đừng buồn về cái chết của con. Đó không phải là ngày than khóc, mà là ngày vui mừng. Xin hãy nghĩ sau những đau khổ ngắn ngủi con chịu thì con sẽ luôn nhớ đến cha mẹ trên Trời cao. Xin nhận nơi đây tấm lòng thảo hiếu của con. Cornay.”

Ngày 20.09.1837, cha bị đưa ra pháp trường Năm Mẫu ngoài thành Sơn Tây. Ngồi trong cũi giữa đoàn lính tráng đông đảo, cha vẫn vui vẻ tươi cười đọc kinh và hát thánh ca. Đến nơi xử cha xin phép cầu nguyện một lát, rồi tự cởi áo và nằm trên thảm trải sẵn. Lý hình đóng bốn cọc bốn phía, trói chân tay ngài vào đó.

Theo luật xử án lăng trì, lẽ ra phải chặt chân tay trứơc, nhưng viên quan đã tỏ ra nhân đạo hơn, cho chém đầu cha trứơc, rồi mới đến tay chân. Cuối cùng phân xử thân mình cha làm bốn khúc. Toán lý hình thấy lòng can đảm của tử tội thì mơ ứơc hão huyền: Họ muốn gan của vị thừa sai rồi ăn sống, có kẻ liếm máu còn đọng lại trên gươm đã chém đầu cha, họ hy vọng nhờ đó họ thêm can đảm.

Được phép quan, tín hữu xứ Bạch Lộc đến chôn cất thi thể vị tử đạo tại chỗ. Hai tháng sau đem về an táng tại Chiêu Ưng.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Gioan Cornay Tân lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

 

Ngày 21 tháng 09

Thánh Phanxicô JACCARD PHAN (NINH)

Linh mục Thừa Sai Paris

(1799 – 1838)

 

  • Một cuộc sống bi hùng.

Nếu so sánh những cuộc tử đạo như những vở bi hùng kịch thì cuộc tử đạo của thánh Phanxicô Jaccard Phan là một trong những bi hùng kịch hùng tráng nhất: mười năm tù khi rộng khi ngặt, với 20 tháng lưu đầy gian khổ và ba bản án tử hình. Giữa những khổ ái đó, nổi bật lên chân dung một người hùng quả cảm. Ngài đã chiến thắng được đói khát và sốt rét, đã trung thành tuyệt đối với chân lý của Tin Mừng là tha thứ và phục vụ kẻ làm hại mình. Gan lì trứơc nghịch cảnh, từ chối mọi tiện nghi, như nhận xét của Đức cha Cúenot Thể: “Con người không còn gì để mất đó, đã luôn tiến về phía trứơc để chinh phục tha nhân.”

  • Chí khí chàng nông dân.

Chào đời ngày 06.09.1799 tại Onion thuộc miền Savoie nhứơc Pháp, trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng đạo đức, cậu Phanxicô Jaccard thuở nhỏ ham chơi hơn ham học. Còn gì lý thú cho bằng chạy nhảy giữ cánh đồng xanh tươi bát ngát. Khi được cha mẹ gửi vào chủng viện Mélan, cậu Jaccard luôn là học sinh “đội sổ” nên đâm ra chán nản và trốn về gia đình. Nhưng sau, nhờ bạn bè và thân nhân khích lệ, đằng khác vì ứơc muốn làm linh mục, cậu xin trở lại chủng viện, cậu hứa với mọi người sẽ cố gắng tới cùng.

Quả thực Jaccard đã giữ lời hứa. Với sự chuyên cần và nỗ lực, anh hoàn thành chương trình chủng viện Mélan, rồi được lên đại chủng viện địa phận Chambery năm 1819. Hai năm sau, thầy Jaccard xin gia nhập Hội Thừa Sai Paris, và thụ phong linh mục ngày 15.03.1823. Liền đó, cha Jaccard được đề cử vào chức vụ giám đốc đại chủng vệin. Nhưng cha thẳng thắn trình bầy với các Bề trên: “Con tình nguyện vào đây để truyền giáo phương xa, chớ không phải ở thánh phố Paris này.”

Thế là ngày 10.07.1823, cha Jaccard xuống tầu tại cảng Bordeux giã từ quê hương yêu dấu. Ngày 25.11.1824 tầu của cha cập bến Macao, nhưng mãi tháng 02. 1826, vị thừa sai mới đến được địa phận Đàng Trong. Sau một thời gian học tiếng Việt ở chủng viện An Ninh, cha lấy tên là Phan, hoạt động tại Nhu Lý, Phủ Cam, rồi làm giám đốc chủng viện An Ninh (Quảng Trị).

  • Tinh thần phục vụ hết mình.

Tháng 06.1827, vua Minh Mạng tập trung về Huế ba vị thừa sai Tabert Từ, Gagelin Kính và Odorico Phương, viện cớ cần người thông dịch và dịch sách. Ba tháng đầu, ba cha được đối xử tử tế, có thể làm việc mục vụ cho giáo hữu Huế, nhưng các ngài như bị giam lỏng tại Cung Quán, lúc nào cũng có linh gác, đi đâu thì có ba linh đi kèm. Đến cúôi năm, nhờ có tả quân Lê văn Duyệt can thiệp với vua, ba vị thừa sai mới được thả về. Còn riêng cha Phan, tháng 07.1828, quân lính mang trát son, cáng điều đến triệu cha về kinh đô. Ngài ở Cung Quán dịch các tài liệu tiếng Pháp ra tiếng Việt. Thấy ở Cung Quán như bị “Bó tay buộc chân” không làm việc tông đồ được, cha Phan liền xin vua đến ở họ Dương Sơn cách kinh thành 15 cây số, để vừa giúp các tín hữu vừa dịch các sách cho hoàng cung. Giai đọan này cha đã dịch các sách về Napoléon, về việc chinh phục của Anh ở Ấn Độ, về lịch sử Âu Mỹ, và dậy tiếng Pháp cho nhiều ngửời vua gửi tới. Vua muốn ban chức lộc triều đình, nhưng cha từ chối không nhận.

Được vua Minh Mạng sắp mừng lễ Tứ Tuần, cha xin phép đứng ra tổ chức tám ngày liên tiếp, cầu nguyện cho Hoàng Đế bằng những nghi thức long trọng. Ngoài các tín hữu, số lương dân đến tham dự đông đảo như ngày hội. Nhiều người nhân dịp này thêm quý mến đạo, trong đó có một số quan đại tầhn và bà chị cả của Đức Vua.

  • Người lính của vua Minh Mạng.

Tháng 09.1831, làng Dương Sơn giao cho cha Phan phụ trách bị dân làng Cô Lão gây chuyện và tố cáo về chuyện chiếm đất. Đến sau vì không có bằng cớ, họ đồi qua tố cáo về việc theo đạo. Lập

Còn Tiếp

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.