THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH  TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 10, 2017

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo

Ngày 21 tháng 12

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN THI

Linh mục (1763 – 1839)

  • Lý hình cõng tử tội.

Trên đường ra pháp trừơng, từ nhà ngục Hà Nội đến ô Cầu Giấy, ngừơi tử tội ốm yếu bệnh tật với tuổi già 76, bước đi chẳng nổi nữa. Ông bứơc đi lảo đảo rồi ngã quỵ xúông đừơng. Trứơc tình cảnh tang thương đó, một ngừơi lính đòan hành quyết khom lưng cõng tử tội đến pháp trừơng. Tử tội đó là linh mục Phêrô Trương Văn Thi.

  • Người mục tử hiền hòa nghèo khó.

Phêrô Trương Văn Thi mở mắt chào đời năm 1763 tại làng Kẻ Sở, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Năm 11 tuổi, cậu đựơc nhận vào nhà Đức Chúa Trời đẻ tu học, tập tành các nhân đức, rồi trở thành thầy giảng. Trong chức vụ này, thầy Thi luôn chứng tỏ nhiệt tâm tông đồ, đời sống đạo đức, và khả năng đời đạo, nên đựơc gửi vào đại chủng viện. Đến ngày 22.03.1806, thầy lãnh chức linh mục khi tuổi đã 43.

Trong 27 năm liền, cha Thi coi sóc xứ Sông Chảy thuộc phủ Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Năm 1833, ngài được bổ nhiệm chánh xứ Kẻ Sông, và ở đó cho đến khi tử đạo năm 1839. Theo lời chứng của các tín hữu tại đây, cha Thi là một linh mục: “Rất nhân đức, mỗi ngày đọc kinh nguyện lâu giờ ba bốn lần, cử hành thánh lễ trang nghiêm, ăn uống đạm bạc, thường ăn chay các thứ sáu, mặc dù sức khỏe của ngài yếu kém với chứng đau bụng thừơng xuyên”.

Thừa sai Jeantet Khiêm sau làm Giám mục Tây Đàng Ngoài đã viết về cha Thi: “Tôi quen biết ngài từ năm 1835, tôi cảm phục ngài về lòng đạo đức thâm sâu, có tính hiền hòa, khôn ngoan và trung thành giữ lề luật”. Cha sống khó nghèo, ngoài áo chùng thâm, cha chỉ mặc đồ nâu như một nông dân nghèo nàn. Ngoài giáo xứ chính, cha còn phụ trách nhiều họ lẻ. Một lần di chuyển trên sông, thuyền của cha bị đắm, ngừơi tháp tùng cha chết đuối, còn cha sống sót đựơc nhờ bám vào hòm đựng đồ lễ.

Suốt mấy chục năm phục vụ giáo xứ, không hề thấy một ai kêu ca, chê trách cha lời nào.

Do chiếu chỉ cấm đạo tòan quốc của vua Minh Mạng, cha Thi luôn hoạt động âm thầm. Đựơc một thời gian khá lâu, bất ngờ vào ngày 10.10.1839, khi cha Dũng Lạc ở làng kế cận tìm đến xưng tội, viên Lý trưởng tên Pháp hay tin, đưa ngừơi đến bắt cả hai linh mục. Lý Pháp mặc cả giá tiền chuộc với các tín hữu, và ngả giá là 200 quan. Khi các tín hữu mới gom góp đựơc một nửa số tiền, ông chỉ tha một mình cha Dũng Lạc. Ai ngờ trên đừơng về, cha Dũng Lạc lại bị một tóm lính khác bắt đựơc. Thế là Lý Pháp không dám cho chuộc cha Thi nữa, và cho áp giải ngài về Bình Lục. Giữa đừơng, ông gặp đám lính đang áp giải cha Dũng Lạc, liền nộp cha Thi cho quan huyện. Từ đó hai vị cùng chung số phận tù ngục và cùng chung hưởng phúc vinh quang.

  • Ông “quan bên đạo” dưới măt ông quan bên đời.

Quan huyện Bình Lục tỏ ra rất vị nể hai linh mục. Riêng với cha Thi quan ái ngại cho tuổi già sức yếu, nên cư xử càng lịch thiệp hơn. Ông nói: “Tôi làm quan bên đời, còn ông làm quan bên đạo.” Dĩ nhiên, ông đã hiểu sai về chức năng phục vụ của ngừơi linh mục, nhưng dầu sao, đó cũng là bằng chứng của sự kính nể. Biết không thể lay chuyển lòng tin của hai vị, quan không tra tấn gì cả, chỉ giữ lại ba ngày rồi cho giải về Hà Nội. Như Philatô rửa tay trong vụ án Đức Giêsu, viên quan huyện sau đó cũng mở lễ cúng vái các thần, thanh minh với mọi ngừơi, và xin trời đất chứng giám cho mình vô can trong cái chết của những kẻ vô tội.

Khi hai cha đựơc đưa lên Hà Nội bằng thuyền theo đường sông Hồng, các tín hữu kéo nhau đi theo rất đông, kẻ đi thuyền, ngừơi đi bộ trên bờ đê.

Ngày 16.10, thuyền áp giải hai cha đã cập bến. Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đừơng và bắt đạp lên Thánh Giá. Cha Thi quỳ xúông, nghiêm trang hôn kính dấu chỉ Đấng Cứu Độ. Sau nhiều lần hạch hỏi, quan thấy không có cách nào khuất phục đựơc hai vị linh mục, liền làm bản án tâu vua xin trảm quyết.

Trong khi chờ đợi vua phê án, cha Thi biết trước số phận của mình, và chuẩn bị đón nhận hồng phúc tử đạo của mình. Cha ăn chay các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bẩy. Bệnh tật, gông cùm (dù cha chỉ phải mang gông nhẹ) và chay tịnh làm sức khỏe của cha càng sa sút. Thừa sai Jeantet Khiêm viêt thư vào đề nghị cha giảm bớt khổ chế đi nhưng cha vẫn không thay đổi.

  • Tình yêu không biên giới.

Ngày 21.12.1839, lần thứ hai khi cha Trân đưa Mình Thánh vào, cha Thi đã liệt giường, phải nhờ cha Dũng Lạc ra nhận và trao Thánh Thể. Không ngờ chính hôm đó lại là ngày cúôi cùng cuộc đời dương thế của các ngài, bản án vua châu phê đã vào tơi. Quân lính dẫn hia cha ra pháp trường. Trên đường, cha Thi không còn sức bứơc đi nữa, nên một ngừơi lính đã đóng vai “Simon”, cõng cha đến nơi thụ án.

Quảng đừơng cuối cùng của cha Thi: Đôi giầy, kỷ vật tặng cho ngừơi lính, hình ảnh một “Simon Xirênê” Việt Nam cĩng tử tội ra pháp trường . .. Làm sao diễn tả hết ý nghĩa của những điều đó đủ xoa dịu những đố kỵ còn sót lại cho đến ngày nay? Và phải chăng hình ảnh đó cho phép ước mơ một xã hội, tương lai sán lạn hơn, khi mọi ngừơi dân vượt qua mọi trở ngại để đối xử với nhau bằng trái tim yêu thương?

Giáo hữu thấm máu vị tử đạo, thâu lượm các di vật, rồi đưa thi hài các ngài về Kẻ Sở dâng lễ và an táng cách trọng thể.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Phêrô Trương Văn Thi lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Thừa sai Jeantet Khiêm nhận định về cuộc tử đạo của cha Phêrô Thi như sau: “Ân sủng đã toàn thắng sự yếu đuối của con ngừơi. Nhờ ân sủng, con ngừơi bẩm sinh vốn hiền lành này đã có đựơc sức mạnh trứơc đây chưa từng có”.

Ngày 21 tháng 12

Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG LẠC

Linh mục

(1795 – 1839)

  • Theo gương thánh Phêrô . . .

Quo vadis, Domine?

Lạy Thầy, Thầy đi đâu vậy?

Trên đừơng chạy trốn cơn bách hại khủng khiếp của bạo chúa Néron đang giáng xúông kinh thành Rôma, vị tông đồ trưởng Phêrô đã bàng hoàng thốt lên câu hỏi trên khi bất ngờ gặp Chúa Giêsu vác Thập Giá đi ngược chiều với mình.

Sau đó là khoảng khắc im lặng . . Sự im lặng tưởng chừng như đến muôn đời sẽ không bao giờ có giây phút nào im lặng như thế. Phêrô như đọc thấy câu trả lời trong ánh mắt của Đức Kitô, có một chút gì giống ánh mắt Ngài đã nhìn mình sau ba lần chối Chúa. Và trong bầu khí thinh lặng đó, chợt vọng tới tai ông giọng nói buồn bã nhưng ngọt ngào:

“Khi anh rời bỏ dân ta. Ta phải đến Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa”. Phêrô lặng ngừơi đi và chợt hiểu . ..

Vị sứ đồ đã ra đi để xa lánh cơn điên cuồng của một bạo chúa, vì những lời nài nỉ chí tình chí thiết của đòan tín hữu. Họ coi ngài là sức mạnh, là hơi thở, là chỗ dựa. Cần phải sống để tiếp tục mưu ích cho đòan chiên. Giờ đây, Phêrô đựơc ôn lại bài học vĩ đại nhất  của vị Tôn sư Giêsu, ngừơi thợ mộc làng Nazarét đã chết gục vào tuổi 33 trên Thập Giá để cứu chụôc nhân loại.

Thế là trong cái khoảng khắc kỳ diệu đó, thánh Phêrô chợt nhớ ra. Để rồi thay vì những bứơc chân rời rã, do dự chạy trốn thì giờ đây ngài bứơc một cách mạnh mẽ, dứt khoát quay lại . .. để có thể trở nên giống Thầy mình. Từ đó, trên tảng đá Phêrô, Rôma trở nên kinh thành muôn thuở. Đâu có ai thời đó nghĩ ra như thế. Vâng, đâu có ai thời đó đã hiểu đựơc điều ấy.

Sau lần bị bắt thứ ba, cha Anrê Dũng Lạc như cảm nhận đựơc bài học của thánh Phêrô xưa. Ý nghĩ con ngừơi không hẳn đã phù hợp với ý Chúa. Ngài xin tín hữu đừng chụôc ngài nữa, ngài đã chấp nhận hy sinh chính bản thân để trở nên một ngọn đèn, góp lửa với nhiều ngọn đèn khác làm chứng cho Chúa trên quê hương yêu dấu này.

  • Ba lần bị bắt.

Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. Tại đây vì nhà nghèo, cậu đựơc gán cho một thầy giảng nuôi nấng dậy dỗ và rửa tội lấy tên Thánh là Anrê. Ít lâu sau, cậu Dũng xin vào chủng vịên Vĩnh Trị, ở với cha chính Lan. Ngay từ đó, cậu Dũng lại siêng năng cần mẫn, có khiếu về thơ phú và giao tiếp với mọi ngừơi cách lịch thiệp hòa nhã. Có ngừơi nói rằng cậu chỉ đọc qua một đọan sách hai lần là đã thuộc lòng.

Sau 10 năm làm thầy giảng và ba năm thần học, ngày 15.03.1823, thầy Dũng đựơc lãnh chức linh mục (cùng với thánh Ngân và Nghi), rồi đựơc bổ nhiệm làm phó xứ Đồng Chuối giúp cha Khiết. Sau đó về giúp cha Thi ba năm ở xứ Đoài, rồi lại giúp cha Thuyết ở Sơn Miêng. Cuối cùng, khi cha làm chánh xứ Kẻ Đầm thì bị bắt. Suốt cuộc đời linh mục, cha Dũng sống nhiệm nhặt. Ngoài những ngày ăn chay theo luật của Giáo Hội, cha còn giữ chay súôt Mùa Chay, và nhiều khi cả các thứ sáu, thứ bẩy quanh năm. Thừơng xuyên cha chỉ dùng những thức ăn đơn giản. Cha Dũng hết mình với nhiệm vụ chủ chăn, chẳng khi nào thấy cha ngại ngùng việc gì. Cha có lòng ưu ái đặc biệt với ngừơi nghèo. Có đựơc của cải gì, cha chia sẻ cho họ hầu hết.

Khi lệnh bách hại của vua Minh Mạng trở nên gay gắt qua chiếu chỉ toàn quốc ngày 06.01.1833, cha phải ân náu tại các nhà bổn đạo, sau trốn lên Kẻ Roi và lập nhà xứ ở đó. Một hôm, cha dâng lễ vừa xong thì quân lính ập tới, cha liền cởi áo lễ và ngồi lẫn trong tín hữu. Lính bắt cha như một trong 30 giáo hữu hôm đó, vì quan quân không biết cha là linh mục. Ông Tổng Thìn bỏ ra sáu nén bạc, nhận cha là thân nhân đi dự lễ để chuộc về. Từ đấy cha đổi tên là Lạc.

Lần thứ hai cha bị bắt khi đến Kẻ Sông xưng tội với cha Thi theo thói quen hàng tháng. Lý trưởng Pháp bắt đựơc hai linh mục và mặc cả với giáo hữu phải chuộc với giá 200 quan. Các tín hữu gom góp đựơc một trăm quan nên viên Lý trưởng chỉ tha cha Lạc. Thế nhưng ngay trên đừơng về, vì gặp mưa gió, thuyền cha phải ghé vào bờ. Căn nhà cha đang trú đang bị quân lính khám xét. Thế là cha bị bắt lần thứ ba và bị giải lên huyện Bình Lục cùng với cha Thi.

Một lần nữa, giáo hữu cùng Đức cha Retord Liêu tìm cách chuộc hai cha về, nhưng lần này cha Lạc thấy ý Chúa đã định cho mình, ngài nhắn về với Đức cha câu chuyện thánh Phêrô hai lần thoát khỏi ngục, đến lần thứ ba, Chúa Giêsu đã yêu cầu ở lại tử đạo tại Rôma, và xin các tín hữu đừng lo liệu tiền chuộc làm chi nữa.

  • Đựơc cảm tình mọi giới.

Quan huyện Bình Lục đối xử với hai linh mục một cách tử tế. Ông truyền dọn cơm cho hai cha bằng mâm bát của mình, bắt Lý trưởng trả lại quần áo đã tịch thu và thanh minh rằng: “Phép triều đình cấm đạo và giết các cụ, chứ không phải tôi. Tôi không có tội gì trong việc này”. Ba ngày sau, quan huyện đưa hai cha xuống thuyền chuyển về Hà Nội. Các tín hữu thương tiếc đi theo rất đông, hoặc bằng thuyền, hoặc đi bộ trên bờ. Quan lấy làm lạ hỏi: “Đạo trưởng có cái gì mà dân chúng thương tiếc quá vậy?” Một phụ nữ đứng gần đó đáp lại: “Thưa quan, các cha dậy chúng tôi những điều hay lẽ phải, dậy chồng hiền lành, đừng cờ bạc rượu chè, dậy vợ sống thuận thảo với chồng theo như giáo lý trong đạo”. Hai vị linh mục khi thấy nhiều người khóc lóc tiễn đưa mình, đã dừng lại an ủi và khích lệ họ sống đạo cho tốt đẹp.

Tại Hà Nội, sau mấy lần tra hỏi, và dọa nạt hai vị chứng nhân Đức Kitô không thành công, các quan làm án xin vua xử trảm.

Thời gian trong tù, hai cha chiếm đựơc tình cảm của lính gác, đựơc tôn trọng và đối xử tử tế. Khi nhận đựơc quà tiếp tế, hai cha chia cho lính canh, chỉ giữ lại những thứ tối thiểu. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối, hai cha quỳ bên nhau cầu nguyện lâu giờ. Tuy các tín hữu xin đựơc phép đưa cơm vào tù mỗi ngày, hai cha vẫn tìm cách hãm mình dặn họ đừng mang thịt hay cá làm chi, các ngài vẫn tiếp tục giữ chay ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ bẩy. Những ngày đó, hai cha ăn thật ít, vừa đủ.

Lễ Các Thánh (01.11.1839), linh mục Trân đưa Mình Thánh Chúa vào ngục. Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: “Xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết lương thực rồi”. Sau đó, cha cung kính rứơc lễ, vá trao Mình Thánh cho cha già Thi.

Cuối năm 1839, khi quân lính đến công bố lệnh xử án, hai cha vui vẻ đón nhận bản án như một phần thưởng trọng hậu. Trên đường  đến pháp trường, hai cha yên lặng cầu nguyện. Lúc ra khỏi cổng thành, cha Lạc chắp tay lại, hát lớn tiếng mấy câu Latinh chúc tụng Chúa. Trứơc phút hành quyết, ngừơi lý hình đến nói với cha: “Chúng tôi không biết các thầy tội gì, chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên, xin các thầy đừng chấp”.

Cha Lạc tươi cười trả lời: “Quan đã truyền anh cứ thi hành”. Sau đó, hai cha xin ít phút để cầu nguyện lần chót, rồi nghiêng đầu cho lý hình chém.

Hai vị đã lãnh phúc tử đạo ngày 21.12.1839 tại bãi ngoài cửa ô Cầu Giấy (Hà Nội), giáp đường lên tỉnh Sơn Tây. Thi hài của cha Lạc đựơc đưa về an táng tại nhà bà Lý Qúy gần đó.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn Chân Phước cho linh mục Anrê Trần An Dũng Lạc ngày 27.05.1900.

Nhớ đến thánh Dũng Lạc, phải nhớ đến những vần thơ ngài tâm sự trong thư viết trong ngục cho cha Thực rằng:

“Lạc rầy đã rõ chốn quân quan

Bút chép thơ này gởi thở than Lòng nhớ bạn, nỗi còn vất vả

Dạ thương khách, chạy chữa yên hàn.

Đông qua tiết lại thì xuân tới

Khổ trảm mai sau hưởng phúc an

Làm kẻ anh hùng chi quản khó

Nguyện xin cùng gặp chốn Thiên Đàng” (1)

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.