THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 12, 2016

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI Tiếp Theo

• Thánh Giá trên cổ.

Khi không còn hy vọng làm cho ông đội Trung mất niềm tin, các quan liền làm án tâu xin vua Tự Đức cho lệnh trảm quyết. Nhà vua liền châu phe. Sáng 06.10.1858, ông đội Trung được dẫn ra pháp trường An Hòa (Huế). Năm viên quan cỡi ngựa và 60 lính đi bộ hộ tống. Cha Anrê Thoại ở họ Dương Sơn biết tin, liền cải trang đi với một thầy giảng tới giải tội cho ông. Cha nhắn một người bà con của ông tín hiệu nhận ra cha: người sẽ cầm một điếu thuốc giơ cao ngang mặt. Ông đội đã chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận Bí tích Giải tội lần cuối cùng.
Nhưng sự việc lại diễn tiến thể khác: các quan đình việc xử lại, và cho người về xin nhà vua tha cho ông, lấy cớ việc xử án có thể bị hiểu lầm là khiêu khích quân Pháp, họ sẽ đánh thì nguy. Đòan người chờ đến 18 giờ chiều vẫn chưa có tin, liền kéo nhau vào quán nghỉ ngơi, và dẫn ông đội Trung đã bị trói cẩn thận đi theo. Chờ đến khoảng 20 giờ tối, chiếu chỉ của vua Tự Đức gửi tới nơi ra lệnh xử tức khắc và đe phạt những quan đã xin ân xá cho ông.
Được tin, ông đội Trung hỏi tìm cha Thoại nhưng cha đã trở về vì tưởng ngày mai mới xử án. Lúc đó, ông liền quỳ xuống nền đất, xin đao phủ lấy vôi vẽ trên cổ hình Thánh Giá, để chứng tỏ mình trung kiên với Đức Kitô đến cùng. Sau đó, ông hiên ngang đưa cổ cho lý hình chém. Thủ cấp ông được bêu ba ngày để làm gương, rồi mới được đem chôn. Hiện nay thi hài của vị chứng nhân được lưu giữ ở nhà thờ họ Dương Sơn.
Đức Thánh Cha Piô X suy tôn ông đội Phanxicô Trần Văn Trung lên bậc Chân Phước ngày 22.05.1909.

Ngày 11 tháng 10 Thánh Phêrô LÊ TÙY
Linh mục 

(1773 – 1833)

• Lưu niệm đạo đức.
Nếu xưa trong Kinh Thánh có chuyện cụ già Eleazarô không thèm “giả bộ ăn của cúng” để được tha chết (2Mac 6, 18-28) thì ở Việt Nam cũng có thánh Phêrô Lê Tùy không khai man mình là y sĩ, không giấu chức vụ mình là linh mục theo yêu cầu của quan địa phương, để được sống còn. Như cụ già Do Thái xưa, cái chết của cha để lại cho giáo hữu Việt Nam và toàn cầu một lưu niệm sâu xa về đạo đức.
Phêrô Lê Tùy sinh trưởng trong một gia đình nề nếp khá giả làng Bằng Sở, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Hà Đông, nay thuộc địa phận Hà Nội. Năm 1733, năm cậu mở mắt chào đời cũng là năm hai thánh linh mục Vinh Sơn Liêm và Castanẽda Gia lãnh triều thiên tử đạo tại Hà Nội do án xử của Chúa Trịnh Sâm. Cảm kích trước tấm gương hào hùng ấy, khi cậu lớn lên, song thân đã lo liệu gửi cậu theo học tại chủng viện Nam Định. Trong những năm học, cậu tỏ ra rất thông minh, khôn ngoan và đạo đức. Sau khi lãnh chức phó tế, thầy Phêrô được cử đi giúp Đức cha De la Mothe Hậu lo việc truyền giáo ở Nghệ An. Ít lâu sau, thầy thụ phong linh mục, làm phó xứ Đông Thánh, Chân Lộc, rồi làm chánh xứ Nam Đường.
Cha Phêrô Tùy là một linh mục vui tính, hiền hòa và rất nhiệt thành trong sứ vụ chủ chăn. Dù ở đâu, dù chức vụ nào, cha cũng luôn sốt sắng chu toàn nhiệm vụ của mình. Đức cha Hậu đả có lần khen ngợi những đức tính và hoạt động của cha, ngài nói: “Không ai là không hài lòng với cha Tùy.” Trong 30 năm liền, nhà truyền giáo Lê Tùy hoạt động công khai đắc lực phục vụ Giáo Hội Việt Nam. Nhưng như mọi linh mục khác, từ khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên tòan quốc ngày 06.01.1833, cha phải hoạt động âm thầm trong bóng tối.
• Phúc trọng không dám mong.
Ngày 25.06.1833, cha Tùy đến xức dầu cho một bệnh nhân gần chết ở họ Thanh Trai.
Đây là một họ đạo nhỏ, chen giữa làng mạc của lương dân. Một nhóm người ngoại giáo đã bắt cha nộp cho quan huyện Thanh Phương. Giáo hữu điều đình bỏ tiền xin chuộc, nhưng quan đặt điều kiện cha phải khai mình là thầy thuốc, chứ không phải là linh mục. Cha Tùy cho rằng khai man như thế không tốt, nên khẳng khái từ chối. Cha bị đóng gông áp giải về tỉnh đường Nghệ An. Suốt thời gian trong tù, lúc nào cha cũng giữ được nét vui tươi, hồn nhiên, can đảm trước mọi khổ nhục. Thái độ đó làm nhiều người thán phục.
Một hôm quan án đòi cha ra công đường và nói: “Ông là đạo trưởng Gia Tô? Cha đáp: “Phải, tôi là đạo trưởng.” Quan nói ngay: “Ông nghe ta đi, ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn. Không ai muốn ông phải án tử hình, ta đây cũng vậy. Bây giờ ông nghe ta, làm một tờ khai nói mình là lang y chữa bệnh, có thể ta mới cứu được ông.”
Cha Tùy trả lời: “Tôi không sợ chết, và chết cách nào tôi cũng không ngại. Ai cũng phải chết. Dù chết trên chăn êm nệm ấm, dầu bị cọp tha cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi; cho nên tôi không sợ chết.”
Vì kính trọng cha đã 60 tuổi, quan không truyền đánh đòn, chỉ đưa cha về ngục.
Suốt ba tháng tù, cha được mọi người, từ quan tới lính, cùng các tù nhân khác quí mến. Họ nói với nhau: “Một người hiền từ nhân đức như vậy, mà bị giam như một tù nhân gian ác, thật là không phải. Chúng mình bị án phạt đã đành, chứ ông ấy nào có tội tình gì?” Các quan nhiều lần cho người dụ dỗ cha khai mình là y sĩ để khỏi chết, nhưng trước sau cha vẫn xác định mình là linh mục.
Thời đó, luật nhà nước cấm xử tử những người từ 60 tuổi trở lên. Đàng khác, đây là thời kỳ đầu cuộc bách hại, nên chính các quan khi làm sớ báo tin về kinh đô, chỉ nghĩ tội nhân sẽ phải nộp một số tiền phạt thôi. Ai ngờ, vua Minh Mạng bất chấp luật lệ truyền thống nhân đạo của dân tộc. Ngày 10.10.1833, các quan tỉnh Nghệ An nhận được sắc chỉ của vua: “Tên Tùy đã xưng mình là đạo trưởng và truyền dậy tà đạo cho dân, phải trảm quyết.” Một tín hữu nghe tin liền chạy đến nhà giam báo cho “tử tội” biết. Cha Tùy không chút lo sợ, chỉ hỏi lại cho chính xác, rồi vui vẻ nói: “Bấy lâu nay thật tôi không dám đợi trông ơn lớn lao như vậy.” Ngài dùng bữa tối như thường lệ, rồi lặng lẽ một mình, tránh mọi cuộc tiếp xúc để dọn mình lãnh triều thiên tử đạo.
• Về nơi vĩnh phúc.
Sáng hôm sau 11.10.1833, ngày Giáo Hội, ngày đó kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, cha Tùy tiến ra pháp trường chợ Quân Ban như đi dự hội, vẻ mặt vui hớn hở, đến nỗi dân đi xem và quan quân đều nói: “Xưa nay chưa thấy ai đem đi xử tử mà lại can đảm như thế.” Một giáo hữu trải chiếu ra, chứng nhân Đức Kitô quỳ xuống cầu nguyện, bên cạnh là người lính cầm thẻ bài bằng gỗ ghi bản án:
“Can phạm từ lâu học điều dị đoan, xưng mình là đạo trưởng, lẩn trốn trong dân để quyến rũ. Bắt được đã tra xét kỹ càng. Lệnh xử chém tức khắc để răn kẻ khác.”
Một tín hữu, ông Bernado Thu đến xin quan đừng xử vội, để cha cầu nguyện giây lát. Quan đồng ý và đưa mấy quan tiền theo tục lệ vua ban cho tử tội mua sắm ăn bữa sau cùng. Cha Tùy không nhận, tiếp tục cầu nguyện ít phút nữa. Sau đó, ông Thu lậy cha bốn lậy và nói: “Giờ đây, cha sắp được về nơi vĩnh phúc đã bao lâu trông đợi. Phần con, con ở lại chốn khóc lóc này, xin cha nhớ đến con.” Vị linh mục cũng lậy bốn lần đáp lễ và khuyên: “Hỡi con, con hãy bền lòng vững chí, rồi con cũng được phần thưởng muôn đời.” Cảnh cha con từ biệt làm nhiều người xúc động đến rơi lệ.
Sau đó, cha nói với quân lính: “Tôi đã sẵn sàng”. Tiếng thanh la vừa dứt, một người lính vung gươm, đầu vị tử đạo rơi xuống, trong khi linh hồn vút cao về Trời. Các tín hữu xin thi thể cha, khâm liệm vào áo quan, rước về nhà xứ Tràng Nửa và an táng tại đấy. Sau này họ dời hài cốt cha về Xứ Yên Duyên, rồi đưa về nguyên quán ngài là Bằng Sở. Nhiều người đến kinh viếng mộ ngài đã được ơn lạ. Ông Bernadô Thu cũng làm chứng nhiều bệnh nhân được khỏi nhờ cầu nguyện với cha Lê Tùy.
Ngày 27.05.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Phêrô Lê Tùy lên bậc Chân Phước.

Ngày 17 tháng 10 Thánh Isidôrô GAGELIN KÍNH
Linh muc Thừa Sai Paris (1799 – 1833)

• Mục tử nhân lành.
Chúng tôi đã từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả lợi lộc trần thế, để chỉ truyền giảng Tin Mừng.”
Từ chối chức quan do chính vua Minh Mạng trao ban, cha Gagelin Kính chứng tỏ mình chỉ mong thi hành sứ mệnh linh mục cao quý “loan báo Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 3,10). Lòng nhiệt thành mục tử thúc bách ngài không ngừng đi khắp nơi để ban phát các bí tích. Chính vì yêu thương giáo hữu, ước mong họ được bình an, cha đã tự nguyện hiến mình vì đoàn chiên ( Ga 15, 13). Ngài thực là gương mẫu sáng ngời cho các thế hệ.
• Túp lều Việt Nam hơn hoàng cung nước Pháp.
Isidôrô Gagelin sinh ngày 10.05.1799, tại Montperreux, giáo phận Besancon, nước Pháp. Cậu Gagelin có ý hướng theo ơn thiên triệu ngay từ nhỏ, và từng tâm nguyện “tôi muốn làm linh mục”. Lớn lên, sau bốn năm học đại chủng viện giáo phận, năm 1819, thầy gia nhập Hội Thừa Sai Paris. Tháng 09.1821, Đức cha Lambertette Bình, Giám mục địa phận Đàng Trong, truyền chức linh mục cho thầy Gagelin Kính, khi mới 22 tuổi.
Thời ấy, vua Minh Mạng mới lên ngôi, bầu khí tự do tín ngưỡng do vua cha (Gia Long) để lại chưa phai nhạt. Linh mục Gagelin Kính vừa nhận chức giáo sư chủng viện An Ninh, Quảng trị, vừa thi hành công tác mục vụ tại các vùng lân cận. cha gửi tâm sự về quê nhà năm 1823: “Những thiếu thốn những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng: tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp ở trong hòang cung của ngài.”
Dần dần vua Minh Mạng áp dụng chính sách bách hại đạo ngày càng mãnh liệt hơn. Bề trên Thomassin đã phải di tản chủng viện An Ninh và cử cha Kính vào Sàigòn, là khu vực Tả quân Lê Văn Duyệt không áp dụng bài Công Giáo. Cha thường thực hiện sứ vụ tông đồ nơi các họ đạo vùng Sàigòn., Bà Rịa và đào tạo chủng sinh tại Lái Thiêu.
• Ngôn sứ Tin Mừng.
Năm 1827 cha Kính được vua Minh Mạng triệu về kinh cùng với các giáo sĩ Tây Phương khác. Vua lấy cớ cần người dịch sách và làm thông ngôn cho triều đình, nhưng với hậu ý cản ngăn việc truyền giáo.
Nhận được triệu lần thứ ba, cha Kính mới lên đường về kinh đô. Tại đây, cha gặp hai thừa sai khác là cha Tabert Từ, cũng thuộc Hội Thừa Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, đã trình diện nhà vua trước ngài.
Để trấn an và để có thể che giấu ác ý, nhà vua đề nghị ban chức quan cho các cha, nhưng các cha từ chối. Cha Kính bầy tỏ lập trường trong thư gửi về Pháp:
“Tôi nói dứt khóat với ông quan do vua sai đến ban ân huệ cho chúng tôi. Tôi cho ông biết rõ mục đích chúng tôi sang đây làm gì, và chức linh mục hơn chức quan dường nào. Tôi cũng nói rõ chúng tôi đã từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả những lợi lộc trần gian để chỉ truyền giảng Tin Mừng thì không dễ gì chúng tôi từ bỏ nhiệm vụ này. Tuy nhiên, những công việc nào có thể dung hòa với nhiệm vụ cùa chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua.”
Tả quân Lê Văn Duyệt, người đã tống đạt lệnh vua và khuyên ba giáo sĩ Tây Phương về kinh đô, khi nhận thấy các ngài bị giam lỏng, chính ông đã về triều đình vào tháng 8 năm 1827 để thuyết phục vua Minh Mạng giữ lời hứa. Tuy không muốn, nhà vua buộc lòng phải trả tự do cho ba linh mục.
Ngày 01.06.1828, cha Kính lên đường trở về Đồng Nai, rồi đi thăm viếng các họ đạo tại miền Nam, từ Đồng Nai, Vũng Tầu đến miền Lục Tỉnh, Hà Tiên. Ngài vừa lo hướng dẫn chăm sóc dân Chúa, vừa truyền giảng Tin Mừng cho dân tộc Chàm ở Bình Thuận và dân Campuchia ở Bắc Hà Tiên. Nhưng các sắc dân này tin theo đạo rất ít. Năm 1829, ngài trở về chủng viện Lái Thiêu, được Đức cha Tabert Từ bổ nhiệm làm Bề trên địa phận và cử ra hoạt động ở miền Trung.
• Hiến mình vì đòan chiên.
Cha Bề trên Kính bắt đầu hoạt động mục vụ tại tỉnh Phú Yên, rồi tới Bình Định, Quảng Ngãi (1830). Cha đi bộ từ họ này sang họ khác, dầu xa hay gần, lớn hay nhỏ để giảng dậy, dâng lễ, giải tội và ban phép Thêm Sức cho các giáo hữu. tất cả những ai quen biết cha, và làm chứng trong cuộc điều tra phong thánh, đều đồng thanh khen ngợi đức hiền từ, lòng đạo đức, tinh thần khó nghèo khổ hạnh và chính trực trong đời sống của ngài.
Ngày 06.01.1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao. Nhiều thân hữu khuyên cha nên tạm hồi hương một thời gian, cha thẳng thắn trả lời: “ Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân sự, huống chi tôi được trao chức vụ lãnh đạo, sao có thể thoái thác trách nhiệm của mình được.” Thế là dù thời buổi khó khăn, cha vẫn tiếp tục hăng say trong sứ mệnh, thăm hỏi an ủi giáo dân, giảng đạo và rửa tội nhiều người Thượng ở Bình Định. Được một vị quan thân hữu mật báo sẽ có cụôc truy bắt các linh mục Tây Phương, cha lẩn tránh ít lâu. Nhưng khi thấy nhiều giáo hữu bị bắt bớ, đau lòng trước cảnh đòan chiên tan tác, cha liền viết thư xin phép Đức Giám mục cho ngài ra nộp mình, hy vọng nhờ đó giáo hữu khỏi bị bách hại. Đức cha Từ chấp thuận. Thế là ngài đến trình diện với quan tri huyện Bồng Sơn (Bình Định) và tháng 05.1833, sau đó cha bị giải về kinh đô.
• “Tôi muốn thành tro bụi để kết hợp với Đức Kitô”.
Đến Huế ngày 23.08.1833, cha bị giam ở trấn thủ với cha Jaccard Phan, cùng thuộc Hội Thừa Sai Paris và cha Odôricô Phương, dòng Phanxicô, bị bắt ở Cái Nhum. Cha Phương qua đời năm 1834 sau sáu tháng lưu đầy ở khu đèo Lao Bảo, ranh giới Ai Lao.
Suốt bẩy tuần lễ bị giam cầm, cha bề trên Kính không bị thẩm vấn lần nào. Vua Minh Mạng đã quá rõ, không thể lay chuyển đức tin can trường của cha.

Kể từ ngày 12.10, quân lính xiềng xích chân tay cha, canh gác nghiêm ngặt hơn,và cấm không cho giao tiếp với người khác. Linh mục Jaccard Phan, nhờ có liên hệ với triều đình, báo tin cho cha biết ngày hành quyết sắp đến. Cha Kính liền gửi thư phúc đáp, bầy tỏ niềm hân hoan vô tả khi được đổ máu cho Chúa. Ngài cũng nhờ cha Phan thông báo cha Đức Giám mục, cho các Bề trên Hội Thừa Sai Parls và gia đình. Cha viết tiếp: “Tôi từ giã cõi đời không hề thương tiếc sự gì, chỉ nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đủ an ủi tôi về mọi đau khổ và cả cái chết nữa. Tất cả ước vọng của tôi là sớm thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hợp cùng Chúa Glêsu trong nơi vĩnh phúc. Tôi muốn thành tro bụi để kết hợp với Chúa Giêsu.”
Vua Minh Mạng giữ bí mật bản án đến phút chót. Sáng sớm ngày 17.10.1833, một đội lính đến ngục thất, áp giải cha Kính, họ còn nói rằng cha được dời sang ngục khác. Cha hiểu ngay giờ sau hết đã điểm , cha hỏi: “Có phải các ông đưa tôi đi xử tử không?” Họ đáp: “Thưa phải”. Thế là ngài vui vẻ mau mắn cùng đòan hành quyết lên đường. Đến đầu cầu ngăn cách kinh thành với khu ngoại ô Bải Dâu, bốn ngừoi lính đỡ bốn chiếc gông nặng nề đè trên cổ vị mục tử. Các lính khác võ trang gươm giáo đi hai bên, hai quan lớn cỡi ngựa đi sau, dân chúng đi xem rất đông. Một người lính giơ cao tấm thẻ ghi bản án. Cứ đi khoảng một trăm bước, người lính đó dừng lại, đánh mấy tiếng cồng, rồi đọc bản án như sau:
“Dương nhân Hoài Hóa mang tội truyền giảng đạo Gia Tô tại nhiều tỉnh nước ta, nên phải xử giảo.” (Hoài Hóa là chữ Hán do các quan dịch tên cha Gagelln).
Đến pháp trường, vị linh mục bình tĩnh cầu nguyện, mặc cho quân lính thi hành nhiệm vụ. Họ trói ngài vào chiếc cọc giữa, lấy dây vòng quanh cổ, rồi cuốn hai đầu dây vào hai cọc bên. Hiệu lệnh thứ nhất ban ra, tiểu đội quân lính cầm lấy hai đầu dây. Đến hiệu lệnh thứ hai, họ kéo thật mạnh, trong khoảnh khắc, vị chứng nhân Chúa Kitô trút hơi thở cúôi cùng.
Một học trò cũ của cha Odôrlcô và một thầy giảng của cha Phan xin phép nhận thi hài thánh tử đạo đem an táng tại một tư gia ở Phú Cam. Vì nghi ngờ môn đệ Chúa Kitô sẽ sống lại sau ba ngày, vua Minh Mạng truyền khai quật mồ vị tử đạo, khám nghiệm kỹ lưỡng, rồi mới yên lòng cho chôn lại. Thế mà vẫn phân vân, vua truyền cho dân làng Phủ Cam trông canh giữ mồ, nếu vị tử đạo sống lại, hay người ta lấy mất thi hài, họ sẽ phải đền mạng. Trong các thư của cha Phan và Đức cha De la Motte Hậu có ghi chép sự việc hy hữu trên.
Năm 1946, thi hài thánh tử đạo Gagelln Kính được đưa về chủng viện Hội Thừa Sai Paris.
Ngày 27.05.1900, Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn ngài lên bậc Chân Phước.

Ngày 23 tháng 10
Thánh Phaolô TỐNG VIẾT BƯỜNG Quan thị vệ (1773 – 1833)

• Hiến lễ trong đêm.
Thánh Phaolô Tống Viết Bường, trường hợp đặc biệt bị xử trảm về đêm. Ngài là viên quan thị vệ có nhiều công trạng với vua Minh Mạng, nên vua muốn cuộc hành hình phải diễn ra thật âm thầm, ít người biết đến. Năm giờ chiều “tử tội” mới được báo tin giờ xử, nhưng chính lúc ấy, ông đồi Bường lại coi là một cơ may “có một không hai” cho mình. Trên đường ra pháp trường vào buổi chiều cuối tháng mười “chưa cười đã tối” đó, ông tìm cách đi chậm lại, và nói với đám lý hình (trước vốn thuộc quyền ông): “Các chú đi chi mà nhanh rứa, tôi biết đường mà, không sợ lạc mô.” Và thực ra, trời thì tối, cầu thì hẹp, lại đúng lúc nước sông đang lên, nên đường rất khó đi. Đàng khác, ông Bường chú ý tìm hướng đến nền cũ của nhà thờ Thợ Đúc, xin được chết tại đây. Quan đồng ý ban cho ông như lời ước nguyện. Chính nơi đây, đã từng bao năm tháng, dưới ánh sáng lung linh của những ngọn nến, các tín hữu tụ họp dâng lên hiến tế tối cao là Đức Giêsu, thì lúc này dưới ánh sáng của những ngọn đuốc bừng cháy, ông đội cũng dâng lên Chúa chính mạng sống mình. Cho đến ngày nay, ông vẫn sống mãi trong tâm thức của mọi tín hữu Thợ Đúc, cũng như Giáo Hội Việt Nam.
• Giã từ quan trường vì đức tin.
Phaolô Tống Viết Bường sinh khoảng năm 1773 tại Phú Cam, Phú Xuân (Huế), trong một dòng tộc Công Giáo lâu đời, cũng là dòng tộc có nhiều quan lớn, dưới triều vua Lê, Chúa Nguyễn. Thân sinh là ông Nicolas Tống Viết Giảng và bà Maria Lương. Vì tổ tiên đều làm quan, nên đến khi trưởng thành, ông được chọn là lính thị vệ. Với đời sống liêm khiết và đức độ, sau một thời gian, ông được thăng chức đội, và được nhà Nguyễn tuyển vào làm thị vệ hoàng cung. Vua Minh Mạng rất hài lòng về việc phục vụ cần mẫn và nhiệt tâm của ông.
Ông có hai đời vợ, sinh hạ được tất cả 12 người con. Vào năm 1831, giặc Đá Vách ở Quảng Nam nổi lên quấy phá, quan quân phải đi đánh dẹp. Ông đội Bường được vua cử đi thanh sát mặt trận. Ông mau mắn chu tòan phận sự, và trở về tâu trình thành quả đã đạt được. Nhưng có lẽ trong thời gian đó, có người ghen ghét tố cáo ông theo đạo Công Giáo nên vua hạch hỏi ông: “Khi xong công tác, khanh có viếng chùa Non Nước không?” Ông bình tĩnh trả lời: “Muôn tâu, vì Hoàng Thượng không truyền nên thần không đi. Hơn nữa, chùa Non Nước đâu có giặc để đánh.” Vua hỏi tiếp: “Lệ thường, dẹp giặc xong rồi thì phải vô chùa lễ bái, tại sao khanh không đi?” Ông không ngần ngại trả lời: “Vì hạ thần theo đạo Công Giáo.”
Thế là ông đội Bường đã phải trả giá cho lời tuyên xưng của mình. Vua Minh Mạng thịnh nộ trách mắng thậm tệ và dọa đem đi chém đầu. Một số quan chức có cảm tình với ông đội, đứng ra can gián, nhà vua vẫn chưa nguôi giận, ra lệnh đánh ông 80 roi, tước hết chức quyền, và giáng xuống làm lính trơn. Dù vậy, ông Bường vẫn vui vẻ tiếp tục phục vụ nhà vua.
• Vẹn chữ trung với Chúa.
Hơn một năm sau, khỏang cuối tháng 12 năm 1832, khi chuẩn bị ra chiếu chỉ cấm đạo tòan quốc, vua Minh Mạng đòi kê khai những người Công Giáo trong hàng ngũ thị vệ. Lúc đó, các quan mới phát hiện ra nhiều thị vệ nghe lời “quyến rũ” của ông đội Bường vừa gia nhập đạo.
Thế là ông Bường và 11 binh sĩ khác có tên trong danh sách được trình lên. Năm người sợ quá bỏ đạo, còn bẩy người vua hạ lệnh tống giam vào ngục tối tăm hôi hám tại trấn phủ. Mỗi người phải mang gông nặng gần bẩy ký, chân thì bị xiềng sắt xiết chặt.
Thời gian đầu, cứ độ mười ngày một lần, ông Bường lại bị đem ra tra khảo về niềm tin. Lần nào quan cũng hỏi: “Có bỏ đạo không?” Và lần nào ông cũng trả lời: “Lâu nay tôi chỉ thờ một Thiên Chúa đựng nên vạn vật, lẽ nào bây giờ tôi lại bỏ Chúa tôi.” Hậu quả mỗi lần thưa như vậy là 20 đòn rách da xé thịt, nhưng người chiến sĩ của Chúa không than trách một lời. Với chí khí một người lính kiên cường, ông tỏ ra sẵn sàng chịu những hình khổ cay nghiệt hơn nữa. Có lần ông nói với bạn hữu đến thăm rằng: “Kiếm cho tôi cái gì nặng hơn chứ gông xiềng tôi còn nhẹ. Người ta còn đánh đập tôi ít quá, tôi tưởng được chịu đòn hơn nữa kia.”
Bốn quân lính khiêng qua Thập Giá, ông đều mạnh mẽ chống cự đến cùng. Lần kia, quan bắt lính kéo chân ông chạm vào Thập Giá, ông phản đối: “Việc này do quan làm, chứ không bao giờ tôi làm như thế.” Quan tức giận truyền đánh tàn nhẫn hơn mọi lần khác.
Đàn áp không được, các quan quay qua dụ dỗ. Quan Hình Bộ Thựơng thư Võ Xuân Cần tha thiết ông chiều theo ý vua: “bỏ đạo lúc này thôi, rồi sau sẽ hay, muốn làm gì thì làm.” Nhưng ông trả lời: “Quan lớn có lòng thương thì tôi cũng xin quan lớn một điều là cho tôi được vẹn chữ Trung với Chúa trời.”
Trong nhà giam, ông thường khuyên các bạn bị bắt hãy kiên tâm bền chí, trông cậy và cầu nguyện Đức Mẹ luôn, để được vững lòng chịu khổ đến cùng, vác Thập Giá theo Chúa Giêsu. Càng bị đau khổ, đời sống thiêng liêng của ông càng gia tăng. Mỗi ngày ông siêng năng cầu nguyện, suy gẫm và đọc kinh Mân Côi. Mỗi tháng nhờ các linh mục cải trang vào thăm, ông đều xưng tội và đón nhận Mình Thánh Chúa. Hai linh mục An và Vững thay nhau vào khích lệ ông. Thừa sai Jaccard Phan cũng gửi thư an ủi động viên ông. Một lần, ông sáng tác được một bài thơ gửi cha An, biểu lộ lòng trung kiên sắt đá, coi mọi khổ đau là “niềm vui trong Chúa.”
• Đường về Trời.
Thấy không thể lay chuyển đức tin của người môn đệ Chúa Kitô, quan Thựơng thư Bộ Hình liền xin nhà vua tuyên án. Vua trả lời: “Cần gì bản án, cứ việc tra tấn không ngừng, nếu nó không chịu đạp lên Thập Tự thì cứ việc đánh cho chết, rồi vất ra ngoài thành cho xong.”
Lần thứ hai các quan tâu lại, vua Minh Mạng mới chấp thuận châu phê bản án trảm quyết, treo đầu ba ngày để làm gương cho kẻ khác. Tuy nhiên, vua vẫn chưa cho thi hành ngay, có ý chờ “người tôi trung” của mình xin ân xá. Các quan nói ý vua cho đội Bường, nhưng ông quyết liệt từ chối.
Thế là ngày 23.10.1833, lúc năm giờ chiều quân lính báo tin cho ông đội biết giờ hành xử đã đến. Ông bình thản giã từ sáu người bạn cùng bị bắt (cả sáu người này về sau cũng bị tử hình), ông nói: “Xin anh em thêm lời cầu nguyện, để tôi lãnh nhận Thánh ý Chúa. Đừng lo cho tôi, anh em hãy luôn đi theo đường lối của Chúa.”
Trên đường ra pháp trường, lấy cớ bị trói và mang gông nặng, ông đội kéo dài thời gian di chuyển, để được chém trên nền nhà thờ Thợ Đúc. Dọc đường, ông gặp mặt con gái, đã về nhà chồng ở họ Thợ Đúc, tuy không nói với nhau lời nào, nhưng trong ánh mắt hai cha con, dạt dào biết bao tình cảm xúc động.
Dưới ánh sáng bừng bừng của những ngọn đuốc, ông đội được tháo gông, cởi trói và tự do trong ít phút, ông tiến vài bước, bình tĩnh đứng nhìn lần cuối cùng những mái nhà thân thương của giáo xứ vây quanh nền nhà thờ hoang tàn. Rồi bước lên chiếc chiếu do một bạn cũ tên Thục ở Phủ Cam đưa cho lính trải. Ông quỳ xuống cầu nguyện giây lát, và ra lệnh cho lính thi hành án xử. Quân lính trói tay ông lại và vung gươm chém rơi đầu người chiến sĩ đức tin kiên cường. Thủ cấp ông bị bêu ba ngày ở nhà thờ Thợ Đúc, còn thi hài vị tử đạo được an táng ở họ Phủ Cam.
Ngày 27.05.1900, ông Phaolô Tống Viết Bường được Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn lên bậc Chân Phước.
Còn Tiếp

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.