THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM, số tháng 12, 2017

Tiếp Theo

PHỤ CHƯƠNG

4. Mặn nồng tình nghĩa gia đình

Một trong những đóng góp của giới Công Giáo vào cơ chế pháp lý gia đình Việt Nam, là luật lệ “một vợ một chồng”. Trong gia đoạn văn hóa quá ảnh hưởng quan điểm nho giáo “trai năm thê bẩy thiếp”, các tín hữu đã góp phần đề cao đạo đức thủy chung của dân tộc trong truyện Trầu Cau. Dĩ nhiên không phải mọi tín hữu đều trung thành với với lời cam kết hôn nhân, như ông Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy… đã có thời gian sa ngã, thế nhưng tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Trong danh sách 117 vị tử đạo, trừ một số theo đạo khi đã trưởng thành, còn những ai sinh ra trong gia đình Công Giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay từ bé. Thầy Đaminh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo cha ông: “Nếu tôi cả gan bước lên Thánh Giá thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với cha mẹ. Vì song thân sinh ra tôi đã dậy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết”. Nói chung, các vị tử đạo khi bị bắt không thoát khỏi tình cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và tin tưởng phó thác người thân cho Ngài. Nhiều vị đang bị giam được về thăm gia đình, đã bình tĩnh khuyên vợ con vui vẻ cho mình tử đạo, rồi tự động trở vào tù như các ông Dũng, Thuần, Ngôn, Năm Thuông… Ta có thể ghi lại những điều đó trong vài di ngôn cuối cùng sau:

  • Ông Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc các em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy yêu thương nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Chúa trao cho mỗi người một Thánh Giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo”.
  • Y sĩ Phan Đắc Hòa thì nói: “Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa, đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, yêu thương nhau và dăn sóc việc nhà. . .”

Nói đến tình nghĩa gia đình, chúng ta khó có thể quên một số hình ảnh như: Linh mục Triệu vì thương mẹ già, ở lại Huế ba tháng để dựng nhà cho mẹ, nên mới bị bắt. Ông đội Trung có con gái được phép ở trong tù chăm sóc, nhưng ông bắt con về nhà để kịp học giáo lý với bạn bè trong xứ. Ông Trùm Phụng tại pháp trường gặp lại con gái, cô Anna Nhiên, đã đeo cho con ảnh Thánh Giá ở cổ mình và nói: “Con hãy nhận lấy kỷ vật của ba. Đây là ảnh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, ảnh này quí hơn vàng bạc bội phận. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều, con nhé.” Nếu nói đến gia đình tử đạo, phải kể: Anh em: Anrê Tường – Vinh Sơn Tương; cha con: có Án Khảm – Cai Thìn, con rể bố vợ: có Lý Mỹ – Trùm Đích.

Ông Lý Mỹ vì thấy nhạc phụ đã cao niên, mỗi cuộc tra tấn đều tự nguyện chịu đòn hai lần thay cha. Con gái ông Lý, 12 tuổi, trốn mẹ vào thăm tù và thưa: “Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa”. Cậu Tương, 9 tuổi, con trai ông không đi được, cũng nhắn lời: “Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo”. Vợ ông, bà Mỹ nói trong tiếng nghẹn ngào: “Vợ con ai mà chẳng thương tiếc, nhưng ông hãy hy sinh vác Thánh Giá rất nặng vì Chúa. Hãy trung thành đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con tôi, Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả”.

Như thế, ta thấy những thân nhân của các vị tử đạo, tuy vẫn tiếc thương, vẫn buồn khóc, nhưng cũng can đảm và tin tưởng yểm trợ tinh thần cho các chứng nhân. Chúng ta quan tâm đặc biệt đến hình ảnh một số bà mẹ:

  • Bà mẹ của Jaccard Phan, khi nghe tin con chịu chết vì đức tin đã reo lên: “Thật là tin vui, gia đình ta có một vị tử đạo”. Bà nói tiếp: “Xin chúc tụng Chúa, tôi sẽ buồn biết bao, nếu con tôi chịu khuất phục trước gian khổ và cực hình”.
  • Bà mẹ Castãneda Gia, khi em trai vị linh mục đang tìm cách báo tin sao cho khéo để mẹ bớt buồn. Ba hỏi: “Tại sao Jacintô của mẹ lại chết? Anh ấy chết bệnh hay bị giết?” Cậu Clêmentô hỏi lại: “Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?” Bà đáp: “Mẹ mong rằng Jacintô chết vì đức tin.” Clêmentô liền nói: “Vâng thưa mẹ, chính vì đức tin mà anh ấy bị giết”. Ngay chiều hôm đó, bà liền đến nhà thờ dòng Đaminh để cùng với các tu sĩ hát lên lời kinh tạ ơn TE DEUM.
  • Bà Maria Nhiệm, thân mẫu thánh Gấm, năm 1870, tức là 23 năm sau cuộc tử đạo của con trai, đã đến làm chứng tại tòa án phong Chân Phước, bà nói: “Khi nghe tin con bị giết, vợ chồng tôi không thảm thiết gì hết, chỉ nói: Chết như vậy đặng làm Thánh”.

Nhưng hình ảnh nổi bật nhất là bà mẹ binh sĩ Anrê Trông, được Đức Lêo XIII trong sắc phong Chân Phước năm 1900 ca tụng về lòng can trường, đã theo gương “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Bà có mặt trong cuộc hành quyết để dâng hiến người con trai duy nhất. Bà đi cạnh con, không than khóc, không sầu buồn, lại bình tĩnh khuyên con bền chí. Và khi đầu vị tử đạo rơi xuống, bà mạnh dạn tiến vào pháp trường và nói với quan: “Đây là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu nó cho tôi”. Rồi bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp của người con yêu quí, đem về an táng ngay trong nhà.

5. Kính yêu Đức Trinh Nữ Maria

Nếu nói đến đời sống các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua lòng tôn sùng Đức Maria của các vị. Lòng tôn kính đó thể hiện qua các thứ bẩy đầu tháng, với những cuộc rước long trọng, qua tháng Hoa và tháng Mân Côi mỗi năm, đặc biệt qua việc siêng năng lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Nhiều người đọc kinh trên đường đi và lấy chuỗi để làm đơn vị tính đường dài. Một niềm an ủi lớn cho giai đoạn thời tử đạo, là việc Đức Mẹ hiện ra an ủi tại rừng La Vang (Quảng Trị) năm 1798. Mẹ vẫn hiện diện để nâng đỡ khích lệ con cái mình trong những lúc khó khăn. Ở đây chúng ta lưu tâm đến một số sự kiện tiêu biểu:

Ông Năm Thuông bỏ tiền ra dựng một nhà nguyện kính Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ; ông Lý Mỹ mỗi tối tụ tập các phu tuần đọc 50 kinh trước khi đi công tác; linh mục Néron Bắc ăn chay các lễ vọng kính Đức Mẹ; linh mục Dụ biết mình sắp bị bắt đã mang theo hành trang duy nhất là một tràng hạt Mân Côi; rồi linh mục Federich Tế tự nhận là con điên Đức Mẹ. Khi dừng bước ở Macao đợi tầu đến Việt Nam, ngài đã cầu nguyện:

“Lạy Thánh Mẫu cao vời nhân ái!

Tấm lòng con điên dại đáng thương,

Ngày đêm nung nấu can trường,

Lòng bao la Mẹ đâu phương đáp đền.

Trong tâm tưởng con hằng mơ ước,

Khắp muôn phương loan báo Tin Mừng,

Giờ con gặp cảnh sầu thương,

Như thuyền neo bến trùng dương xa vời”. [1]

Như vậy đó, các ngài đã trao phó cho Mẹ, những ước vọng thầm kín của mình để xin Mẹ trợ giúp. Thừa sai Borie Cao ghi lại trong nhật ký lời nguyện ngày tận hiến cho Mẹ tại chủng viện:

“Lạy Mẹ của con! Xin hãy tin nơi con, khi con trưởng thành, con sẽ hiến toàn thân cho việc cải hóa các người chưa tin. Xin Mẹ giúp con theo con đường và tinh thần của ơn kêu gọi đó. Xin cho con được đau khổ vì Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo và về đến bến vinh quang.”

Đức cha Valentinô Vinh trong thư gửi cho mẹ (thư 61) đã nói lên suy nghĩ của mình, tuy có vẻ hơi hài hước nhưng cũng tràn đầy tin tưởng:

“Mẹ à! Với tràng hạt Mân Côi trong tay, với lời kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng Maria tươi nở trên môi, với tư tưởng thánh thiện trong tâm trí, hỏi thế giới còn chi đẹp đẽ hơn? Mẹ hãy thưa với Đức Maria về con. Lời cầu nguyện sốt sắng ấy sẽ đánh gẫy răng quỷ dữ…”

Đến khi đã bị bắt, kinh Mân Côi vẫn là lời kinh hằng ngày của các chứng nhân đức tin. Có khi các vị chia hai bè để đọc lớn tiếng trong tù. Giám mục Cao, hai linh mục Điềm và Khoa hát vang bài “Ave Maria Stella” (Kính chào Mẹ sao Bắc Đẩu…) và cầu nguyện: “Như xưa Mẹ đã dâng con yêu quí trong đền thờ, nay cũng xin hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo hồng phúc”.

Linh mục Hạnh thay vì dầy đạp, đã hôn kính ảnh Đức Mẹ dù bị đánh đúng một trăm roi. Bà Lê Thị Thành tâm sự:

“Nhờ ơn Đức Mẹ giúp sức, tôi không thấy đau đớn”. Ngoài ra linh mục Schoeffler Đông trong thư tỏ ra mừng rỡ khi biết tin mình tử đạo ngày 01.05, ngày đầu tháng Hoa kính Đức Maria, linh mục Hoan luôn đeo trên cổ áo Đức Mẹ, cho đến giờ xử tử, ngài nói: “Ảnh này tôi không thể cho ai được. Đây là hình ảnh Đức Nữ Vương và là Bà Chúa của tôi”. Linh mục Cornay Tân khi bị giam trong cũi, vẫn cất tiếng hát, lính nghe hay nên báo với quan, thế là quan bắt hát mới cho ăn; ngài kể lại trong thư rằng: “Mỗi bữa ăn tôi lại có dịp hát thánh ca chúc tụng Đức Mẹ”.

Cuối cùng, ngay giờ phút hành hình, các vị tử đạo vẫn cậy nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, linh mục Tân cầu nguyện: “Xin Đức Maria chứng giám cho việc sám hối của con…”. Hai linh mục Gia và Liêm từ trại tù ra pháp trường đã hát vang lời kinh “Salve Regina” (Lạy Nữ Vương) để chạy đến “Mẹ nhân lành làm cho chúng được sống, được vui, được cậy….Xin cho chúng con được thấy Đức Giêsu, Con lòng Mẹ…” Bởi vì thực ra trong thâm tâm của các vị, cuộc tử đạo là một hiến tế cần nhờ Mẹ làm trung gian để dâng lên Thiên Chúa, như linh mục Theophane Vénard Ven đã ghi lại lời nguyện trong thư gửi Đức cha Theurel:

“Lạy Mẹ Vô Nhiễm! Khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng kính trên bàn thờ. Ave Maria.”

II.       TỬ ĐẠO : HIẾN TẾ TÌNH YÊU

Trong thư chung 1798, Giám mục Alonsô Phê đã khẳng định với các tín hữu thời tử đạo rằng, nếu trong cuộc tử đạo họ không thể hiện đức yêu thương thì kể như là vô ích, ngài viết:

“…Phải lấy lời nói cùng việc làm mà xưng đạo ra cho thật thà. Phải kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, hơn của cải, hơn mạng sống mình, lại phải yêu thương người ta bằng mình vậy, và nếu chẳng có đức yêu thương, dù chịu chết vì đạo thì cũng chẳng được gì sốt. Vì phúc tử đạo tại đức Caritas là lòng mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự cùng yêu người ta bằng mình vì Đức Chúa Trời mà chớ” Thư chung các Đấng Vicario I, tr. 63-68.)

Hiến tế đầu tiên của Giáo Hội là Đức Giêsu, Đấng tự hiến mạng sống mình vì yêu nhân loại. Các vị tử đạo đã theo sát mẫu gương của Ngài trong cuộc khổ nạn, từ vườn Cây Dầu cho đến đỉnh đồi Canvê.

1. “Xin cất cho con chén này”

Lời nguyện của Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu gợi lên một thái độ căn bản của các vị tử đạo là: “không cuồng tín”. Không được chạy theo vinh quang giả dối, dù là bằng hành vi dâng hiến hoàn hảo nhất. Thế nhưng, khi nào Đấng Quan Phòng muốn biểu lộ niềm tin bằng hành động cụ thể thì các vị phải đi cho trọn con đường của minh, khôn ngoan và can đảm như hai đức tính hòa hợp nơi các thánh tử đạo. Không có quyền liều mạng. Với các linh mục, vẫn có nghĩa vụ sống gần các tín hữu, phải rât khôn ngoan và thận trọng. Linh mục Tước diễn tả điều đó bằng câu: “Bỏ chạy khi nào còn có thể, nếu không chạy được thì vâng ý Chúa”.

Lời Kinh Thánh “Cáo có hang, chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu” thường được nhắc nhở trên môi các linh mục, tu sĩ. Bị rượt ở thành này, các vị trốn qua thành khác, nhưng vẫn không ngừng hoạt động. Trong một lá thư, Đức cha Cúenot Thể viết: “Dù chỉ một giáo sĩ chẳng làm được gì ngoài việc đọc kinh Thần Vụ thì nguyên sự hiện diện của vị đó, cũng đủ nâng đỡ niềm tin và sinh hoạt cho các tín hữu rồi”. Ngoài ra, đến khi đã bị bắt, nếu có thể, các tín hữu sẵn sàng bỏ tiền chuộc mạng cho các ngài, như linh mục Dũng Lạc hai lần được chuộc, lần thứ ba mới chịu tử đạo.

Ở đây chúng ta lưu tâm đến năm vị tử đạo trong hai dạng tự nộp mình:

A/ Hai vị muốn được chia sẻ cuộc tử đạo của thầy mình, họ không thuộc nhóm 12 Tông đồ ở vườn Cây Dầu bỏ Thầy chạy trốn, đó là thầy Tự và linh mục Duệ. Thầy Tự khi thấy cha Cao bị bắt, đã lẽo đẽo theo sau và xin vị linh mục nhận mình là môn sinh để được chia sẻ những gian lao của ngài. Vị thừa sai cảm động trao cho thầy nửa chiếc khăn làm kỷ vật, và thầy Tự đã giữ khăn đó cho đến chết. Ngày hành quyết, thầy xin được xử ngay tại nơi đã thấm máu người cha thân yêu mình năm trước.

Còn linh mục Duệ đã 83 tuổi và về hưu được 6 năm, khi Đức cha Y đến thăm và hỏi: “Cụ còn sức theo tôi lên thủ phủ Nam Định chăng?”. Cha Duệ hiểu ý vị Giám mục muốn nói đến việc tử đạo, nên đáp: “Khi nào Đức cha bị bắt, xin cho phép con theo cùng”. Vì thế khi hay tin vị Giám mục đã bị bắt, cha thường la lớn để quân lính đến bắt ngài. Trong ngục khi đã biết Đức cha bị chém, cha Duệ liền bỏ chiếu nằm đất và nói: “Giám mục là cha đã phải xử, ta là con mà nằm chiếu sao phải lẽ?”.

B/ Trường hợp thứ hai là ba vị nộp thế mạng cho người khác, đó là linh mục Gioan Đạt vừa dâng lễ xong thì quân lính vào bắt. Cha đã chạy thoát, nhưng vì để quên áo lễ, cha thấy quân lính tra tấn chủ nhà nên ra nộp mạng và nói: “Vẫn biết tôi có thể thoát, nhưng như thế anh em sẽ bị khổ nhiều”. Vị thứ hai, thừa sai Gagelin Kính, viết thư xin phép Giám mục cho mình ra trình diện để tín hữu Bình Định được bình an. Vị thứ ba là linh mục Viên, cha đã trốn an toàn trong vườn mía dầy đặc, nhưng khi thấy quân lính đánh đập tra khảo con của chủ nhà, cha cũng tự động ra thế mạng. Những mẫu gương này làm ta liên tưởng đến thánh Maximilien Kolbe ở trại tập trung Đức Quốc xã sau này.

  1. Không để ai liên lụy.

Như Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu đưa tay cho quân lính bắt, nhưng yêu cầu cho các môn đệ được tự do, các vị tử đạo tuyệt đối không để ai bị liên lụy. Một người duy nhất ghi tên năm sáu tín hữu vì tưởng những người này đã trốn là quan Hồ Đình Hy, lời khai của ông làm liên lụy đến 29 người, ông hết sức hối hận và nói: “Tôi cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô, để đền vì tội lỗi của tôi”.

Linh mục Nghi đi đâu cũng mang theo vài nén bạc, có ý giao cho lính để chủ nhà nơi ngài trốn được bình an. Linh mục Federich Tế khi bị bắt, đã yêu cầu và lính nghe ngài, thả những giáo hữu đang bị trói. Đức cha Cao dù bị đánh đập, không khai tên bất cứ ai, sau quan cho lôi thầy Tự ra đánh, và nói họ sẽ đánh thầy mãi nếu ngài không khai. Thế là cha liền kể tên vài người đã qua đời, quan vui vẻ tha cho thầy Tự, nhưng khi kiểm tra lại mới biết những người đó đã chết. Quan hỏi: “Sao ông cứng đầu thế?” Cha đáp: “Thưa, câu hỏi của quan tôi không thể trả lời khác hơn được.”

Bốn linh mục âm thầm bỏ giáo xứ để các tín hữu được an toàn. Các vị đi mà chẳng biết sẽ đến đâu, đó là linh mục Đỗ Yến, Vinh Sơn Điềm, Borie Cao và Néron Bắc. Trường hợp thừa sai Schoeffler Đông bị bắt chung với một linh mục Việt và hai chú giúp lễ, khi quân lính đòi tiền chuộc, cha yêu cầu tha những người kia ra, lấy cớ chỉ có họ mới biết chỗ để tiền, đến khi họ đã đi xa, cha nói rõ ý muốn chỉ một mình bị bắt. Ngoài ra, ta phải kể đến ông Năm Quỳnh, vì làm trùm họ, nên giữ sổ các tín hữu, khi thấy quân lính giữ cuốn sổ đó, ông nhắn con trai đưa 50 quan tiền để chuộc lại.

Một hình ảnh tiêu biểu nhất là việc không để ai liên lụy, đó là linh mục Tự. Khi bị giam giữ, cha thấy trong sổ sách bị tịch thu có cuốn sổ ghi tên các tín hữu xứ Kẻ Mốt, cha lén đem về trại giam, rồi tìm cách chuyển ra ngoài. Nhưng vì quân lính canh giữ quá kỹ không thể làm gì được, cha liền bầy kế xin một cái chiếu đắp cho đỡ muỗi, rồi nằm trong chiếu, ngài nhẩn nha nhai và nuốt từng tờ cuốn sổ ấy. Dĩ nhiên, “món ăn” này không hợp khẩu vị chút nào, nên mới được hai phần cuốn, cha đã thấy rát cổ không nuốt nổi nữa. Phần còn lại cha đành nhai nát rồi giấu dưới gầm phản.

  1. Không man trá.

Như xưa trong Cựu Ước, có cụ Eleazaro không chấp nhận giả bộ ăn của cúng, một số vị tử đạo không chấp nhận mọi hình thức quá khóa trá hình. Nhiều linh mục như cha Tùy, Yến, Khanh, Hưởng, Tịnh…. nhất định không khai man lý lịch là lang y dù được hứa trả tự do.

Nhiều khi quan quân vì thương tình, tìm cách giải gỡ khó khăn lương tâm của các chứng nhân đức tin. Họ yêu cầu các vị giả bộ bước qua Thập Giá chứ không cần làm thực sự: Linh mục Minh, quan chỉ đòi gật đầu là sẽ ký giấy đã bước qua Thập Giá. Nhóm năm người thầy Mậu, Úy, cả các anh Mới, Đệ, Vinh, quan chỉ yêu cầu đi quanh Thánh Giá, riêng với linh mục Yến, quan vẽ một vòng tròn rồi yêu cầu bước qua vòng đó. Nhưng tất cả các vị không thực hiện, vì thấy rõ rệt đó là dấu bỏ đạo.

Trường hợp Thầy giảng Nguyễn Cần, quan nói nhắm mắt bước đại qua Thập Giá, thầy đáp: “Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm”. Một số giáo hữu đã bỏ đạo, dụ dỗ thầy: “Tội nào Chúa chẳng tha, thánh Phêrô chối Chúa ba lần còn làm thủ lãnh Giáo Hội”. Người khác lừa dối: “Cha Retord Liêu nhắn thầy cứ bước qua Thập Giá, rồi về sẽ liệu sau”. Thầy Cần đáp: “Dù thiên thần có xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng chẳng nghe nữa là cha Liêu. Hơn nữa tôi biết chắc ngài không ra lệnh cho tôi như vậy”.

  1. Như một thánh lễ cuộc đời.

Thế nhưng, các vị tử đạo đã không chết vì một lý tưởng, một ý thức hệ hay một tham vọng nào cả. Đối với các ngài yêu mến là Đức Giêsu. Ông Năm Quỳnh khi bị xử giảo, nằm giang tay trên đất còn nói: “Xưa Chúa cũng giang tay thế này để chịu đóng đinh”. Đức cha Sanjurjo An viết: “Chớ gì máu tôi hòa với máu Đức Kitô trên đồi Canvê tẩy rửa tôi sạch muôn vàn tội lỗi”. Linh mục Gagelin Kính nói: “Tôi ước mơ trở thành tro bụi để kết hợp với Chúa Kitô. Tôi giã từ cõi đời này, không hề thương tiếc điều gì, chỉ nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đinh, đủ an ủi tôi mọi đau khổ và cả cái chết nữa”.

Linh mục Dụ tâm sự với người vào tù thăm rằng: “Sức tôi tuy đã giảm, nhưng còn chịu đựng được. Chúa chúng ta đã chịu bao hình khổ để cứu độ nhân loại. Tôi cũng sẵn lòng chịu những sự khó này để nên giống Chúa Kitô phần nào”. Linh mục Hiển lại nói: “Tôi sẵn sàng chết vì Đấng đã chết cho tôi”. Ngoài ra, tất cả các vị tử đạo đều thấy cái chết của mình như một hiến tế, tất cả đều cầu nguyện, hiến dâng đời mình trong những giây phút cuối cùng, và khi biết chính xác ngày xử, các vị thường chuẩn bị tinh thần bằng những hy sinh tự nguyện, hoặc bằng ăn chay hãm mình, hoặc bằng những thời gian dài suy niệm.

Có hai hình ảnh đáng ghi nhớ đặc biệt: Ông Tống Viết Bường, trường hợp đặc biệt xử về đêm, đã tìm cách đi chậm để xin được chết trên nền cũ nhà thờ Thợ Đức, Huế. Chính nơi đã từng bao năm tháng các tín hữu tụ họp dâng lên Chúa hiến lễ tối cao là Đức Giêsu thì cũng tại đây, ông đã hiến dâng chính mạng sống mình.

Hình ảnh thứ hai là giám mục Henares Minh, sau khi học trò yêu quý là thầy Chiểu bị xử trảm, ngài kính cẩn đón lấy thủ cấp của thầy, rồi dâng lên cao như một lễ vật tinh tuyền kính dâng Thiên Chúa. Cả pháp trường đều thinh lặng ngất ngây trong giây phút có một không hai đó, giây phút kết tinh trọn vẹn cuộc đời dâng hiến của một con người, con cái Chúa.

Như vậy, tử đạo chính là một thánh lễ cuộc đời. Lá thư linh mục Hương ngày áp cuộc tử đạo nói rõ lên điều đó: “Giờ long trọng đã điểm, xin chào tất cả mọi người đã thương mến và nhớ đến tôi. .. Trông cậy vào lòng Đức Giêsu nhân từ, tôi tin Ngài tha thứ muôn vàn tội lỗi cho tôi. Tôi tự nguyện dâng hiến máu và mạng sống vì yêu mến Ngài, và vì những linh hồn yêu dấu mà tôi muốn phục vụ hết mình….Ngày mai sẽ là ngày hiến tế của tôi. Xin cho ý Chúa được thể hiện”. Và như Đức Giêsu xưa trên đồi Canvê. Ngài kết thúc bằng lời cầu nguyện: “Trong tay Ngài, lạy Chúa! Con xin phó thác hồn con”

Tóm lại, tử đạo chính là Hiến Tế Tình Yêu. Đoạn thư sau đây của Đức cha Retord Liêu gởi cho linh mục Hương ở trong tù, tuy là một suy niệm dựa vào danh xưng vị thừa sai, nhưng tiềm ẩn bên trong ý nghĩa sâu xa của tất cả các cuộc tử đạo:

“Tôi đã chúc  lành  cho cha  danh  xưng  đẹp đẽ CỐ HƯƠNG, nghĩa là người cha của quê hương, là hương trầm và là hương thơm. Chính lúc này đây, quê hương yêu dấu đó đang xuất hiện cho cha trong ánh huy hoàng, vì cha sắp là một trong những công dân hạnh phúc. Chính lúc này đây Hương trầm quý giá chuẩn bị đốt lên trên bàn thờ tử đạo và bay đến tận ngai Đấng Vĩnh Cửu. Chính lúc này đây, hương thơm đáng ca tụng sẽ làm hài lòng Đức Giêsu như bình hương của cô Madalena, sẽ làm cho thiên thần và loài người, trời và đất hân hoan vì hương thơm ngọt ngào của nó”.

Vậy đó, mọi cuộc tử đạo đều là cuộc tự hiến. Đức cha Cúenot Thể tâm sự: “Nhìn các bạn từng người bước lên bàn thờ tử đạo, tôi thấy mình cô đơn quá, ngày đẹp nhất đời tôi là ngày được hiến tế trên bàn thờ tử đạo”.

Cuộc đời các chứng nhân đức tin chịu đốt cháy trong lao khổ, trong ngục hình, và cái chết đều như trầm hương dâng lên Thiên Chúa, sẽ tỏa hương thơm ngát cho muôn ngàn thế hệ.

III.      TỬ ĐẠO LÀ CHỨNG TỪ

Nguyên việc các vị tử đạo chấp nhận cái chết vì niềm tin đã là một chứng từ mạnh mẽ với mọi người tham dự. Thế nhưng, ngoài chứng từ bằng máu đào, các vị tử đạo còn làm chứng cho nội dung Tin Mừng bằng thái độ của mình với vua quan, bằng sự liên đới nội bộ và nhất là bằng lời nói, giải thích về đạo hoặc truyền giảng Phúc âm ngay trong ngục thất.

1. Thái độ với vua quan

Nói chung, tất cả các anh hùng tử đạo đều tỏ vẻ kính trọng quan quyền, các vị nói năng lịch sự, hòa nhã, thưa bẩm đúng cách. Dường như đối với các vị, phải tìm mọi cách để giúp quan quân gặp được Chân lý của Tin Mừng. Có khi các vị nói rõ rệt ý tưởng đó, như trường hợp linh mục Trạch: “Nếu quan muốn sự sống đời đời, hãy kính lạy Thánh Giá này”. Còn bình thường, các vị ôn tồn, tế nhị giải đáp những thắc mắc, biện bác những dư luận sai lầm. Vì thế, các quan đôi lần biểu lộ tấm lòng mến thương cảm phục, như trong vụ án linh mục Hưởng, viên quan thấy tử tội có dáng dấp một đạo sư, nên hứa hẹn nếu chịu bỏ đạo, sẽ thu xếp cho ngài đến trụ trì chùa Non Nước ở Ninh Bình.

Thừa sai Bonnard Hương tâm sự: “Trước mặt vua quan, tôi có kinh nghiệm cụ thể lời Đức Giêsu: Chú Thánh Linh sẽ nói thay các con. Thực vậy, chưa bao giờ tôi nói tiếng Việt lưu loát và dễ dàng như thế”. Trường hợp Đức cha Cao cho ta thấy các vị tử đạo có lẽ còn coi quan quyền như những tác nhân trong chương trình của Chúa. Khi viên quan vừa đọc xong bản án tử hình, ngài nói: “Thưa quan, từ bé tới nay tôi chưa lạy ai, vì bên Châu Âu có hành vi kính trọng chỉ dành cho Đấng Tối Cao. Nhưng điều tôi vừa nghe làm tôi quá vui mừng, xin được tỏ lòng tri ân của tôi theo lối Đông Phương”. Rồi ngài quỳ xuống định lạy, nhưng viên quan đã kịp cản lại.

 Còn Tiếp

[1] Rodriguez, Martyrologio Priental III, tr. 28, dịch theo bản Tây Ban Nha.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.