THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 6, 2016

  • Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo Ngày 24 tháng 07

Thánh Giuse FERNANDEZ HIỀN

Linh mục dòng Đaminh

(1775 – 1838)

  • Cuộc hội ngộ trong tù.

Khi bị thẩm vấn về các thừa sai, linh mục Fernandez Hiền liền nhận là có quen thân với hai Giám mục Delgado Y và Henares Minh. Cha xin quan cho gặp mặt vì biết hai vị đang bị giam cầm gần đấy. Cuộc gặp gỡ kéo dài gần tiếng đồng hồ, mỗi vị một cũi, nhưng cũng đủ để ba vị thủ lãnh địa phận Đông trao đổi, an ủi và khích lệ nhau. Đức cha Delgado Y vì bệnh nặng nên ít nói hơn. Nhưng bỗng nhiên ngài hỏi cao giọng bằng tiếng Việt, chắc có ý cho quan quân nghe được: “Này cha bề trên phụ tỉnh, cha có sẵn lòng tự nguyện để người ta chém đầu chưa?” Không chút ngần ngừ, cha chính Hiền trả lời: “Dĩ nhiên đã sẵn sàng.” Các quan và lính tráng có mặt hôm ấy đều ngạc nhiên hết sức khi thấy những tù nhân của họ nói đến cái chết cận kề, mà vẫn bình tĩnh, nếu không nói là vui vẻ nữa.

Hai ngày sau, tâm tư của cha Hiền được khẳng định rõ hơn cho các quan: “Xin các ngài biết cho, không bao giờ tôi chà đạp Thánh Giá. Còn việc về nước (Tây Ban Nha) thì tôi không muốn, vì tôi đến đây với ước nguyện là giảng đạo Chúa Kitô, đạo chân chính duy nhất giúp con người sống tốt đẹp ở đời này và đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Tôi sẵn sàng lấy máu mình để làm chứng cho người dân Việt biết đạo Thiên Chúa là đạo thật. Đó là mục đích và niềm vui của tôi.”

  • Hành trình rao giảng.

Giuse Fernadez sinh ngày 13.12.1775 trong một gia đình đạo đức ở Ventosa de la Cuesta, tỉnh Velladolid, địa phận Avila, Tây Ban Nha. Cha mẹ cậu rất hân hoan khi cậu xin vào dòng Đaminh, và coi đó là một vinh dự cũng như đặc ân Chúa ban cho gia đình. Tại tu viện thánh Phaolô (ở Velladolid) cậu tuyên khấn ngày 02.08.1796, khi mới 27 tuổi. Sau đó thầy Fernandez học triết lý và thần học, rồi thụ phong linh mục.

Để thực hiện hoài bão truyền bá Tin Mừng cho miền Viễn Đông, cha Fernandez xin chuyển qua tỉnh hạt Rất Thánh Mân Côi và tới Manila (Phi Luật Tân) ngày 16.04.1805. Từ đây ngài đến Macao cùng với ba cha dòng Đaminh khác: Luis Villanova, Giacôbê Matthêo và Manuel Gonzalez. Ngày 08.02.1806, bốn tu sĩ thuyết giáo theo một tầu cùa Anh vào bến Cửa Hàn (Đà Nẵng). Từ đây, bốn vị riêng lẻ đi bộ lên địa phận Đông Đàng Ngoài, trời có bão, các thuyền bè không ai dám chở. Tháng 6 năm đó, cha Fernandez đến được trụ sở Bề trên phụ tỉnh.

Việt Nam thời này đang dưới quyền Gia Long, các thừa sai tương đối tự do giảng đạo. Sau một vài tháng học tiếng Việt, vị tông đồ trẻ tuổi đã bắt tay ngay vào việc truyền giáo cách hăng say. Với bản tính hiền lành, khiêm tốn và nhã nhặn, cha Hiền được mọi người cả giáo lẫn lương đều quí mến. nhờ đó cha đã giúp nhiều lương dân đón nhận đức tin, nhất là tại làng Xuân Dục.

Giáo xứ cha Hiền phụ trách lâu nhất là Kiên Lao, nơi cha đã nâng số tín hữu lên đến 5.000 khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng bùng nổ. Từ đây cha phụ trách chủng viện của địa phận. Năm 1837, sau một cơn bệnh kiết lỵ súyt chết, tỉnh dòng trao cho chức vụ Bề Trên phụ tỉnh. Cha vâng lời nhận trách nhiệm với sự trợ giúp của linh mục phụ tá Hermosilla Vọng. Tuy làm cha chính có vài tháng, cha đã phải lãnh trách nhiệm trong giai đoạn bão tố của địa phận Đông. Những lá thư của cha Viên bị tịch thu đã tố cáo sự hiện diện của các linh mục ngoại quốc tại Nam Định.

  • Cô đơn và niềm an ủi.

Trong cơn truy lùng gắt gao của Tổng đốc Trịnh Quang Khanh năm 1838, cha Hiền đang ở chủng viện Ninh Cường, được giáo dân yêu cầu dọn đi nơi khác: “Xin cha thương chúng con mà lánh đi nơi khác, kẻo nếu họ bắt được cha ở đây, chúng con sẽ mất hết tài sản và có lẽ mất cả đầu nữa.” Thế là vị linh mục 63 tuổi đang mang trọng bệnh, đành phải ra về Quần Liêu, có hai thầy giảng theo giúp đỡ ngài.

Khi cha đến Quần Liêu, giáo hữu ở đây cũng lo sợ không kém bên Ninh Cường. Vì sợ liên lụy, họ đã xin ngài đừng ở lại. Một lần nữa, cha Hiền và hai thầy giảng lại ra đi mà không biết đến đâu, vừa đi vừa nghĩ đến tấm gương của Thầy Chí Thánh: “Cáo có hang, chim trời có tổ, còn Con Người không có chỗ gối đầu.” Nhưng may mắn thay, đang tình trạng bế tắc đó thì một linh mục Việt Nam xuất hiện.

Cha Phêrô Tuần đang coi xứ Lác Môn khi biết tin, liền đến Quần Liêu can thiệp. Cha trách các tín hữu ở đây bội bạc, và yêu cầu họ cho cha Hiền lưu lại vài ngày. Cha Tuần cũng quyết định ở lại để tìm chỗ ẩn mới cho vị thừa sai. Hai ngày qua, khi cha vượt sông qua địa phận Tây Đàng Ngoại, ghé vào xứ Kim Sơn. Nhưng vừa đến nơi thì hay tin quan tỉnh Nam Định đã ra lệnh cho quan địa phương lùng bắt hai vị rồi. Dân xứ Kim Sơn vì thế không dám lưu giữ, họ mời hai linh mục lên một chiếc thuyền nhỏ, rồi đưa các ngài vào vùng sình lấy gần đó. Địa điểm này tuy an toàn không bị truy lùng, nhưng quá là gian khổ vì bùn lầy tanh hôi, ban ngày thì nắng cháy da, đêm về thì làm mồi cho muỗi đốt.

  • Con đường Thập Giá.

Cũng may có cha xứ Kim Sơn khi biết tình trạng bi đát của hai chứng nhân đức tin liền tìm cách thu xếp. Hai ngày sau, ngài cho người rước hai cha về trú ở nhà ông Bát Biên (hàm Bát Phẩm), là người thọ ơn cha xứ nhiều lần. Hơn nữa, người này ngoại giáo nên ở đấy an toàn hơn. Thực tế Bát Biên được vua Minh Mạng tăng thêm một cấp quan và thưởng cho 100 nèn bạc.

Đêm hốm đó, hai môn đệ Chúa Kitô bị giam tại huyện, các ngài giải tội cho nhau và khích lệ nhau chịu đựng gian khổ dù phải chết. Sang hôm sau, quân lính điệu hai cha lên Ninh Bình, Cha Hiên bị nhốt trong cũi tre, cha Tuần phải mang gông nặng. Ngày 22.06, hai cha lại được giải về Nam Định, các quan và lính võ trang ra đón hai cha giữa tiếng hò reo chiến thắng. Sau đó, họ giam mỗi vị một nơi.

Ngồi bó gối trong cũi tại ngục Nam Định, cha Hiền phải chịu đói khát, và nhất là cơn nóng nực. Có lẽ ngài đã chết tại đó nếu không được anh Đường, một tín hữu tốt bụng đến tiếp cứu. Anh đã bỏ tiền ra mua chuộc lính gác để đựợc vào tiếp tế mỗi ngày một ít lương thực. Mấy ngày đầu, anh còn phải giúp ngài từng miếng cơm, ngụm nước vào miệng vị linh mục quá kiệt sức đến độ tự mình không thể ăn uống được nữa.

Một tháng trong tù, nhiều lần cha bị đưa ra tòa để đối chất. Quan Tổng đốc mới Lê Văn Đức điều tra ngài về lý lịch, đến đây làm gì, bao lâu? Cha cố trả lời vắn tắt để không liên lụy đế ai. Cha nói: “Từ ngày vua cấm đạo, chúng tôi mạnh ai nấy trốn, chẳng biết ai ở đâu cả.” Quan hứa sẽ tâu vua đặt cha làm thông dịch viên nếu chịu bỏ đạo, cha đáp: “Tôi đến đây không để phục vụ vua chúa trần gian này mà chỉ để rao giảng đạo Đức Chúa Trời thôi.” Thế rồi, cha xin được gặp hai Đức cha đã bị giam trước, và bình tĩnh tỏ lòng sẵn sàng chết vì đức tin theo vị chủ chăn của mình. Thấy không thể làm cha bỏ đạo, đạp lên Thánh Giá, các quan họp nhau và lên án trảm quyết ngài. Bản án của cha và cha Tuân được vua Minh Mạng châu phê tới Nam Định ngày 18.07. Cha Phêrô Tuần vì tuổi già sức yếu, đã về với Chúa trước đó ba ngày.

  • Giây phút vinh quang.

Khoảng hai chờ chiều, quan quân mới đưa vị linh mục đến pháp trường Bẩy Mẫu. Khi quân lính kéo ngài ra khỏi cũi và ném lên chiếu, ngài hầu như không gượng dậy nổi, phần thì đau mệt, phần thì đói lả, ngài nằm sõng soài ra đó. Tuy thế, cặp mắt của vị anh hùng vẫn hướng về trời cao, dâng lên Thiên Chúa hy tế đời mình và dâng lời cảm tạ sốt sắng qua 32 năm đã được phúc làm chứng cho Thiên Chúa ở Việt Nam. Lý hình vung gươm xử chém đang lúc vị chứng nhân còn chìm sâu trong ý nguyện.Sáng 27.04, trước khi đem đi xử, các quan còn khuyên dụ cha Hiền lần cuối: “Lát nữa ông sẽ bị chém đầu nếu không đạp lên Thập Giá. Hãy quyết định lại đi, ông sẽ được tha về Âu Châu”. Vị chứng nhân trả lời: “Tôi không chịu đạp lên Thánh Giá, các ông muốn chém thì cứ chém.” Sau đó nhốt cha trong tù, các quan để mặc dân chúng đến xem chế nhạo. Họ kéo đến chỗ nắng, bứt tóc giật râu hoặc thò tay đấm vào người cha.

Đầu vị tử đạo phải bêu ba ngày trước khi bị ném xuống sông. Các giáo hữu đem áo quan theo sẵn, đút tiền để đưa thi hài ngài về an táng tại chủng viện Lục Thủy. Hiện nay hài cốt ngài còn để tại nhà thờ Phú Nhai.

Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn cha Fernandez Hiền, dòng Đaminh, lên bậc Chân Phước.

Ngày 28 tháng 07

Thánh Giuse Melchior Garcia

SAMPEDRO XUYÊN

Giám mục dòng Đaminh

(1821 – 1858)

  • Phác họa một chân dung.

Thánh Giuse Sampedro Xuyên với 37 tuổi đời, chín năm truyền giáo, ba năm Giám mục (hai năm làm Giám mục phó. . .), những con số tương đối khiêm tốn, nhưng sự nghiệp của thánh nhân thật lẫy lừng vì ngài đảm nhiệm một địa phận lớn nhất khi đó (154.000 người) và là địa phận chịu bách hại nặng nề nhất. Hơn nữa, cuộc đời ngài mãi mãi là mẫu gương sáng ngời của một người luôn sống có lý, có tình, trung thành từ những việc nhỏ, khắc khổ hãm mình, nhiệt tâm truyền giáo, chuyên chăm cầu nguyện và đặc biệt là lòng sùng kính Đức Mẹ.

  • Tuổi xuân đầy hứa hẹn

Giuse Melchior Garcia Sampedro Xuyên sinh ngày 29.04.1821 tại San Pedro de Arrojo, tỉnh Oviedo, Tây Ban Nha. Gia đình cậu tuy thuộc dòng dõi quí tộc, nhưng đã sa sút đến chỗ nghèo khổ. Ngay từ nhỏ, Melchior đã bộc lộ khuynh hướng đạo đức của mình. Cậu thích tụ tập những em nhỏ để dậy kinh. Trong giờ đọc kinh ban tối ở gia đình, cậu sốt sắng nhận phần xướng kinh và nghiêm trang quỳ suốt buổi kinh.

Năm 12 tuổi, Sampedro có ý xin đi tu làm linh mục. Cha mẹ cậu tuy nghèo nhưng vẫn vui vẻ dành dụm gởi con theo học tiếng Latinh với tu sĩ Alvarez, để tiết kiệm cho gia đình, cậu quyết định đi bộ mỗi ngày đến trường. Những ngày nghỉ, cậu về giúp song thân trong việc đồng áng. Năm 1835, cậu phải xin dậy học tư gia và phải thường xuyên dùng sách mượn. Nhờ chăm chỉ, cậu đã đạt thành quả cao trong các kỳ thi.

Từ năm 1842, tuy vẫn còn học, Sampedro đã được mời làm giáo viên dậy văn chương, La ngữ và âm nhạc tại trường San Jose. Năm 1844, khi đã tốt nghiệp triết học và thần học, thầy được chọn làm giáo sư phụ tá dậy luân lý cho các tân sinh viên. Để chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của gia đình, mỗi kỳ thi, thầy đều trở về quê phụ giúp cha làm ruộng. Khi học sinh tỏ vẻ ngạc nhiên, thầy nói: “Không có việc nào làm mất danh dự, nếu nó không trái với ý Chúa. Chính Chúa trên trời cũng đã chọn sinh ra nơi hang đá và nằm trong máng cỏ.”

Ngoài ra trong các kỳ nghỉ hè, thầy Sapedro vẫn dậy giáo lý cho các em thiếu nhi để lãnh nhận các bí tích. Dân chúng trong vùng tỏ vẻ mến phục thầy và quen gọi là “ông cầu nguyện” vì thời gian dài “ông cầu nguyện” quỳ trước Thánh Thể cũng như tập quán thầy giữ suốt đời là đọc và suy niệm sốt sắng mầu nhiệm Mân Côi mỗi ngày.

  • Tu sĩ thuyết giáo.

Thế nhưng thầy Sampedro chưa thấy vậy là đủ, thầy cảm thấy Chúa kêu gọi mình hiến thân cho ngài một cách trọn vẹn hơn trong việc truyền giáo cho lương dân. Thầy xin vào tỉnh dòng Đaminh Mân Côi để loan báo Tin Mừng ở Viễn Đông, dù gia đình phản đối mãnh liệt, dù lời ngăn đe và nước mắt, thầy đã cương quyết từ bỏ chức giáo sư, đến Ocãna, trung tâm huấn luyện của tỉnh dòng. Thầy lãnh tu phục ngày 16.08.1845 khi đã 24 tuổi. Ngày 18.08.1846, thầy tuyên khấn trọng thể trong dòng Đaminh.

Vì đã mãn khóa thần học ở Oviedo, bấy giờ thầy Sampedro chuẩn bị lãnh các chức thánh và thụ phong linh mục ngày 29.05.1847 tại Madrid, rồi ngày 06.06 vị tân linh mục dâng thánh lễ mở tay ở Ocãna. Chín tháng sau, cha Sampedro từ Cadiz đi theo tầu Victoria cùng bốn bạn đồng hành sang Manila ngày 25.07.1848 nhằm lễ thánh Giacôbê. Khi đến nơi, Bề trên đã sắp đặt để cha phụ trách khoa triết lý cho trường đại học Santo Tomas, nhưng cha xin phép trình bầy ý nguyện đi truyền giáo ở Việt Nam, và Bề trên đã chấp thuận.

Chỉ ba tháng, cha đáp tầu đến Macao, rồi đến Đông Xuyên ngày 28.02.1849 đem theo hai sắc lệnh của Tòa Thánh bổ nhiệm hai Đức cha Hermosilla Liêm và Marti Gia coi sóc hai địa phận Đông và Trung mới được phân chia. Sau một thời gian học hỏi kinh nghiệm với vị giám mục lão thành Hermosilla, cha Sampedro được ngài đặt tên mới là Xuyên.

Sau đó, Đức cha Liêm gửi cha đến Nam Am học tiếng Việt và phục vụ ở đó cho đến tháng 03.1850 thì được Đức cha Sanjurjo An đặt làm giám đốc chủng viện ở Cao Xá. Tháng 7 năm đó, cha được làm đại diện Bề trên phụ tỉnh, và tháng 8.1852 thì nhận chức Bề trên phụ tỉnh, chu toàn trách nhiệm giáo dục của mình, cha Sampedro còn nêu gương cho các chủng sinh về đời tông đồ truyền giáo. Cha giữ luật chay tịnh, hãm mình theo luật dòng, mặc áo nhặm và gia tăng nhiều việc hy sinh khác. Ngoài ra, cha còn xuất bản nhiều tập sách nhỏ truyền bá đức tin, và đi giảng cho lương dân. Đức cha An xác nhận cả một họ đạo mới thành lập gồm 54 gia đình, 500 tín hữu ở gần Cao Xá là kết quả lòng nhiệt thành của cha Bề trên Sampedro Xuyên.

  • Giám mục trong cơn bách hại.

Tháng 8.1852, Đức cha Sanjurjo An lên kế vị Đức cha Marti Gia (qua đời ngày 26.08). Vì địa phận quá đông, ngài xin phép Tòa Thánh để chọn cha Sampedro làm Giám mục phụ tá hiệu tòa Tricomia. Lễ phong chức được cử hành rất trọng thể ngày 16.09.1855 tại làng Bùi Chu, với sự hiện diện của hai Giám mục, 49 linh mục và rất đông giáo hữu. Trong chức vụ mới, Đức cha Sampedro Xuyên càng nhiệt thành hơn với việc truyền bá đức tin. Trong hòan cảnh nạn dịch lan tràn, việc rửa tội cho trẻ em ngoại đạo sắp chết gia tăng rất nhanh. Chỉ trong nắm 1855 được 35.349 em được rửa tội.

Dầu hoàn cảnh khó khăn, Đức cha Xuyên vẫn lén lút đi thăm các họ đạo, và phải thi hành việc phục vụ hầu hết vào ban đêm. Tháng 5.1857, khi Đức cha An bị bắt, Đức cha Xuyên tìm mọi cách để đưa ngài ra, nhưng việc chưa thành thì Đức cha An đã bị xử tử vào ngày 20.07.

Cuộc bách hại ngày càng gia tăng, quan quân triệt hạ các nhà thờ Bùi Chu, Lục thủy, Phú Nhai, bệnh viện, cô nhi viện và các chủng viện. Tổng đốc Nguyễn Đình Tân hăng hái quyết lùng bắt hết các giám mục, linh mục trong khu vực của ông. Thủ cấp của Đức cha Xuyên được treo gíá cao nên khắp nơi đều có người rình bắt ngài.

Về phần Đức cha, sợ địa phận có ngày mất chủ chăn, đã dùng quyền Tòa Thánh để chọn cha Berrio Ochoa Vinh làm giám mục phụ tá có quyền kế vị. Lễ tấn phong âm thầm có một không hai cho vị giám mục “gậy tre mũ giấy” này đã được cử hành trong một nhà giáo hữu ngày 13.06.1858 ở Ninh Cường.

Điều hành địa phận trong những ngày khó khăn, cuộc sống của Đức cha Xuyên nổi bật về lòng đạo đức và tinh thần cầu nguyện. Ngài thường tự xưng là “kẻ tội lỗi khốn khổ”. Ngài thường khuyên người khác: “Hãy nhìn những khuyết điểm của tha nhân để sửa mình và sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mọi người.” Đức cha vẫn luôn mặc áo nhặm và suy gẫm chuỗi Mân Côi, mỗi ngày suy niệm về Đức Mẹ Sầu Bi, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, mẫu gương hiệp thông với những đau khổ của Chúa. Đặc biệt, vì tôn kính Đức Mẹ, ngài luôn khởi đầu thư từ và các buổi nói chuyện bằng lời chúc tụng AVE MARIA.

  • Ngục tù và án lăng trì.

Sau lễ tấn phong cho vị giám mục phụ tá, Đức cha Xuyên đi lên Quần Cống, rồi qua thôn Đông vài ngày, và đến Kiên Lao tạm trú tại nhà ông Trùm Khanh. Ngày 08.07.1858, quân lính đã vây bắt được ngài và hai chú giúp lễ: Đaminh Nguyễn Tiệp và Mai Hiên. Quan bắt Đức cha mang gông xiềng nặng nề và giải ba cha con lên tỉnh Nam Định.

Sau 20 ngày trong ngục, Đức cha lãnh án lăng trì ngày 28.07.1858. Trên đường ra pháp trường Bẩy Mẫu, đi sau đám lính đông đảo và lý hình 20 người tuốt gươm trần, Đức cha Sampedro Xuyên một tay cầm sách nguyện, một tay giơ lên ban phép lành cho dân chúng. Tuy nhiên cũng có kẻ lấy bùn ném vào ngài.

Tại pháp trường, hai cậu Tiệp và Hiến đón nhận phép lành của Đức cha, rồi đưa cổ chịu chém. Sau đó lý hình xô vị Giám mục nằm sấp trên chiếu có phủ vải sẵn, tước hết y phục, chỉ để ngài mặc chiếc quần cụt. Rồi họ cột chân tay thật căng vào bốn cọc ở bốn phía, và thêm hai cọc ở dưới nách để nạn nhân khỏi cựa quậy.

Năm lý hình cầm sẵn 5 cái rìu chờ lệnh quan án sát ra dấu, lần lượt từng người thi hành nhiệm vụ. Họ chặt từng chân, từng cánh tay rồi mới chặt đầu. Máu tuôn ra đọng lại thành vũng, trong khi vị tử đạo vẫn giữ được vẻ mặt bình tĩnh, không ngừng kêu tên Chúa Giêsu cho đến khi tắt thở.

Mấy phút sau, quân lính mổ bụng ngài, cắt buồng gan giơ lên cao và nói: “Xem này! Gan Tây thật là to!”, rồi họ chia nhau ăn. Cuối cùng họ đẩy thi thể ngài xuống một hố sâu, lấp đi và muốn cho voi giầy xéo nữa. nhưng dù họ thúc giục hò la mà đàn voi vẫn không đạp lên hố. Thủ cấp của vị tử đạo sau ba ngày bị bêu nơi công cộng, quân lính băm nát rồi ném xuống sông. Đến sau các giáo hữu đưa thi thể của Đức cha về mai táng tại Phú Nhai. Năm 1888, thi hài được dời về quê hương Oviedo, nhưng tay phải của ngài thì để lại Bùi Chu, và tay trái được đưa về Manila, sau bị thất lạc trong Thế Chiến Thứ Hai vì bom đạn.

Ngày 29.04.1951, Đức cha Piô XII đã suy tôn Đức cha Giuse Melchior Gracia Sampedro Xuyên lên bậc Chân Phước cùng với Đức cha An và 23 vị tử đạo người Việt Nam.NB

Ngày 31 tháng 07

Thánh Phêrô ĐOÀN CÔNG QUÝ

Linh mục (1826 – 1859)

  • Những năm thơ ấu.

Ông Antôn Đòan Công Miêng và bà Anê Nguyễn Thị Thường sinh sống ở Bắc Việt cho đến năm 1820. Cả gia đình di cư vào Nam ở tại họ Búng, làng Hưng Thịnh, tổng Bình Thạnh, hạt Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương). Năm 1826, người con trai út, Phêrô Đoàn Công Quý chào đời. Đây là người con thứ sáu trong gia đình và là hy lễ của gia đình ông Miêng hiến dâng cho Thiên Chúa.

Vì thấy vị con út thông minh, nên ông Miêng cố lo liệu để cậu chuyên chăm lo việc học vấn, với hy vọng mai sau nối dòng thi lễ, làm vẻ vang cho cả gia tộc. Nhưng Thiên Chúa muốn cho người con út này đi theo con đường khác. Cậu Quý thường lui tới gặp gỡ và học hỏi cha Tám ở nhà thờ họ Búng. Một thời gian sau, cậu xin phép cha mẹ được ở luôn với người, thỉnh thoảng mới về thăm gia đình.

  • Theo tiếng Chúa gọi.

Năm 1847, cha Tám giới thiệu chàng trai 21 tuổi này với cha Gioan Miche Mịch để được học hỏi tiếng Latinh và tiếp tục theo đuổi ơn gọi tu trì. Sau khi học tiếng Latinh tại nhà cha Mịch, cậu Quý được học tại Chủng viện Thánh Giuse (Thị Nghè) do cha Borelle làm giám đốc. Năm 1848, thầy Quý được du học tại đại chủng viện của Hội Thừa Sai Paris ở Pénang (Mã Lai). Tại đây, thầy học triết lý và thần học, ngôn ngữ, văn chương. Việc huấn luyện như thế là khá đầy đủ cho một linh mục thuộc miền truyền giáo trở về hoạt động tại quê hương.

  • Trên con đường sứ vụ.

Năm 1855, thầy Quý hồi hương vào thời kỳ vua Tự Đức ra sắc chỉ cấm đạo gắt gao. Tháng 09.1855, vua Tự Đức ra chiếu chỉ thứ ba, trong đó không ngừng lùng bắt các đạo trưởng, mà còn bắt cả giáo hữu phải xuất giáo, triệt hạ các thánh đường, phá hủy các cơ sở tôn giáo .. . Với hoàn cảnh bất lợi này, Đức cha Lefèbvre Nghĩa trao cho thầy nhiệm vụ săn sóc, dậy dỗ, động viên các giáo hữu tại các họ đạo. Qua một thời gian hoạt động, thầy tỏ ra là người nhiều khả năng, nên Đức cha đã truyền những chức nhỏ cho thầy. Sau ba năm thi hành việc mục vụ tại các giáo họ, tháng 09.1858, thầy Quý được lãnh chức linh mục tại nhà thờ Thủ Dầu Một. Sau một thời gian phục vụ các giáo xứ Lái Thiêu, Gia Định và Kiến Hòa, Đức cha bổ nhiệm cha Phêrô Quý làm phó xứ Cái Mơn (Vĩnh Long).

Cha Phêrô Quý được tuyển chọn vào cánh đồng truyền giáo trong giai đoạn đặc biệt của đất nước: Pháp và Tây Ban Nha đem quân đánh phá ở Cửa Hàn (Đà Nẵng) vào tháng 09.1858 làm cho vua Tự Đức càng thêm căm ghét các gíao sĩ nước ngoài và đạo Thiên Chúa. Do đó, cuộc bách hại ngày càng khốc liệt hơn. Nhưng nhiệt tình truyền giáo đã làm cho cha Quý vượt thắng mọi gian khổ, đe dọa, hiểm nguy. Chỉ ba tháng sau khi cha về Cái Mơn, quân lính bao vây dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn để lùng bắt giáo sĩ, nhưng không có vị nào ở đó, nên lính bắt giam một số nữ tu để tra tấn, khai thác các chị về chỗ ở của các ngài. Nghe tin các nữ tu bị bắt, cha Quý muốn nộp mạng để lính tha cho chị em, nhưng giáo hữu ngăn cản và không để cha thực hiện ý định này. Cha vẫn ao ước sẵn sàng hy sinh để thế cho các chị. Cha chỉ bỏ ý định này khi có lệnh rõ ràng của cha Bề trên địa phận Borelle Hòa. Từ đó, cha cải trang thành thường dân, đi thăm viếng, an ủi và ban các bí tích cho các giáo hữu.

  • Chặng đường khổ giá.

NB Theo bản án của vua Tự Đức, Đức cha Xuyên bị ghép vào tội theo Lê Văn Phụng. Nhưng Tòa  Thánh có một thư chung của ngài gửi cho địa phận (Đức cha Vinh có nói đến) cấm nổi loạn và còn ra vạ tuyệt  thông  chỉ  mình  ngài  có quyền  giải  (Xe Diquitie  RPD Promotoris Fidei super intro causae, I, tr. 17-19).

Đức cha bổ nhiệm cha Quý về giáo họ Đầu Nước ở Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang ngày 27.12.1858 thì mười ngày sau (07.01.1859) quan Tổng đốc An Giang được mật báo có Tây dương đạo trưởng trú ẩn tại nhà ông Lê Văn Phụng ở Đấu Nước. Quan sai 100 quân lính đến bao vây nhà ông Phụng. Khi lính gần đến làng, giáo hữu đến báo tin cho gia đình ông Phụng. Nghe tin này, cha Pernot Định đã đề nghị với cha Quý cùng đi trốn, nhưng cha Quý bình tĩnh trả lời: “Tôi là người bản xứ chắc quan quân khó nhận ra, cha cứ đi trước, tôi ở lại thu dọn đồ lễ để khỏi gây phiền hà cho chủ nhà và giáo họ, rồi sẽ theo sau.” Sau khi cha Pernot ra khỏi thì quan quân ập tới. Cha Quý chạy vào ẩn nấp dưới sàn nhà, quan ra lệnh cho ông Phụng phải nộp đạo trưởng Tây như đã được mật báo. Ông Phụng cương quyết trả lời là không có ai là đạo trưởng Tây cả. Quan dọa là nếu không tuân lệnh thì sẽ bị đánh đòn. Thấy lính sắp sửa đánh đòn chủ nhà, cha Quý tự ra nhận mình là đạo trửơng. Lính không chịu nghe và nói chắc chắn là có tên đạo trưởng Tây ở trong nhà này. Cha Quý lại cương quyết khẳng định: “Không có Tây dương đạo trưởng nào ở đây, chỉ có tôi là đạo trưởng. Ai muốn theo đạo tôi sẵn sàng chỉ dậy.”

Thấy cha Quý còn trẻ, quan không tin ngay, liền hỏi em nhỏ 10 tuổi, cháu nội của ông Phụng xem đạo trưởng là ai. Nó chỉ vào cha Quý và thưa: “Bẩm, ông này ạ!” Lính liền trói cha Quý, ông Phụng và 32 giáo hữu, rồi xiềng xích giải về Châu Đốc. Đến Châu Đốc, linh áp giải cha Quý đến quan Tổng đốc. Quan thẩm vấn cha nhiều điều và hứa sẽ tha cho về nếu cha tuyên bố bỏ đạo, theo như chiếu chỉ nhà vua. Nhưng cha Quý vẫn cương quyết nhận mình là đạo trửơng, không bao giờ bỏ đạo Thiên Chúa.

Lần khác, quan nói với cha: “Thầy là người thanh liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao lại mê theo tà đạo, hãy nghe ta mà bỏ đạo đó đi.” Cha Quý trả lời: “Dạ, thưa quan, tôi là người giảng dậy đạo này, sao lại có thể bỏ đạo cho được? Và nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dậy những điều tốt lành, chứ không phải là tà đạo như quan hiểu lầm đâu.” Quan ra lệnh tống giam cha và sau đó dùng nhiều phương kế dụ dỗ đe nạt, tra tấn, hòng làm thay đổi lập trường của cha. Nhưng cha vẫn một lòng trung kiên với chính đạo. Sau cùng, quan thảo bản án trảm quyết gửi về kinh đô. Bẩy tháng trong ngục, cha Quý động viên các bạn tù, cử hành bí tích, nguyện ngắm và đọc kinh Mân Côi với họ. Một số giáo hữu đến thăm cha, có cả linh mục bản quốc cải trang để vào giải tội và cho cha rước Thánh Thể.

  • Tình thương thân mẫu.

Đã sống trong cảnh tù ngục, cha Quý vẫn tưởng nhớ đến thân mẫu của mình (thân phụ đã qua đời). Cha gửi thư kính thăm và báo tin cho thân mẫu biết tin mình sắp được phúc tử đạo:

“Ký vụ thân mẫu đôi chữ tường tri

Kể từ ngày con vâng lệnh ra đi

Lòng lã chã lụy rơi luồng lụy

Ngỡ tới đây hành công biện sự

Một hai tháng về viếng từ thân

Ai ngờ rầy sớm tách lìa phân

Trời cùng nước không hề vầy hiệp

Hễ đạo làm tôi đua giữ lời răn dậy

Cho nên con vâng lệnh chỉ sai

Đàng xa xôi cách trở lại chi nài

Miễn đặng tiếng vâng lời chịu lụy

Khi con tới An Giang tạm nghỉ

Gặp chân trời mở hội khoa thi

Nên con phải liều công ứng cử

Ấy là Thiên Chúa nhi sổ nhiên

Nhơn tất tùng chi, nhi dĩ hỉ

Dầu trăng trói, gông cùm tù rạc

Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề Miễn vui lòng cam chịu một bề

Cho trọn đạo trung thần hiếu tử

Chí con dốc đền công ơn Chúa

Dạ con làm báo nghĩa mẹ cha

Xin mẫu tử chớ chút phiền hà

Một cam chịu cho danh Cha cả sáng.

. . .

Nay thơ,

Thần tử Bá Đa Lộc Đoàn Công Quý,

Linh mục bổn quốc.”

  • Sau ba tiếng chuông ngân.

Ước vọng hiến dâng trọn ven cuộc đời cho Thiên Chúa của cha Phêrô Đoàn Công Quý đã được chấp nhận. Ngày 30.07.1859, bản án trảm quyết cha được gửi từ kinh đô về đến Châu Đốc cùng với bản án ông Emmanuel Lê văn Phụng. Sáng hôn sau (31.07), cha Quý và ông Phụng hớn hở đi ra pháp trường ở xóm Chà Và cùng với quan quân và giáo hữu. Người lính đi trước tay cầm tấm thẻ của cha Quý và thỉnh thoảng đọc to:

“Tự Đức thập tam, An Giang tỉnh, kỷ vị niên, thất nguyệt, sơ nhị nhật. (Tự Đức thứ 13, tỉnh An Giang, năm Kỷ vị, tháng 7 ngày 2. . .)

Thẻ: Đạo trưởng Đoàn Công Quý, tùng gia đạo, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư: Bất kháng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.” (Đạo trưởng Đoàn Công Quý, tùng gia đạo, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư: Bất kháng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.)

Đến nơi xử án, hai vị chứng nhân Chúa Kitô: cha Quý và ông Phụng, cùng quỳ xuống cầu nguyện. Sau đó, cha Quý giải tội cho ông Phụng. . . Giờ hành xử đã đến, ba tiếng chuông vang lên giữa pháp trường, lý hình chém cha Quý ba nhát gươm, đầu cha lìa khỏi thân mình và rơi xuống đất. Vị tử đạo từ giã cõi đời trở về quê hương vĩnh cửu với tuổi đời 33, sau một năm thi hành chức vụ linh mục. Thi hài vị tử đạo được an táng tại nhà thờ Năng Gù, sau đựơc cải táng về chủng viện Cù Lao Giêng năm 1959, nhân dịp bách chu niên cuộc tử đạo.

Đức Thánh  Cha Piô X suy tôn Chân Phước cho cha Phêrô Đòan Công Quý ngày 02.05.1909.

Còn Tiếp

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.