THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – SỐ THÁNG 8, 2017

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI – Tiếp Theo

Ngày 06 tháng 12

Thánh Giuse NGUYỄN DUY KHANG

Thầy giảng dòng ba Đaminh (1832 – 1861)

  • Một môn sinh trung thành.

Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang được các tín hữu Việt Nam tôn kính trong số bốn thánh tử  đạo Hải Dương.   Tuy thánh nhân tử đạo sau hơn một tháng, nhưng vẫn được chung vinh dự với linh mục Almate Bình, hai giám mục Valentinô Vinh va Hermosilla Liêm, vì đã cùng chung lao khổ với ba vị huynh trưởng đó trong dòng Đaminh.

Là người trợ tá của Giám mục Hermosilla Liêm, thầy Giuse Khang đã theo sát người cha chung của địa phận Đông Đàng Ngoài trong những ngày lưu lạc. Rồi khi quân lính vây bắt Đức cha thì với nhiệt tâm của thánh Phêrô tông đồ xưa trong vường Cây Dầu, thầy định dùng võ lực để chống cự. Nhưng sau cùng, thầy đã nghe lời của vị mà mình muốn bảo vệ. Thầy chấp nhận bị bắt để làm chứng cho điều cao thượng hơn: Làm chứng cho tình thương, cho lòng nhân ái thứ tha của Tin Mừng.

  • Một tu sĩ đạo đức.

Giuse Nguyễn Duy Khang chào đời năm 1832, tại Cao Mại, xã Trà Vi, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cha mẹ cậu là những giáo hữu đạo đức, hướng dẫn các con vào đời sống đạo ngay từ nhỏ. Nhưng cha cậu sớm qua đời, cậu được mẹ săn sóc tận tình. Bà lo liệu cho cậu được học hành, gợi cho cậu ý muốn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và gởi cậu vào nhà Đức Chúa Trời giúp việc cho cha Matthêu Năng dòng Đaminh.

Sau mười năm sống với linh mục lão thành thánh thiện này, cậu Giuse Khang được cha gửi vào chủng viện Kẻ Mốt để học tiếng Latinh, chuẩn bị cho sứ vụ linh mục tương lai. Giai đoạn này thầy Giuse Khang xin gia nhập dòng Đaminh, và được anh em tín nhiệm vào làm trưởng tràng điều hành mọi công việc trong nhà như lao động, nấu ăn, liên lạc với các bề trên. Mặc dù bận rộn, thầy Khang vẫn nêu gương sáng cho anh em trong việc học hành và kỷ luật. Những ai đã tiếp xúc với thầy đều nói thầy đạo đức, có tính cương trực, nhưng lại luôn luôn hòa nhã với hết thảy mọi người.

Khi đó, Đức cha Hermosilla Liêm cũng ở Kẻ Mốt đã tín nhiệm thầy cách đặc biệt và chọn thầy làm người phụ tá riêng. Thầy Khang vui vẻ phục vụ Đức cha cách tận tình: từ việc dọn bàn thờ, sắp xếp các hồ sơ, sao chép các hồ sơ luân lưu, cho đến những công tác cơm nước, liên lạc. Có lần thầy còn đào hang trú ẩn cho hai cha con nữa.

  • Mẫu gương can đảm.

Giáo Hội Việt Nam lúc ấy đang trong tình trạng bị bách hại khốc liệt, dưới thời vua Tự Đức. Để tiêu diệt hết đạo Gia Tô trong cả nước, nhà vua ban hành chiếu chỉ Phân sáp ngày 05.08.1861. Theo chiếu chỉ đó, mọi tín hữu Gia Tô già trẻ lớn nhỏ, nam nữ đều bị phân tán vào các làng ngoại giáo. Các tín hữu bị khắc chữ trên má, gia đình bị phân chia, vợ một nơi, chồng một nẻo, con cái mỗi đứa mỗi miền. Các thánh đường, nhà chung, tài sản của giáo hữu bị tịch thu, bị chia chác hay phá hủy.

Trong bối cảnh đó, ngày 08.09, Đức cha Hermosilla Liêm vô cùng đau đớn khi phải quyết định giải tán chủng viện Kẻ Mốt. Linh mục Khoa, đại diện ngài nói với các chủng sinh: “Anh em khỏi chào Đức cha, kẻo ngài không cầm được nước mắt”. Riêng thầy Khang nhất quyết xin và được chọn để đi theo Đức cha cho tới cùng. Khi giã từ các bạn, thầy nói nửa đùa nửa thật: “Tôi nhất định theo Đức cha, các quan có bắt ngài, ắt sẽ chẳng tha tôi. Đức cha chết vì đạo, tôi cũng chết theo, mất đầu còn chân sợ gì.” Từ đêm đó, hai cha con bắt đầu sống lưu lạc. Tương lai tuy mù mịt, nhưng thầy Khang vẫn vui tươi nhờ lòng tin tưởng phó thác và tâm tình hiến dâng mạng sống nếu Chúa muốn.

Ba tuần lễ đầu, thầy Khang cùng với Đức cha sống trong hang trú ẩn ở Thọ Ninh. Nhưng quan quân đã phát hiện nơi ẩn đó, nên hai cha con phải bỏ đất liền, xuống một thuyền đánh cá. Thầy Khang chèo thuyền qua thị xã Hải Dương đến tá túc trên thuyền của một giáo hữu tên Bính. Chính nơi đã thành “Tòa Giám Mục lưu động” của vị chủ chăn. Được vài ngày, hai vị tình cờ gặp Đức cha Valentinô Vinh và linh mục Almatô Bình đi thuyền từ Kẻ Nê xuống. Thật là cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động và vui mừng của bốn thánh tử đạo Hải Dương. Các vị tạ ơn Chúa vì cơ may đặc biệt này, trao đổi tin tức và cùng nhau cầu nguyện cho Giáo Hội. Đến sáng, các cha chia tay mỗi thuyền đi một ngã.

Một hôm gia đình Trương Bính xẩy ra cuộc cãi lộn. Người con trai tức giận với cha mẹ nên tố cáo ông bà chứa chấp đạo trưởng. Thế là đội Báng liền đem gia nhân đến bắt Đức cha. Thấy họ tới nơi, thầy Khang liền nhổ cây sào chống thuyền và chạy đến đứng chắn trước mặt họ như muốn ngầm bảo: phải bước qua xác tôi, rồi muốn bắt ai thì bắt.

Nhưng vị Giám mục khả kính và nhân ái đã đến nắm lấy vai thầy, ngài nói: “Đừng làm gì hại họ, hãy phó mặc cho ý Chúa”. Thầy Khang ngỡ ngàng quay lại nhìn người cha già và chợt hiểu ra ý ngài, thầy chỉ nói được một lời: “Thưa vâng”, rồi bỏ sào tre xuống đưa tay cho lính trói. Lính giải hai vị vào thành Hải Dương và giam mỗi vị một nơi.

  • Vị tử đạo Hải Dương.

Một tháng rưỡi trong tù, thầy Khang được sống chung với một số giáo hữu. Thầy liền tổ chức cho cả phòng giam đọc kinh chung mỗi ngày ba lần, và mỗi tối làm việc thống hối đền tội để chuẩn bị đón nhận phúc tử đạo. Trong thời gian này, thầy bị đưa ra tòa tra tấn ba lần, bị đánh đòn khắp hai bên mông. Lần nào thầy cũng can đảm chịu đựng, không hề tiết lộ bất cứ chi tiết nào về hàng giáo sĩ, không chịu bỏ đạo như các quan yêu cầu. Sau mỗi trận đòn, các giáo hữu trong ngục đều nấu nước rửa và xoa bóp cho thầy dịu bớt cơn đau.

Đặc biệt ở trong tù, thầy Khang vẫn tiếp tục viết thư cho các bạn học đang lưu lạc ở làng Hảo Hội. Một lá thư thầy viết: “Các quan mới tra tấn tôi một kỳ để hỏi Đức cha đã ở những đâu, song tôi chẳng trả lời, trái lại vui lòng chịu đòn. Xin anh em cầu nguyện cho tôi.”

Trong lá thư khác thầy viết:“Anh em cho tôi một cái quần, vì quần tôi cũ, phải đòn nhiều đã rách nát. Cũng xin cho tôi một cái chăn để khi tôi chết, có cái mà liệm xác đem chôn”.

Ngày 06.12.1861, thầy Giuse Khang được nghe bản án trảm quyết ở kinh đô gửi về, thầy vui vẻ theo lệnh ra pháp trường Năm Mẫu, nơi đã thấm máu người cha kính yêu của thầy ngày 01.11 trước đó. Sau khi bị chém đầu, dân chúng địa phương an táng thi thể thầy ở ngoài ruộng.

Năm 1867, theo lệnh của Đức cha Hy, thầy cai Hinh, anh ruột của vị tử đạo đã dời hài cốt em của mình về nhà nguyện Kẻ Mốt. Ngày nay thủ cấp của thánh nhân được lưu giữ tại Dền Thánh Hải Dương, còn hài cốt thì vẫn để ở Kẻ Mốt.

Ngay 20.05.1906, Đức Thánh Cha Piô X suy tôn thầy Giuse Nguyễn Duy Khang lên bậc Chân Phước.

 

Ngày 10 tháng 12

Thánh Simon PHAN KhẮC hòa

Y sĩ (1774 – 1840)

  • Nhờ Đấng mến yêu tôi.

Ai có thể làm chúng tôi xa lìa được lòng mến Chúa Kitô? Phải chăng là gian truân, cùng khốn, đói rách, bắt bớ, gươm giáo”. (Rm 8, 35)

Cái khốn khó mà Simon Hòa phải chịu kể từ khi bị bắt vì đức tin cũng tương tự như thế: hơn 20 lần bị tra khảo rất dữ dội. Lúc thì bằng đòn vọt, khi thì bằng kim loại, lúc khác thì bằng kẹp nung lửa . . .khiến da thịt ông bị thối rữa vì các vết thương đầy mủ máu. Rồi trách nhiệm tình thương đối với gia đình: người vợ và 12 con, có đứa mới sanh được vài tháng, chưa được diễm phúc thấy mặt cha một lần.

Thế nhưng ngay trong trường hợp này, chân lý của các vị tử đạo vẫn luôn luôn đúng: Đối với các ngài, đau thương không phải là dấu chỉ của thất bại. Đau thương cũng không phải là mục đích, nhưng đau thương chính là thử thách các chứng nhân phải vượt qua, để có thể đạt được chân phúc vĩnh cửu. Và thái độ của Simon Hòa cũng như thái độ chung của các vị tử đạo vẫn là: “Trong mọi thử thách, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng yêu mến chúng ta”. (Rm 8, 37)

  • Gương mẫu người tân tòng.

Phan Đắc Hòa sinh trong một gia đình ngoại giáo tại làng Mai Vĩnh, xã Mông Thôn, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1774. Thuở bé, cậu tên là Thu. Cha mất sớm, mẹ đưa chị em Hòa đến tá túc và làm công ở làng Lưỡng Kim, sau đó dến giúp một gia đình Công Giáo ở làng Nhu Lý, tỉnh Quảng Trị.

Sống với người Công Giáo, nhìn thấy những gương sáng và được nghe nói về những điều cao đẹp của đạo mới này, cậu Hòa đem lòng cảm mến và xin phép mẹ cho mình theo học lớp giáo lý và gia nhập đạo. Khi ấy chỉ là một thiếu niên 12 tuổi, cậu đã chọn thánh Simon làm bổn mạng. Yêu mến Chúa Kitô, cậu bé không dừng ở đó, mà còn muốn theo sát, phục vụ Chúa Kitô trong đời tu trì. Cậu đã vào chủng viện một thời gian, nhưng qua các Bề trên, Simon Hòa nhận ra ý Chúa muốn cậu sống và làm chứng tá về Ngài ngay giữa lòng đời.

Tuy không đạt được ước mơ, Simon Hòa vẫn thường xuyên liên lạc với chủng viện và các bề trên. Sau khi lập gia đình và trở thành cha của 12 người con, Simon Hòa cố gắng chu toàn trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, xứng đáng là một gương sáng tiêu biểu cho mọi gia đình trong làng. Sống đời giáo dân, ông Hòa hành nghề y sĩ: “Lương y như từ mẫu”. Nhiều người được ông chữa lành bệnh, nên dân chúng đồn đãi với nhau đến với ông rất đông. Nhờ đó, ông có nhiều cơ hội giúp đỡ người nghèo khó. Nếu dư giả chút, ông liền đem đóng góp vào công việc từ thiện, xây cất thánh đường . . .

Với đời sống đạo đức, ông lang y Hòa được đề cử làm Trùm họ. Trước mặt mọi người, ông đã thực thi chức năng một cách tốt đẹp: Ai ăn ở bất xứng, biếng trễ, ông tìm cách sửa chữa, hoặc răn đe dỗ dành, hoặc giải thích khuyên can. Ai cờ bạc rượu chè, ông nghiêm khắc sửa dậy. Thế nhưng ai cũng yêu mến chứ không oán ghét gì ông, bởi họ biết ông làm thế vì yêu thương họ và vì trách nhiệm, chứ không phải vì tư lợi. Ngoài ra ông Simon Hòa còn sẵn sàng bênh vực, giúp đỡ người già nua tuổi tác, yếu đuối, các cô nhi quả phụ. Ông thấy thấm thía ý nghĩa của phúc thật tám mối, nhìn ra hình ảnh Chúa Kitô nơi người khác, nhất là người nghèo khó. Có lần ông đích thân cúi xuống vực một người nằm kiệt sức bên đường, vác lên vai, đưa đến trạm canh, rồi cho người đem cơm nước để nuôi kẻ bất hạnh.

  • Dư thừa can đảm.

Khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo, ông Trùm lang Hòa có dịp bầy tỏ lòng can đảm của mình: Ông sẵn lòng cho các linh mục ngoại quốc ẩn náu trong nhà, mặc dù biết rằng việc chứa chấp này đe dọa đến tính mạng của mình, cũng như của gia đình. Đức cha Cúenot Thể cũng trọ một thời gian tại nhà ông. Ông nhiệt thành lo liệu sắp xếp cho các linh mục có nơi trú ẩn. Nếu nhà mình không ổn, ông gửi gấm các cha ở nơi tương đối bình an hơn. Tối ngày 13.04.1840, khi đang trên thuyền cùng Đức cha De la Motte Y đến làng Hòa Ninh, thuyền ông bị các quan phát hiện đuổi theo. Quân lính bắt ông và Đức cha Y đưa về huyện Dương Xuân, rồi giải về Quảng Trị giam hai tháng, và cuối cùng điệu về Huế.

Suốt thời gian bị giam, Simon Hòa đã giúp đỡ anh em bạn tù bằng việc bốc thuốc chữa bệnh, ông còn khuyên bảo khuyến khích họ trung thành với Chúa đến cùng. Cũng chịu khổ hình như mọi tù nhân, có khi còn hơn nữa, nhưng ông Simon vẫn kiên vững niềm tin. Các lần đòn đánh với vô số vết thương không làm ông nản chí, trái lại, ông còn lấy làm vui thỏa vì được hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh.

  • Khổ hình và vinh phúc.

Ông Simon Hòa bị tra khảo đến 20 lần, có lẽ các quan tưởng rằng dùng bạo lực, ông sẽ phải cung khai tung tích về các vị thừa sai, nhưng “dã tràng xe cát biển đông”. Họ đã không đạt được ý nguyện, lại còn phải nghe ông thuyết giảng về chân lý đạo. Thế là họ trả đũa bằng đánh đập, bằng kìm kẹp và tra tấn dã man . . . cho đến khi thầy thuốc từ bi gục ngã không thể gượng dậy nổi. Nhưng niềm tin của lương y sĩ Hòa không thể ngã gục. Ông cam chịu mọi hình khổ đau đớn. Hơn nữa, ông quyết dâng mạng sống mình để làm chứng về đạo, dù phải hy sinh những điều thân thương quí báu nhất đời. Khi các con đến thăm, ông khuyên nhủ: “Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con. Nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa, đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, thương yêu nhau, và chăm sóc việc nhà. Từ đây cha không thể lo cho các con được nữa. Chúa muốn cha chịu khổ, cha xin vâng trọn.” Quả thật nỗi lòng y sĩ Simon Hòa lúc đó:

“Yêu kính Chúa, nặng tình nhà,

Trăm cay nghìn đắng, vẫn cam một lòng.”

Năm 1840, vua Minh Mạng châu phê án xử trảm quyết, bêu đầu ba ngày. Khi điệu ông Hòa đi xử, các quan còn cố bắt ông quá khóa, dụ dỗ ông bỏ đạo, hay ít là cầm lấy ảnh quẳng đi để ông được tha, nhưng ông vẫn một lòng cương quyết tuyên xưng niềm tin của mình.

Vị lương y làng Nhu Lý đã vượt qua thử thách cuối cùng. Ông đã toàn thắng trong niềm tín thác vào Thiên Chúa ngày 10.12.1840 tại Cổng Chém, gần chợ An Hòa.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã suy tôn y sĩ Simon Phan Đắc Hòa lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Ngày 18 tháng 12

Thánh Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ

Thầy giảng (1798 – 1838)

Là người lớn tuổi nhất, thầy Phaolô Mỹ như người anh cả, và là chỗ dựa cho hai thầy giảng cùng bị giam chung.

Trong một lá thư gửi cho thừa sai Marette, thầy Đường viết:

“… Từ ngày được diễm phúc chịu khó vì đức tin, thầy Mỹ thay chúng con vẫn viết thư cho cha. Vì chúng con coi thầy như thay mặt cha ở giữa chúng con . .. ”

Phaolô Nguyễn Văn Mỹ chào đời năm 1798 ở làng Kẻ Non, còn gọi là Sơn Nga, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tên thật của cậu là Nguyễn văn Hữu. Năm 13 tuổi, được phép cha mẹ, cậu Mỹ theo giúp việc Đức cha Giacôbê Longer Gia rồi sau giúp cha Luật xứ Kẻ Đầm bốn năm. Đến năm 19 tuổi, cậu theo học tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị).

Khi làm thầy giảng thực thụ, thầy Mỹ được gửi đến giúp thừa sai Marette. Ít lâu sau, đức cha Havard Du giám quản địa phận Tây Đàng Ngoài, đã chọn thầy phụ giúp linh mục Cornay Tân, xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. Nhiều kinh nghiệm và khả năng, thầy Mỹ đã hỗ trợ đắc lực cho vị thừa sai trẻ tuổi nhiệt thành, nhưng thường đau ốm nặng nề này. Thầy Mỹ luôn hoàn thành công tác mục vụ một cách chu đáo: Từ dậy giáo lý tân tòng và trẻ em, đến khuyên bảo các tội nhân hoán cải. Khi tình hình cấm đạo lên cao dộ, thầy là vị tông đồ nhiệt thành và hữu hiệu, đi thăm từng gia đình để khích lệ các tín hữu sống đức tin, và còn hơn thế, được nhiều người ngoại giáo về đón nhận niềm tin Kitô giáo. (Xem tiếp hạnh tích Thánh Phêrô VŨ TRUẬT)

Ngày 18 tháng 12

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG

Thầy giảng (1808 – 1838)

Nhất định chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như vậy là chọn cái chết đời đời cả linh hồn lẫn thể xác”.

Lời nói trên cho ta thấy tâm tình của thánh Phêrô Đường, vị thầy giảng đã hơn 20 năm dâng mình cho Chúa, để tìm kiếm hạnh phúc đích thực cho chính mình và tha nhân.

Sinh năm 1808 ở làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Gia đình Phêrô Đường tuy nghèo nhưng nổi tiếng thánh thiện. Được cậu là cha Trương Văn Thi phụ trách xứ Trung Chảy đỡ đầu, nên ngay khi chú Đường mới 9 tuổi, cha Phương xứ Yên Tập đã nhận khai tâm cho chú vào đời sống tu trì. 15 tuổi, anh Phêrô Đường đã được gửi đến giúp xứ Bầu Nọ dưới quyền thừa sai Marette. Với sự khích lệ của cha, anh chuyên tâm học chữ Hán và Latinh để chuẩn bị cho tương lai.

Khả năng và nhân cách của anh Phêrô Đường được xác nhận ngay năm sau. Anh được Đức cha Havard Du nhận vào bậc thầy giảng dù mới 16 tuổi, thầy giảng trẻ tuổi nhất.

Thầy tiếp tục giúp xứ Bầu Nọ thời cha Cornay Tân, cho đến ngày bị bắt. tính tình vui tươi, hiền lành, thầy được mọi người trong xứ mến chuộng. (Xem tiếp hạnh tích Thánh Phêrô VŨ TRUẬT)

Ngày 18 tháng 12

Thánh Phêrô VŨ TRUẬT

Thầy giảng (1817 – 1838)

Thầy Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi, đáng lưu danh muôn thuở do câu nói bất hủ, trả lời lại những viên quan chê thầy dại dột lãng phí tuổi thanh xuân:

“Chưa chắc là tôi dại. Ai không biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời mới là dại”.

Phêrô Vũ truật sinh năm 1817 ở làng Hà Trạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Son Vy, trấn Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại chẳng có, mẹ anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày, để nuôi ba con dại, nên Phêrô Truật không được đi học và gầy yếu xanh xao.

Tuy nhiên, anh Truật có lòng đạo đức, thường lui tới nhà thờ kinh lễ, nên được cha Tân chánh xứ Bầu Nọ chọn vào phục vụ những việc nhẹ trong xứ và tạo điều kiện cho ăn học. dầu thế mặc lòng, anh Truật cũng chẳng bằng ai, phần trí khôn hơi chậm, phần hay bị đau ốm luôn, anh chỉ có thể biết đọc biết viết sơ sơ. Bù lại, anh rất thuộc kinh, nên đặc trách việc dạy kinh truyền khẩu cho các thiếu nhi nhỏ tuổi.

Mãi đến khi bị bắt giam trong ngục tù rồi, Đức cha Havard Du mới chứng nhận anh là thầy giảng, vừa để lòng tin làm chứng cho đức tin. Thầy Truật tuy không còn cơ hội để giảng bằng lời nói, nhưng thái độ kiên tín của thầy chính là lời giảng có sức thuyết phục hơn nhiều.

  • Ba tấm lòng vàng.

Ớ Bầu Nọ có người ngoại giáo tên là Đức cầm đầu một băng cướp đã bị bắt. Để nhẹ tội, y nói với vợ là Yến vu oan cho cha Cornay Tân tội tổ chức phản loạn, chị ta liền giả vờ đến xin học đạo để dò xét những nơi cha thường trú ẩn. Khi biết được, chị ta liền giấu vũ khí trong vườn nhà cha, rồi đi mật báo cho các quan tỉnh Sơn Tây.

Ngày 20.06.1837, quan Sơn Tây phái 1.500 quân lính đến làng Bầu Nọ, bắt vị đạo trưởng Tân. Hai thầy Mỹ và Đường cũng như anh Truật ngồi lẫn vào đám đông dân chúng bị tập trung nơi đình làng. Lính lục soát từ sáng tới trưa vẫn không thấy cha Tân đâu cả. Bà Yến liền bầy cho lính bắt anh Truật và hai thầy Mỹ và Đường là những người thân thiết với cha xứ để tra hỏi.

Chiều hôm đó, lính phát hiện được cha đang ẩn trong bụi rậm. Nhưng để có nhân chứng ghép tội cha, ba vị phụ tá này cũng bị áp giải với ngài hơn sáu dặm đường về nhà lao tỉnh Sơn Tây. Tại công đường, ba người đã khéo léo minh chứng cha xứ không theo giặc nổi loạn, và giải thích những lời đồn đại sai về đạo. Thí dụ quan hỏi: “Sao các ông móc mắt người chết để luyện bùa phép?” Thầy Mỹ trả lời: “Không lẽ quan tin những lời đồn vô lý đó sao? Bởi vì nếu chúng tôi làm như thế, cha mẹ vợ con họ đâu để chúng tôi yên. Vậy mà chúng tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui vẻ.”

Các cuộc thẩm vấn thường đi liền với những tra tấn dã man. Đây là chứng từ của thầy Mỹ:

“Lính lột áo chúng tôi ra, bắt chúng tôi nằm xuống, lấy dây thừng cột tay chân, rồi kéo căng, cột vào bốn cọc ở bốn phía, nguyên sự căng nọc như thế đủ làm chúng tôi đau đớn vô cùng. Thế rồi họ bắt đầu đánh đòn. . . Cuối cùng họ không đánh bằng một chiếc roi nữa, mà là cả bó. Mỗi lần đánh, hằng trăm đầu roi mây in lằn trên da thịt chúng tôi, tạo nên những vết thương đẫm máu .. .”

Riêng thầy Truật vì ốm yếu nên được đeo gông nhẹ hơn và bị ít đòn hơn. Nhưng sau mỗi kỳ tra tấn, cả ba người đều kiệt sức, phải khiêng về ngục thất. Ngày 20.09, lính canh tù loan tin cha Tân đã bị trảm quyết, và khuyên các thầy bỏ đạo, cả ba vị cùng nói: “Chúng tôi mừng vì thầy chúng tôi được tử đạo, chúng tôi nguyện theo gương ngài.”

Giai đọan này thầy Mỹ ghi lại trong một lá thư: “Suốt bốn tháng liền, chúng tôi bị gông cùm xiềng xích, chịu lính canh nghiệt đãi, phòng giam ẩm thấp hôi hám, ruồi muỗi tự do hoành hành mà trên người thì đầy những vết thương tra tấn. ..”

Tháng 10, bản án tỉnh Sơn Tây tâu vua Minh Mạng được chuẩn phê và gửi về. Nhưng thay vì giết ngay, bản án quyết định “giam hậu”, nghĩa là khoan xử chờ quyết định mới, bề ngoài bản án có vẻ nhân đạo, nhưng thực ra bên trong rất thâm độc: Với thời gian, nhiệt tình ban đầu có nguy cơ phai nhạt, vì tử tội luôn bị ám ảnh đến chuyện phải ngồi tù không biết đến bao giờ. Đàng khác sự chịu đựng của con người có hạn, quá khổ đau, quá mòn mỏi, quá thất vọng, con người dễ bị lung lạc mà thay đổi ý định. Thực tế, ba thầy giảng phải chờ thêm 14 tháng, vị chi tất cả là một năm rưỡi bị giam cầm. Nhưng suốt thời bị giam cầm thử thách lâu dài ấy, ba thầy vẫn gắn bó với nhau trong nhẫn nại, can đảm và giữ vững mãi khát vọng phúc tử đạo, mỗi sáng cũng như mỗi tối, các thầy lớn tiếng đọc kinh Mân Côi chung, cầu nguyện chung, đồ ăn thức uống, thuốc men nhận được, ba vị chia sẻ cho lính canh. Những ai đến thăm thường được khuyên nhủ: “Anh em hãy sống hòa thuận với mọi người trong gia đình, làng nước, hãy là giáo hữu nhiệt thành, vì đời sống trần gian chẳng là bao. Chúng tôi đã vâng theo ý Chúa định đoạt, hy vọng mai này chúng ta sẽ đàon tụ trên Trời.”

Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho các thầy được bốn lần. Đối với các thầy, đó quả là hồng phúc lớn lao. Ta thử đọc tâm sự của thầy Đường gửi cho cha Marette trong thư:

“Hôm nay là ngày trọng đại, chúng con được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những xiềng xích của chúng con . . . Cửa Thiên Đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước sự gì khác nữa . . .”

  • Cùng chiến thắng vinh quang.

Năm 1838, triều đình duyệt lại bản án và chỉ thị cho quan tỉnh Sơn Tây thi hành. Ngày 18.12, ba chứng nhân anh dũng bị điệu ra pháp trường ở Gò Vôi, làng Mông Phụ, tỉnh Sơn Tây. Mỗi người mang trên ngực tấm thẻ ghi tên, họ nguyên quán và tội theo đạo Gia Tô, đã thú nhận, truyền xử giào. Trên đường đến nơi hành quyết, như đã hẹn trước, ba thầy cùng làm dấu khi thấy cha Triệu đứng giữa dân chúng ban phép lành tha tội. Một người lính cho các ngài uống rựơu, ba vị cám ơn chỉ xin uống nước trà và nói: “Thầy giảng chúng tôi kiêng rượu như kiêng sắc dục và kiêng phản bội”.

Đến nơi xử, ba thầy nằm dài trên chiếu, quân lính vây thành một vòng tròn lớn, để ngăn chặn dân chúng. Từng vị một bị trói chân vào cột và trói chéo hai tay ra sau lưng. Dây thừng tròng sẵn vào cổ. Giữa tiếng chuông trống vang rền, theo lệnh quan, lý hình mỗi bên nắm chặt đầu dây xiết thật căng, chờ tới khi tắt thở. Máu ứa ra ngoài miệng. Sau đó họ lấy lửa đốt thử gan bàn chân để xác nhận các tử tội đã chết thật rồi. Cha Marette và giáo dân đưa thi hài ba thầy về họ Kẻ Măng gần đấy tẩm liệm. Ngài dâng lễ cầu hồn tạ ơn Chúa đã cho các bậc tôi trung thắng trận khải hoàn.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn ba thầy Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Phêrô Trương Văn Đường và Phêrô Vũ Truật lên bậc Chân Phước, ngày 27.05.1900.

Ba thầy giảng cùng bị bắt một ngày, cùng bị giam một nơi, cùng tử đạo một giờ và cùng được phong Chân Phước một lượt là các thầy: Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, 40 tuổi; Phêrô Trương Văn Đường, 30 tuổi và Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi.

Còn Tiếp

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.