THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – số tháng 9, 2016

Tiến sĩ TRẦN AN BÀI

Tiếp Theo

  • Cuộc giã từ rơi lệ.

Người con gái ông Lý, cô Mỹ tuy mới 12 tuổi, cũng lén mẹ ra tỉnh tìm cách qua ba lần cửa có lính gác, vào thưa với cha: “Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa.” Cậu Tường mới chín tuổi, con trai ông Lý Mỹ, không đi xa được, cậu cũng cố gắng nài nỉ dân làng đi thăm chuyển lời đến ông: “Cha đừng lo cho chúng con, cha hãy an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo.” Bà Lý bồng con mới sinh được mấy tháng ra thăm chồng, trao con cho chồng ẵm một lúc, bà thấy những cực hình chồng phải chịu, bà không cầm được nước mắt, bà nói trong nghẹn ngào:

“Vợ con ai mà chẳng thương chẳng tiếc, nhưng ông hãy hy sinh vác Thánh Giá rất nặng vì Chúa, hãy trung thành với Chúa cho đến cùng, đừng lo nghĩ về mẹ con tôi, Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả. Đến thăm ông lần này có lẽ là lần sau hết, cầu xin Chúa cho ông vâng theo Thánh Ý Chúa.”

Ông Lý Mỹ lòng đau như cắt. Ông biết rằng sự ra đi của ông sẽ là nỗi thương đau vô cùng cho vợ con, nhưng vững tin vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, ông bình tĩnh an ủi vợ:

“Lời bà khuyên nhủ đốt thêm lửa kính mến Chúa trong lòng tôi, bà đem con về săn sóc chúng thay tôi, sớm tối cầu nguyện nhiều cho tôi vững lòng xưng đạo Chúa trước mặt thiên hạ, hẹn ngày sau gặp bà và các con chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu nơi quê thật là nước Thiên Đàng.”

Nhờ lời khích lệ của vợ con, ông Lý như được tăng thêm sức mạnh, nên càng vững lòng tin hơn, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đạo Chúa. Có lần một vài phu tuần làng Kẻ Vĩnh vì mộ mến ông, khuyên ông quá khóa để trở về coi sóc dân làng như trước, ông liền mắng họ: “Ai bảo các anh đến thăm tôi và nói những lời sai trái như vậy, bây giờ tôi về thì các anh sẽ khóc, nhưng khi đưa thi hài tôi về làng thì các anh sẽ ăn mừng.”

  • Say vì đạo, hả vì tình.

Suốt một tháng trời, quan vừa hành hạ vừa khuyên dụ ông Lý Mỹ bước qua Thánh Giá không thành công, dù phải những trận đòn tan xương nát thịt, dù gông cùm, xiềng xích nặng nề đau buốt thịt xương, vị chứng nhân Chúa Kitô vẫn một lòng kiên trung với đức tin. Quan làm án tâu về kinh:

“Nguyễn Huy Mỹ, 34 tuổi, làm Lý trưởng làng Kẻ Vĩnh, can tội theo đạo Gia-Tô triều đình nghiêm cấm, cùng với Nguyễn Đích là nhạc phụ, chứa chấp đạo trưởng Mai Năm trong nhà. Đã khuyến dụ nhiều lần chối đạo nhưng chúng không chịu quá khóa, nên luận phải xử trảm ba người đó để làm gương cho dân chúng.”

Ngày 12.08.1838, được tin vua Minh Mạng đã châu phê y như án nghị, cả ba tông đồ Chúa vui mừng hớn hở chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận bí tích giải tội và rước Mình Thánh Chúa cách sốt sắng. Các ông hân hoan bước đến nơi xử, vừa đi vừa hát kinh tạ ơn Chúa. Dọc đường ông Cả Tú (là anh em thúc bá với ông Lý Mỹ) khích lệ: “Anh Lý! Hãy vững tâm nhé!” Ông Lý Mỹ đáp: “Anh Cả yên chí, đừng lo, tôi không sợ đâu.”

Đến pháp trường Bẩy Mẫu, ba vị chứng nhân quỳ cầu nguyện một lúc. Ông Lý Mỹ xin xử cha Giacôbê Mai Năm và ông Antôn Nguyễn Đích trước, quan chấp thuận. Ông Lý Mỹ bị chém sau cùng.

Thi hài của ba vị tử đạo được rước về làng Kẻ Vĩnh ngay trong đêm đó. Dân chúng vui mừng đốt đèn đuốc đón rước cách trọng thể, đúng như lời tiên báo của ông Lý Mỹ.

Ông Micae Lý Mỹ lãnh phúc tử đạo, chiến thắng tất cả những thử thách cực hình nhờ tình yêu tuyệt đối vào Chúa Giêsu Kitô và với tinh thần đạo đức say mê giáo lý Tin Mừng của Ngài. Tình yêu và tinh thần vun trồng ngay từ thời niên thiếu phát triển theo thời gian đến tuổi trưởng thành, và cho đến giờ phút quyết liệt của cuộc đời, bằng một tình yêu tột đỉnh, ông Lý Mỹ xứng đáng lãnh nhận phần thưởng trọng hậu Thiên Chúa trao ban: Khải hoàn Thiên Quốc với cành lá tử đạo.

Ông Micae Lý Mỹ thực là con người chí hiếu của người cha dưới thế cũng như Cha trên trời.  Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

 

Ngày 21 tháng 08

Thánh Giuse ĐẶNG ĐÌNH VIÊN

Linh mục

(1785 – 1838)

  • Noi gương Đấng chăn chiên lành.

 

Đang trốn trong vườn mía, linh mục Đặng Đình Viên bỗng bàng hoàng nghe tiếng kêu thảm thiết của đưa bé con người chủ nhà đã cho cha trú ẩn. Thì ra, quan quân đang tra hỏi để cậu bé chỉ chỗ cha ẩn trốn.

“Giêsu, Maria, cứu con với!”

Quả là chua xót khi nghe tiếng kêu la đau đớn trong cung giọng ngây thơ đó! Cha Viên có thể chịu nổi những tiếng kêu xé lòng đứt ruột đó không? Cha có thể đang tâm trong hoàn cảnh ẩn trốn như thế không? Làm chủ chiên phải sẵn sàng phục vụ đàn chiên. Nếu vì sứ vụ cha phải trốn tránh quan quyền thì lúc này đây, cũng chính sứ vụ đó thúc đẩy cha phải ra mặt để cứu đứa trẻ. Cha bước ra khỏi vườn mía kín đáo và nói: “Tôi là đạo trưởng Viên các anh đang tìm bắt đây. Xin đừng làm khổ đứa trẻ này nữa.”

  • Tuổi xanh và lý tưởng.

Giuse Đặng Đình Viên còn có tên là Lương.  Sinh năm 1785 tại làng Tiên Chu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Khi còn nhỏ, cậu sống và học hành ở họ Vân, huyện Ân Thi là quê ngoại của cậu. Khi cha mẹ qua đời, cậu Viên theo giúp các linh mục thừa sai, nên được vào chủng viện.

Năm 1821, thầy Viên thụ phong linh mục và coi sóc giáo hữu làng Lục Thủy, tỉnh Nam Định. Hai năm sau, cha được cử đi giảng đạo ở xứ Bắc, giúp các họ Đông Bài, Thiết Nham, Như Thiết, An Mỹ. Suốt 17 năm thi hành sứ vụ linh mục, cha Viên nổi tiếng là linh mục đạo đức, siêng năng đối với mọi công việc, làm sáng danh Chúa, cha được mọi người nhận biết và yêu mến.

Ngày 17.04.1838, thầy giảng Vũ Văn Lâm được cha cử đi lãnh dầu thứ Năm Tuần Thánh bị bắt cùng với sáu bức thư của cha gửi cho hai Đức cha và bốn linh mục khác. Các quan định giấu nhẹm sáu bức thư này đi, nhưng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lại đem về khoe với vua Minh Mạng. Vua liền thịnh nộ cho rằng quan phía Bắc bao che cho tà đạo và dọa truất chức quan Trịnh Quang Khanh nếu không bắt được người gửi thư và những người được thư gửi đến. Tuần phủ Hưng Yên là Hà Thúc Lương được lệnh bằng mọi giá phải bắt cha Viên, nếu không phải chịu tội thay.

Không ngờ chỉ một chút bất cẩn, những lá thư của cha Viên đã là nguyên nhân một chiến dịch bách hại đẫm máu tại Nam Định và Hưng Yên. Hai Đức cha Delgado Y và Henares Minh, cha chính Hiền và bao vị tử đạo, chưa kể những tổn thất về cơ sở và việc xáo trộn mọi sinh hoạt tôn giáo ở tại các giáo xứ.

  • Tất cả vì con chiên.

Tại Hưng Yên, quan quân lục soát khắp nơi mà vẫn không bắt được cha Viên. Các quan phải dùng mưu: họ giả mạo thư của gia đình cha và mua chuộc hai người bà con với cha cũng là người Công Giáo, cầm thư để để đi tìm người chỉ chỗ cha trốn.

Ngày 01.08.1838, sau khi biết chắc được cha đang trốn ở họ Cầu Chay, xã Như Thiết, quan cho lính đến vây bắt, nhưng cha kịp thời chạy vào khu vườn mía rậm rạp. Éo le thay, các quan quân tức giận vì bắt hụt cha, đã dùng mưu mô bắt ngay đứa con trai con chủ nhà mà cha đang ẩn trốn ra tra khảo. Chính sự đau đớn và tiếng kêu la thảm khốc của cậu bé đã làm cha xúc động và ra trình diện. Thế là cha đã cho em không phải một bát nước lã mà là chính bản thân của cha. Hành vi cao thựơng đó chắc chắn đã do từ tấm gương tuyệt vời của Đấng chấp nhận hy sinh chính mạng sống để cứu độ nhân loại.

  • Phúc vinh tử đạo.

Tại tỉnh Hưng Yên, các quan bắt cha Viên dịch các bức thư của cha đã bị tịch thu trước đây ra tiếng Việt. Đến khi thấy các thư đó không có gì là bí mật hay âm mưu cả, họ liền khuyên cha chối đạo để tha về, cha Viên cương quyết trả lời: “Dù có chết tôi cũng không quá khóa. Tôi là đạo trưởng mà quá khóa thì ai theo đạo nữa?” Ngày 03.08, các quan gửi án về kinh xin xử trảm. Ngày 21.03, án lệnh về đến tỉnh. Các quan cố thuyết phục cha lần cuối nhưng vô hiệu, nên tuyên đọc bản án và đem thi hành ngay hôm đó. Thẻ bài của cha ghi như sau:

“Đạo trưởng Đặng Đình Viên, tùng gian tà đạo, liên lạc đạo trưởng Tây Nam, tụ tập đạo đồ, đạo chủng, đạo thư, bất kháng quá khóa, vi phạm quốc pháp, luật hình trảm quyết.” (Linh mục Đặng Đình Viên theo đạo gian tà, liên lạc với các linh mục Âu Việt, tụ tập giáo dân, chủng sinh, tích trữ sách đạo, không chịu bước qua Thánh Giá, vi phạm luật nước, luật xử phải chém.)

Trên đường ra pháp trường Ba Tòa, cha Viên sung sướng cảm động tạ ơn Chúa. Khi đó hai người họ hàng đã tiết lộ chỗ cha ẩn đến xin cha tha thứ. Cha nhân từ nói: “Cha tha cho các con. .  .” Cũng như Chúa Giêsu trước giây phút cuối cùng trên Thập Giá đã sẵng sàng tha thứ cho kẻ làm hại và giết Ngài, giờ đây cha Viên vui mừng ban lời thứ tha cho hai người nộp mình.

Sau khi ăn chút cơm, cha Viên quỳ trên chiếc chăn bông được trải sẵn, ngửa mặt lên trời cầu nguyện. Giờ hành xử đã đến, lý hình vung gươm, đưa vị chứng nhân Đức Kitô đầy lòng trắc ẩn lên đài vinh quang tử đạo. Các tín hữu ùa vào thấm máu vị tử đạo. Một người lính thấy vậy liền lấy áo ngài cắt ra bán cho họ nữa. Hôm đó là ngày 21 tháng 8 năm 1838. Thi hài cha đã được khoảng 300 tín hữu rước long trọng về an táng tại nhà thờ Tiên Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn cha Giuse Đặng Đình Viên lên hàng Chân Phước ngày 27.05.1900.

 

Ngày 05 tháng 09

Thánh Phêrô NGUYỄN VĂN TỰ

Linh mục dòng Đaminh

(1796 – 1838)

  • Cha dưới đất, Cha trên trời.

Thưa quan, tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như Trung Phụ, và kính song thân tôi như Hạ Phụ. Không thể nghe lời cha ruột để hại vua, tôi không vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được.”

Vị tử đạo đã có những lời phân tích mạch lạc quan niệm về trung, hiếu của các giáo hữu Việt Nam như trên là một linh mục dòng Thuyết giáo: cha Phêrô Nguyễn Văn Tự.

  • Bị bắt vì sứ vụ.

Sinh quán tại Ninh Cường, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định năm 1796. Cậu Phêrô Tự đã dâng mình cho Chúa từ niên thiếu. Năm 1826, thầy thụ phong linh mục, sau đó xin vào dóng Đaminh và được cha chính Amandi Chiêu nhận lời khấn ngày 04.01.1827. Suốt 12 năm đời linh mục, cha Phêrô là một tu sĩ gương mẫu và là cha truyền giáo nhiệt tình. Hồ sơ phong thánh ghi nhận cha luôn tận tụy với công việc, không quản ngại khó khăn, luôn đối xử hòa nhã và rất mực yêu thương mọi người.

Năm 1838, cha Tự được cử phụ trách xứ Đức Trai còn gọi là Kẻ Mốt, thuộc tỉnh Bắc Ninh. Lúc này cuộc bách hại của vua Minh Mạng khá gay cấn, nên cha phải thi hành tác vụ của mình lén lút. Một thân hào tên Quang đã cho cha đến trú ẩn tại vườn nhà ông. Mỗi sáng cha dâng lễ ngay trong vườn đó. Ngày 29.06, khi quân lính kéo đến bao vây làng Kẻ Mốt để bắt cha Tự, thì ngài được anh chị em tín hữu đưa lánh qua làng bên. Nhưng quân lính sau khi lục soát, tìm thấy áo lễ và chén lễ của cha, đã tập trung dân chúng để đánh đập và tra khảo. Nhiều tín hữu đã chịu đựng, không để lộ tung tích của cha, đến lượt ông lang Ninh mới bị dọa đánh đã khai ra chỗ cha đang trú ẩn. Cùng bị bắt với cha Tự có thầy giảng Đaminh Úy, dòng ba Đaminh, 26 tuổi, một trợ tá đắc lực của ngài.

Khi bị giải về huyện Lương Tài, quan huyện ngỏ ý đòi vị linh mục nộp tiền chuộc, nhưng cha bình tĩnh trả lời: “Đối với tôi, bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, còn phiền giáo hữu thì tôi không muốn chút nào.” Đến ngày 03.07, sau khi bắt thêm được bốn ông Trùm ở bốn giáo xứ và một giáo hữu trong vùng, quan cho áp giải tất cả về Ninh Thái (thị xã Bắc Ninh ngày nay).

Sáng hôm sau, quan cho gọi cha Phêrô ra hỏi. Ông lịch sự cho mời cha vào nhà, cho ngồi chiếu tử tế, rồi với giọng ngọt ngào, quan yêu cầu cha khai tên các giáo sĩ địa phận. Cũng bằng giọng điệu lịch sự không kém, cha thong thả kể tên hai Đức cha và sáu linh mục, những người đã bị bắt rồi, thế cũng đủ làm viên quan gật gù ra vẻ đắc ý lắm. Một tuần sau, ông lại cho mời cha đến và yêu cầu cha cắt nghĩa về các đồ thờ, áo lễ, chén lễ của cha mà họ tịch thu. Cha được dịp giảng đạo lý Công Giáo cho các quan nghe, bác bỏ những tin đồn bịa đặt về đạo, về các nghi lễ, cũng như về các giáo hữu.

  • Phong thái vị thủ lãnh.

Trong thời gian bị giam tại huyện, bất ngờ cha Tự thấy trong sổ sách của mình bị tịch thu, có cuốn sổ ghi tên tất cả các giáo hữu ở Kẻ Mốt, ngài liền tìm cách để hủy nó đi, nhưng làm sao bây giờ? Vì quân lính canh gác kỹ quá. Cha liền bầy một kế xin họ một cái chiếu, lấy cớ đắp cho đỡ muỗi, rồi nằm trong chiếu, cha nhẩn nha nhai và nuốt cuốn sổ ấy. Dĩ nhiên, “món ăn” này không hợp khẩu vị chút nào, nên mới ăn được hai phần, cha đã thấy rát cả cổ, không thể nuốt nổi nữa, thế là cha đành nhai cho nát rồi ném dưới gầm phản.

Điều làm cha đau lòng nhất là thấy nhiều người bị bắt với cha đã đạp Thánh Giá để được về. Cha không ngừng nhắc lại lời Chúa xưa: “Ai chối Thầy trước mặt người đời, Thầy sẽ chối kẻ ấy trước mặt cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10, 33) Cha nói tiếp: “Trời đất qua đi, nhưng lời Chúa chẳng qua.” (Mt: 5, 18), “Hãy tỉnh thức và cấu nguyện, kẻo sa ngã trước thử thách.” (Mt 26, 41). . . Nhưng cha vẫn được an ủi vì sự kiên trung của hai thầy giảng Phanxicô Mậu, Đaminh Úy va bốn giáo dân Giuse Cảnh, Tôma Đệ, Augustin Mới và Stêphanô Vinh. Tất cả là hội viên dòng ba Đaminh, sau này được phúc tử đạo (19.12.1839)

Ngày 27.07.1838, Tổng đốc Bắc Ninh đệ án về triều đình xin xử giảo cha Phêrô và ông Trùm Cảnh, còn năm người kia, đanh mỗi người 100 roi, rồi phát lưu họ vào Bình Định. Nhưng vua phúc đáp yêu cầu cho tra hỏi lại, nếu bỏ đạo thì ân xá, nếu cố chấp thì xử chém hai vị trên và xử giảo năm vị còn lại.

Ngày 09.08, quan đòi bẩy vị ra tòa. Khi thì dọa dẫm, khi thì ngon ngọt, quan dụ dỗ các vị đạp lên Thánh Giá. Trước hết quan mời cha Tự làm gương. Ông nói mình thực tình muốn tha cho cha. Nhưng cũng bằng lời nói khiêm tốn, tinh tế, vị linh mục nói với ông về Thượng Phụ, Trung Phụ và Hạ Phụ, cũng như trật tự kính trọng đối với ba vị đó của mình. Cha tiếp: “Người tướng cầm quân đánh giặc, dù binh lính mình chạy hết, tướng cũng không được phép hàng giặc. Tôi là linh mục, dù giáo dân bị tan tác, vẫn phải một niềm trung thành với Thiên Chúa.” Sau lời khẳng khái của cha, quan biết có nói thêm cũng vô ích, nên ra lệnh giam cha vào ngục.

Còn Tiếp

 

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.