THIÊN HÙNG SỬ 117 HIỂN THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM (Tiếp Theo) – số báo tháng 2, 2016

Ngày 27 tháng 06

Thánh Tôma TOÁN

Thầy giảng dòng ba Đaminh

(1764 – 1840)

  • Tuổi già can đảm.

Sau 13 ngày dài bị lột trần phơi nắng phơi sương, không một hạt cơm vào bụng, quân lính đem bầy trước mặt tử tội một mâm cơm đầy thức ăn ngon và mời mọc. Thế nhưng cụ già 76 tuổi đó đã từ chối: “Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn!”

Cụ già dũng cảm đó là thầy giảng Tôma Toán.

Sinh năm 1764 tại làng Cần Phán, tỉnh Thái Bình, Tôma Toán vừa là hội viên dòng ba Đaminh, vừa là thầy giảng có uy tín làm việc truyền giáo ở Trung Linh. Nhà dòng giao cho thầy chức phụ tá quản lý nhà chung tại đây. Thời Minh Mạng bách hại, thầy Toán là cánh tay đắc lực của cha già Tuyên trong việc tông đồ.

  • Sa ngã và thống hối.

Trong làng Trung Linh có ông lang Tư, vì ham tiền thường tố cáo với quan phủ Xuân Trường rằng làng có đạo trưởng, nên ngày 16.12.1839 quân lính đến càn quét lục soát làng này. Cha già Tuyên may mắn xuống hầm nên thoát nạn. Thầy Toán không kịp lẩn tránh, bị điệu ra trình diện. Thầy khai tên là Thi và ngồi chung với dân làng. Nhưng do sự chỉ điểm của ông lang Tư, quân lính tiến về phía thầy, kéo khăn trên trán ra và tri hô lên: “Tên này sói đầu đúng là đạo trưởng đây.” Về sau chúng biết thầy không phải là linh mục, nhưng vì tội không chịu xuất giáo nên vẫn bắt giam thầy.

Cuộc tử đạo của thầy Toán được ghi dấu bằng hai lần chối đạo:

  • Lần thứ  nhất,  sau  một  tháng  bị  tra khảo,ngày 19.01.1840 thầy đã nhát sợ bước qua Thánh Giá. Thế nhưng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh vẫn chưa tha cho thầy về ngay, còn muốn thử xem thầy có thật lòng bỏ đạo không. Khi lính đưa thầy già về ngục, cha Giuse Hiển đã ân cần nhủ

khuyên thầy thống hối và tiếp tục tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa.

  • Lần thứ hai, ngày 18.04, quan Trịnh Quang Khanh bắt hai người đã xuất giáo đến thúc giục thầy Toán, và dọa nếu không thành công sẽ giết cả hai. Những người này năn nỉ khóc lóc xin thầy thương kẻo họ bị chết, và họ nói nhiều lời phạm đến Chúa và Đức Mẹ suốt hai ngày liền. Để họ khỏi nói phạm thượng, thầy Toán một lần nữa lại bước qua Thánh Giá. Lần này thấy mình quá dại dột để bị đánh lừa, thầy thống hối khóc lóc đêm ngày không ai ngăn cản được, 15 ngày sau, cha Đaminh Trạch bị bắt cũng được dẫn tới giam chung một ngục, cha an ủi và giải tội cho thầy. Từ đây thầy trở thành một con người mới, đủ sức đương đầu cách phi thường với những thử thách nặng nề hơn trước.
  • Không gì lay chuyển.

Ngày 09.05, trước khi xử chém cha Giuse Hiển, thầy Toán cũng bị đưa ra tòa với cha. Sau khi hai vị cương quyết không đạp lên Thánh Giá, quan cho quản tượng lùa hai thớt voi đến sau lưng húc xô hai vị. Thầy Toán và cha Hiển bình tĩnh cố tránh qua một bên, nhất định không bước qua Thánh Giá. Trịnh Quang Khanh tức giận truyền đưa thầy gìa về ngục, và ra lệnh đưa vị linh mục ra pháp trường xử chém tức khắc.

Một hôm viên quan nói khôi hài với lính: “Dẫn lão Toán ra đây để nó bước qua Thập Tự, kẻo nó quên.” Nhưng ông hoàn toàn thất vọng, người chiến sĩ đức tin lần này gan dạ lạ lùng, dù bị đánh đập tra tấn dã man, thầy vẫn một lòng trung thành với đạo Chúa. Sau một trận đòn tưởng chết, quân lính lôi thầy bước qua Thánh Giá, thầy liền vùng dậy quỳ phục xuống đọc kinh Ăn Năn Tội, quan giận dữ cho giam thầy nơi khác, bắt nhịn ăn nhịn khát, và cho lính muốn bày trò hành khổ gì tùy ý.

Thế là quân lính liền lột hết quần áo thầy, buộc hai Thánh Giá nhỏ vào hai bàn chân, bắt phơi nắng 13 ngày liền không được ăn uống gì cả. Trong khi đó, chúng vây quanh trêu chọc thầy: Bứt râu giật tóc, nhéo tai, vuốt mũi . . . Khi thấy thầy rơi vào tình trạng đói cực độ, người như lả đi, quan Trịnh Quang Khanh âm mưu cho dọn một mâm cơm rượu thịt thơm ngon và nói: “Ăn đi, rồi bước qua Thập Tự.” Nhưng vị anh hùng đức tin thà chết đói hơn là phải bỏ đạo, thầy nói: “Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn cả.” Quan tức mình tống giam, bắt thầy nhịn đói thêm năm ngày nữa cho chết rũ tù: Có người lính canh tên Thám tội nghiệp, ngấm ngầm tiếp tế đôi chút, nhưng rồi anh bị phát hiện và bị quan trừng phạt.

  • Cho tới hơi thở cuối cùng.

Từ đó thầy già Toán phải chịu đói khát hoàn toàn cho đến khi ngã gục và tắt thở trong tù ngày 27.06.1840. Thi hài thầy Toán được chôn cùng với xác tù nhân. Bẩy tháng sau, anh Dậu cải lên an táng tại Lục Thủy chung với nhiều vị tử đạo khác.

Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn thầy Tôma Toán lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Ngày 30 tháng 06

Thánh Vinh Sơn ĐỖ YẾN

Linh mục dòng Đaminh

(1764 – 1838)

  • Ông lão lang thang

Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến được họa lại dưới chân dung một cụ già tuổi ngoài thất tuần, râu tóc bạc phơ sau 40 năm tận tụy với đoàn chiên Chúa tại nhiều giáo xứ tại Hải Dương. Như lương y tận tâm với con bệnh, vị linh mục cao niên khả kính, đạo đức, hiền từ ấy đã luôn hiện diện giữa giáo hữu trong mọi cơn thử thách. Giờ đây khi nhà vua gắt gao truy lùng các linh mục và hăm dọa phá bình địa khu vực dám chứa chấp bất cứ đạo trưởng nào, vị tông đồ lão thành không muốn gây liên lụy cho đoàn chiên, đã từ giã xứ Kẻ Sặt thân thương lên đường bước tới một phương trời vô định . . .như Đức Kitô xưa “cáo có hang, chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” Cuộc ly biệt đoàn chiên yêu quý dưới thế đã đưa cha Vinh Sơn Đỗ Yến đến đoàn tụ với các thánh trên trời: Vị cha già đã lãnh triều thiên tử đạo làm phần thưởng muôn đời Thiên Chúa trao ban.

  • Linh mục dòng Thuyết giáo.

Vinh Sơn Đỗ Yến chào đời năm 1764 (thời Hậu Lê) tại Trà Lũ, xứ Phú Nhai, tỉnh Nam Định. Đây là một miền đất “phì nhiêu” đã phát sinh nhiều vị thánh: Vinh Sơn Liêm, Tôma Dụ, Đaminh Đạt. . . Cậu Vinh Sơn Yến theo lời Chúa gọi sống đời tu trì ngay từ niên thiếu. Sau một thời gian rèn luyện nhân đức và học hỏi các môn triết, thần, thầy được Đức Giám mục Delgado Y phong chức linh mục năm 1798. Người ta tưởng cuộc đời tông đồ của ngài kết thúc ngắn ngủi, vì ngài đã bị bắt trong cơn bách đạo cuối đời Cảnh Thịnh. Nhưng may mắn nhờ các tín hữu dùng tiền chuộc lại, cha đã được tha về.

Ngày 22.07.1807, cha Vinh Sơn Đỗ Yến lãnh áo dòng Đaminh và được tuyên khấn năm sau. Đời tu dòng giúp cha kết hợp mật thiết hơn với tình yêu Chúa. Ngài sống rất khiêm tốn, thường hy sinh hãm mình và thầm lặng lâu giờ trong chiêm niệm. Tâm hồn luôn bừng cháy lòng mến Chúa yêu người, cha nhiệt tâm với việc tông đồ truyền giáo, không hề quản mệt nhọc hay hiểm nguy đến tính mạng. Dưới triều Gia Long (1802 – 1820) và đầu thời Minh Mạng, cha Vinh Sơn Yến thi hành sứ mệnh tông đồ trong bầu không khí tương đối bình an. Thoạt tiên cha đảm trách giáo xứ Kẻ Mốt, sau chuyển đến xứ Kẻ Sặt, thuộc tỉnh Hải Dương. Nơi nào ngài cũng hết mình củng cố đức tin cho các tín hữu và hoáncải nhiều người ngoại giáo tin theo đạo Chúa. Các tín hữu khẳng định ngài luôn vui tươi, khôn ngoan, bình tĩnh, dịu hiền và thánh thiện.

  • Bước chân lưu lạc.

Nhưng khi hay tin cha Vinh Sơn Yến vẫn còn lẩn trốn trong xứ Kẻ Sặt, các quan liền cho tăng cường kiểm soát chặt chẽ, quyết lùng bắt ngài cho kỳ được, và dọa tàn phá bình địa làng Sặt. Vì muốn giáo hữu được yên ổn, vị chủ chăn âm thầm ra đi, mang theo nỗi niềm đau xót phải xa cách đoàn chiên yêu quý. Cha hoàn toàn tín thác mọi sự vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.Năm 1838, vua Minh Mạng truyền các quan chức phải triệt để thi hành chiếu chỉ cấm đạo tại các địa phận Đàng Ngoài. Nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo hữu đã anh dũng hy sinh mạng sống vì trung thành với đức tin. Nhiều thánh đường, chủng viện, nhà chung bị tàn phá. Cha Vinh Sơn Đỗ Yến, chánh xứ Kẻ Sặt, rất đau lòng chứng kiến cảnh các con chiên mình chịu cưỡng bách hạ ngôi thánh đường khang trang do công sức vất vả và tiền bạc họ đóng góp để xây dựng nên. Vì thương đoàn chiên đang cảnh ngộ gian nan, ngài ở lại giữa họ, nay ẩn nhà này, mai tránh sang nhà khác, ban đêm lo cử hành phụng vụ thánh lễ, ban ngày đến khuyên bảo các tín hữu và ban bí tích cho họ. Tất cả những điều đó, cha phải làm cách kín đáo tương tự thời sơ khai của Giáo Hội.

Trước hết cha đến họ Thừa, nhưng thấy nơi đây không bảo đảm, ngài lại lên đường đến họ Lực Điền (Hưng Yên). Đường xa mệt mỏi, ngài dừng chân nghỉ dưới bóng bụi tre. Một khách bộ hành đi qua hỏi: “Ông lão đi đâu sao lại ngồi đây?” Để giấu tung tích, cha liền giả vờ hỏi xem đường nào đi Kẻ Sặt, đường nào về Lực Điền. người khách chỉ giúp rồi bỏ đi. Tiếp tục cuộc hành trình, ngày 08.06 cha gặp ông Cai Phan. Ông làm bộ thương cảm, nài nỉ ngài nên nghỉ chân ở nhà mình. Thế rồi ông trở mặt bắt ngài, cho đóng gông và chuẩn bị giải về Hải Dương. Khi hay tin giáo hữu xứ Kẻ Sặt và Lực Điền đem trâu và tiền đến chuộc, nhưng ông Cai nhất định không cho, vì hy vọng được quan trên ban thưởng nhiều hơn. Cha Vinh Sơn phải hết lời khuyên can mới ngăn được giáo hữu hai họ khỏi dùng vũ lực để giải thoát ngài.

Tại Hải Dương, ba ngày sau vị tông đồ được đưa ra trước công đường. Quan Tuần phủ tỉnh này vốn sẵn lòng nhân hậu, lại có lời can thiệp của ông lang Hàn, y sĩ chữa bệnh cho quan, nên không muốn vấy máu người có đạo. Ông xin vị linh mục tự nhận là lang y để ông phóng thích. Vị chứng nhân trả lời: “Không, tôi không phải là thầy lang. Tôi là thầy cả chuyên giảng đạo và tế lễ Thiên Chúa. Tôi sẵn sàng chịu chết vì lẽ đó, chứ không nói dối để được sống.”

Quan tìm cách khác để trả tự do cho cha. Ông truyền vẽ vòng tròn chung quanh chỗ cha đứng, bảo ngài bước qua vòng đó coi như bước qua Thánh Giá vậy. Một lần nữa vị tuyên xưng đức tin lại cương quyết từ chối: “Làm như thế không khác nào tôi chối đạo.” Quan Tuần phủ thấy không thể nào làm lay chuyển đức tin của vị linh mục lão thành, liền làm sớ tường trình về kinh. Nhưng vì không muốn đích thân xử án người vô tội, quan xin phép triều đình cho giải cha về nguyên quán là tỉnh Nam Định.

  • Giờ ân thưởng.

Vua Minh Mạng không chấp thuận và kết án tử hình ngay. Bàn án ký ngày 20.06.1838, về tới Hải Dương ngày 30.06, nội dung như sau:

“Đỗ Yến người bản quốc là đạo trưởng Gia Tô, bị bắt mà vẫn không chịu bỏ đạo, thật là người ngu muội cố tình không theo đường phải, vậy trảm quyết ngay, giải về Nam Định làm gì?”

Trong ba tuần lễ bị giam, nhờ sự can thiệp của ông lang Hàn, cha Vinh Sơn Yến không phải mang gông xiềng, được phép nhận lương thực giáo hữu thăm nuôi khá đầy đủ. Ngày đêm ngài chỉ chuyên cần nguyện kinh và trầm lặng suy niệm lâu giờ.

Ngày 30.06.1838, quan Tuần phủ thi hành ngay bản án mới nhận được. Cha Vinh Sơn hiên ngang tiến ra pháp trường ở ngã tư, gần họ Bình Lao, cách thành Hải Dương một cây số về phía Tây. Gương mặt hiền từ của linh mục lão thành đáng kính với dáng điệu thanh cao khiến nhiều người xúc động.

Tới nơi, ngài quỳ gối cầu nguyện thật sốt sắng, rồi lý hình thi hành phận sự. Chỉ một nhát gươm vung lên, đầu vị tử đạo rơi xuống đất.

Quan tặng một tấm vải để tưởng niệm và truyền khâu đầu vị tử đạo vào cổ, rồi cho phép các tín hữu họ Bình Lao đưa về an táng. Tám tháng sau, tín hữu cải táng vào nhà thờ Thọ Ninh. Khi cải táng người ta thấy thi hài cha Vinh Sơn còn nguyên vẹn như mới ly trần. Ông Trưởng Dong, một ngừơi ngoại giáo, được chứng kiến tận mắt đã nói: “Thật là người sống khôn thác thiêng, đã tám tháng mà không tiêu hao chút nào, không hôi tanh, lại thoảng mùi thơm tho nữa.”

Anh hùng vị tử đạo Vinh Sơn Đỗ Yến, linh mục dòng Đaminh, đã được Đức Giáo Hoàng Lêo XIII suy tôn lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900.

Ngày 03 tháng 07

Thánh Philiphê PHAN VĂN MINH

Linh mục (1815 – 1853)

  • Lời nguyện là thần lương.

Bên kia bờ sông Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, trước khi đến Cái Sơn Bé, theo thói quen, người ta dọn một bữa ăn ngon cho tử tội trước khi xử trảm. Nhưng tử tội, linh mục Philipphê Minh đã từ chối, chẳng phải do sợ hãi nuốt không nổi, vì trên đường ra pháp trường cha đã chẳng luôn hiên ngang tươi cười đó sao?

Thế nhưng chỉ còn ít phút nữa để hoàn thành sứ mạng nơi trần thế, ít phút nhưng không phải là quãng thời gian tầm thường, ít phút này là cao điểm của một kiếp nhân sinh. Để sống trọn vẹn vài phút đó, cha Minh đã chọn một thức ăn khác, như một thứ lương thực cần thiết cao quí hơn: cha quì xuống, ngửa mặt lên trời âm thầm cầu nguyện. Và sau bữa ăn tâm linh cuối cùng, cha nói ngắn gọn với lý hình: “Đã xong rồi!”

Một hồi chiêng trống vang lên, thời gian như trùng lại, trang trọng và linh thiêng trong giờ phút cuối cùng của đời cha. Những giây phút thật ý nghĩa, thật trọn vẹn, thật tràn trề trôi qua, cha được bước vào cõi hạnh phúc vĩnh cửu sau khi lý hình vung nhát gươm kết liễu cuộc hành trình làm chứng cho Đức Kitô.

  • Soạn giả tự điển.

Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức và lễ nghĩa thuộc làng Cái Mơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Vĩnh Long, năm Ất Hợi 1815, Philipphê Phan Văn Minh, con ông Đaminh Phan Văn Đức và bà

Anna Tiếu, là người con út trong gia đình có 14 anh chị em. Cha mẹ cậu mất sớm, mọi việc trong nhà đều do một người chị đảm đang. “Bà mẹ thứ hai” này đã hết lòng lo cho các em cả về vật chất lẫn tinh thần. Cậu Minh được học hỏi giáo lý chu đáo để rước lễ lần đầu, rồi lãnh nhận bí tích thêm sức năm 13 tuổi. Sau đó cậu được Đức cha Tabert Tứ nhận cho đi học chủng viện Lái Thiêu. Nhưng chỉ ít lâu, do sắc lệnh cấm đạo 1833 của vua Minh Mạng, chủng viện phải giải tán.

Thời gian này thầy Minh được theo Đức Cha Tứ qua Thái Lan rồi đến trọ tại chủng viện Pénang, Mã Lai. Thầy có vinh dự được Đức cha gọi qua Calcutta (Ấn Độ) để hợp tác với ngài soạn bộ tự điển LatinhViệt Nam năm 1838. Khi Đức cha qua đời, thầy lại trở về Pénang tiếp tục học thần học. Các giáo sư và bạn học đều quí mến thầy, một sinh viên xuất sắc, học giỏi và có tinh thần đạo đức.

  • Vị tông đồ hăng say.

Hết thời gian học tại Pénang, thầy Minh trở vế nước và được Đức cha Cúenot Thể trưyền chức linh mục năm 1840 tại Gia Hựu (1).

Sau khi vua Minh Mạng băng hà, Giáo Hội được hưởng một thời an bình dễ chịu hơn. Vua Thiệu Trị lên ngôi tuy không hủy bỏ những sắc lệnh cấm đạo, nhưng không gắt gao thi hành như trước nữa. Nhờ đó, cha Minh có thể đi thăm viếng, dậy kinh cho các tín hữu vùng Tiền Giang, Hậu giang. Những làng như Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Ba Giòng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi San, Chà Và, Mặc Bắc. .  . đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha. Khi vua Tự Đức lên ngôi năm 1847, việc cấm đạo vẫn lắng dịu ít lâu. Nhưng sau đó lại trở nên dữ dội hơn bao giờ hết.

Sau chiếu chỉ tháng 08.1848, và nhất là chiếu chỉ tháng 03.1851 trưyền phải chém đầu thả trôi sông Tây dương đạo trưởng, tra tấn và xử tử các giáo sĩ bản quốc cố chấp, phát lưu những người theo “Gia Tô Tả đạo”. Vua còn ghi rõ các quan phải triệt để thi hành mệnh lệnh này.

Trong tình hình mới hết sức khó khăn đó, cha Minh vẫn bình tĩnh chu toàn phận sự của một mục tử: cha vẫn đi lại khuyến khích các tín hữu, mở các lớp giáo lý và trao ban các bí tích.

Khi đó ở làng Mặc Bắc, có một người tên Nhẫn, vì có lần xin tiền cha Lựu không được nên để tâm thù oán và đi tố giác với quan. Ngày 26.02.1853, quan sai lính đến vây nhà ông Trùm Lựu, nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, còn cha Minh và vài chủng sinh đang trọ ở đó. Để cứu cha Minh, ông Trùm Lựu ra nói: “Thưa quan, không có đạo trưởng Lựu ở đây. Lựu chính là tên tôi.” Họ thấy dáng dấp cụ chỉ là nông dân lam lũ, nên tiếp tục đi lục soát khắp nhà. Khi đó, cha Minh sợ quan quân vì mình mà hại gia đình ông Trùm, nên ra mặt nhận mình là linh mục. Thế là cùng với bẩy vị chức dịch trong vùng, cha bị bắt trói, đeo gông và đẩy xuống thuyền đưa về giam tại Vĩnh Long.

Tại đây quan Tổng đốc hạch hỏi cha về các linh mục khác, những nơi đã trú ẩn, nhưng không khai thác được điều gì cả. Những ngày này quan dùng mọi cách, khi thì dụ dỗ, khi dọa nạt, khi sai lính kéo cha qua khỏi Thập Giá để bắt cha chối đạo. nhưng cha Minh vẫn giữ lập trường của mình, trung thành với Đức Kitô và Giáo Hội. Thấy cha còn trẻ, mới 38 tuổi, lại hiền lành, học thức, các quan muốn tìm cách cứu cha, họ không bắt cha bước qua Thập Giá nữa, chỉ cần cha nói miệng là “đã bỏ đạo” cũng được tha. Nhưng cha Minh một mực từ chối đề nghị này.

  • Đường về trời.

Không thể làm gì hơn được, các quan cho lính đưa cha về giam tại Tuyến Phong chờ ngày lãnh án. Nghe án xử từ kinh đô đã gửi về, cha Minh quỳ gối tạ ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn tái ngộ trên Nước Trời. Cha nói: “Xin anh em vững lòng tin và hết dạ cậy trông Chúa. Ngài chẳng từ bỏ ai, và sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ Ngài.” Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài: tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng phí tổn ma chay lớn làm gì, cứ đem phân phát cho người nghèo.

Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Cha vui vẻ lần chuỗi tiến ra pháp trường. Qua bờ sông Long Hồ đến Cái Sơn Bé, quân lính dọn bữa ăn sau cùng, nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chăm chú cầu nguyện. Sau hồi chiêng trống rền vang, lưỡi gươm lý hình đã đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về Thiên Quốc. Lời nguyện cầu thánh thiện sau hết của cha Minh còn âm vang trong lòng những người hiện diện:

“Lạy Chúa, xin thương xót con. Lạy Đức Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ để vinh danh Ngài. Lạy Mẹ Maria xin nâng đỡ con.”

Hôm đó là ngày 03.07.1853. Thi thể vị tử đạo được đưa về an táng dưới nền một nhà thờ mới bị đốt phá ở Cái Mơn. Năm 1960, di cốt của Ngài được đưa về Vương Cung Thánh Đường Sàigòn trong dịp lễ cung hiến.

Đức Lêo XIII suy tôn cha Philipphê Phan Văn Minh lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Chủng viện địa phận Vĩnh Long đã nhận thánh Philipphê Minh làm bổn mạng.

(Còn Tiếp)

Ghi chú:

  1. Đức cha Lefèbvre Nghĩa bị giam ở Cung Quán viết thư giới thiệu thầy Sáu Minh đến Đức cha Thể.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.