TRUYỀN GIÁO HỌC

I. Truyền giáo là gì?
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “truyền” có nghĩa là loan báo, loan truyền, công bố, là nói, làm và sống làm sao để cho người khác có khả năng đón nhật, hiểu biết, tin tưởng, yêu thích và nhất là dám sống điều mà ta đã nói, đã công bố và loan truyền cho họ. Còn từ “Giáo” có nghĩa là giáo lý, đạo lý, giáo thuyết; tức là những gì liên quan đến tôn giáo, đếnThiên Chúa, đến Đức Giê su Ki tô cùng với lời giảng dạy, những lời giáo huấn của Ngài. Nhờ đó, những người này sẽ gặp đượcThiên Chúa là nguồn hạnh phúc và cùng đích của cuộc đời họ. Tắt một lời Truyền giáo thường được người ta hiểu là giới thiệu Tin Mừng cho người chưa biết Chúa, và đưa họ vào Hội Thánh Chúa qua việc dạy giáo lý, cử hành các Bí Tích nhập Đạo, và gia nhập cộng đoàn. (xem Mt 28, 16.18-20).
Trong tiếng nước ngoài thì từ “truyền giáo” được dịch từ chữ “mission” (của Pháp và Anh ngữ). Trong nguyên ngữ latinh, danh từ “missio” bắt nguồn từ động từ “mittere” có nghĩa là gửi đi, sai đi, phái đi. Trong Tân ước, tiên vàn nó ám chỉ việc đức Kitô được Chúa Cha sai đến thế gian, cũng như việc Chúa Kitô Phục sinh sai Chúa Thánh Thần đến với Giáo hội; kế đó, nó được áp dụng vào việc Chúa Kitô sai các tông đồ và Hội thánh đi rao giảng Tin mừng. Có thể nói được là từ đầu cho tới thế kỷ 15, thần học hiểu tiếng missio theo nghĩa tổng quát ấy: thí dụ thánh Tommaso nói tới missio của đức Kitô và missio của Chúa Thánh thần, nghĩa là việc Chúa Cha sai đức Kitô và Chúa Thánh thần đến cứu chuộc nhân loại.
Tóm lại, truyền giáo là việc chúng ta được Chúa Cha sai đi, trong quyền năng của Đức Giê su và Thánh Thần để loan truyền tình thương và ơn cứu độ của Ngài. Nhờ vậy, những người này sẽ được làm con của Thiên Chúa và được hưởng hạnh phúc đời đời.
II. Truyền giáo cho ai?
Trước công đồng Vaticano II, vào khoảng thập niên 50, cuộc tranh luận chính yếu trong thần học công giáo diễn ra giữa hai trường phái Muenster (đức) và Louvain (Bỉ) về mục tiêu của công cuộc truyền giáo: việc truyền giáo nhằm kêu gọi lương dân trở lại (conversio), hay là thiết lập Giáo hội tại địa phương (plantatio ecclesiae)? Công đồng Vati- cano II, trong sắc lệnh về hoạt động truyền giáo (Ad Gentes) số 6 đã kết hợp cả hai mục tiêu: công cuộc truyền giáo không chỉ giới hạn vào việc kêu gọi lương dân tin nhận Phúc âm và lĩnh bí tích rửa tội, nhưng còn phải tiến tới việc phát triển các Giáo hội địa phương nữa. Công cuộc truyền giáo tại một địa điểm chỉ có thể coi là chấm dứt với việc thành lập hàng giáo phẩm tại địa phương, với những cộng đồng Kitô hữu trưởng thành trong đức tin, khả dĩ có thể truyền đạo cho đồng bào của mình và các vùng lương dân.
III Tại sao phải truyền giáo?
1. Vì truyền giáo là tiếp nối sứ mạng của Chúa Ba Ngôi, là thể hiện ý định của Thiên Chúa là muốn loài người được cứu độ, được thông phần vào sự sống vĩnh cửu của Ngài. Công Đồng tuyên bố lý do của hoạt động truyền giáo bắt nguồn từ ý định của Thiên Chúa “muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý. Chỉ có một Thiên Chúa, một Đấng trung gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô” (x. 1Tm 2, 4-6) và “ơn cứu rỗi không có nơi ai khác” (Cv 4, 12), cho nên bổn phận chính yếu của Giáo Hội là phải rao giảng. Vì thế, đây là vấn đề vẫn mãi cần thiết và giữ nguyên hiệu lực của nó (s. 7).
2. Vì truyền giáo là Đại sứ lệnh mà Đức Giê su Ki tô đã trực tiếp trao phó, chỉ thị và ủy thác cho chúng ta : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt28, 19-20).
3. Vì truyền giáo là bản chất của người tín hữu. Chính Công Đồng Vaticano đã khẳng định rõ điều này. Chúng ta, những người tín hữu không còn là tín hữu nếu không truyền giáo.
IV Truyền giáo là truyền cái gì?
Sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội cốt yếu là loan truyền tình yêu, lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa được mạc khải cho nhân loại qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đó chính là việc loan báo Tin Mừng: Thiên Chúa yêu chúng ta và muốn mọi dân tộc hiệp nhất trong lòng thương xót yêu thương của Người
V. Truyền bằng phương cách nào?
Chúng ta có thể truyền giáo bằng chính đời sống chứng tá, bằng việc rao giảng Tin mừng và quy tụ dân và tiến tới việc lập các giáo đoàn.
Mục 1: Chứng tá kitô hữu
1. Mọi kitô hữu dù sống ở đâu cũng phải lấy gương mẫu đời sống và chứng tá lời nói để biểu dương con người mới, ngõ hầu người khác nhìn vào những việc lành của họ mà ca tụng Chúa Cha (x. Mt 5, 16).
2. Để làm chứng cho Chúa Kitô cách hữu hiệu, các kitô hữu còn phải liên kết với người khác, tham gia vào đời sống văn hoá xã hội của nhân loại, làm quen với những truyền thống dân tộc và tôn giáo của họ, khám phá những hạt giống lời Chúa tiềm ẩn trong họ, nỗ lực làm cho những người quá chú tâm vào khoa học kỹ thuật đừng quên lãng những việc linh thiêng, hiểu biết và đối thoại với họ, đem ánh sáng Tin Mừng chiếu soi vào mội trường sống của họ. (s. 11).
3. Ngoài ra, họ còn phải bắt chước Chúa mà yêu thương mọi người bằng cách chia vui sẻ buồn, nhận biết những ước vọng và những vấn đề nhân sinh, cộng tác với những người khác trong việc giáo dục, tạo ra những hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn như khắc phục nạn đói khát, dốt nát và bệnh tật.
4. Sắc lệnh lưu ý: Giáo Hội không hề muốn pha mình vào việc cai trị xã hội trần gian, không đòi cho mình quyền nào khác ngoài việc phục vụ.
Một lưu ý khác là: các môn đệ không tìm tiến bộ và thịnh vượng vật chất cho con người, nhưng là nâng cao nhân phẩm và sự hiệp nhất huynh đệ (s.12).
Nhận xét: yêu sách của việc truyền giáo là phải lưu tâm đến những hoàn cảnh sống cụ thể của con người.
Mục 2: Rao giảng Tin Mừng và qui tụ Dân Chúa
1. Phải tin tưởng và bền chí loan báo Tin Mừng cho hết mọi người nhận biết Thiên Chúa hằng sống và nhận biết Đấng Người sai đến là Đức Kitô, “là đường, sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6) để họ
trở lại và gắn bó cùng Người.
2. Đối với các dự tòng, cần cứu xét những động lực tòng giáo và nếu cần thì phải thanh luyện những động lực ấy (s. 13).
Phải mở lớp dự tòng để không những trình bày tín lý và các giới răn, nhưng còn huấn luyện một đời sống kitô hữu đầy đủ và có thời gian tập sự. Lớp dự tòng không phải chỉ là việc riêng của các giáo lý viên, nhưng còn là của cộng đoàn tín hữu và của những người đỡ đầu. Phải tập cho các dự tòng cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội bằng chứng tá đời sống và tuyên xưng đức tin (s. 14).
Nhận xét: huấn luyện dự tòng không chỉ là trình bày giáo thuyết nhưng còn phải dạy cho họ tham gia vào đời sống của Giáo Hội một cách cụ thể.
Mục 3: Việc thành lập cộng đoàn kitô giáo
1. Phải xây dựng cộng đoàn tín hữu sao cho họ biết sống xứng đáng ơn gọi của mình (x. Ep 4, 1), để trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian, bén rễ sâu trong dân chúng.
Cũng phải dạy cho họ có tinh thần đại kết, hiệp nhất, sống như men trong bột, dùng lời nói và việc làm mà loan báo Chúa Kitô.
2. Ngoài ra, để “gieo trồng” Giáo Hội và phát triển cộng đoàn kitô giáo, cần phải có nhiều thừa tác vụ khác nhau (s. 15).
a/ Trước tiên là đào tạo linh mục. Việc đào tạo phải nhắm đến những điểm sau đây: việc huấn luyện thiêng liêng phải liên kết chặt chẽ với việc huấn luyện giáo thuyết và mục vụ, phải được tổ chức dưới ánh sáng của mầu nhiệm cứu rỗi; tìm kiếm lối suy tư và hành động riêng biệt của dân tộc mình; việc huấn luyện cũng phải nhắm vào những nhu cầu mục vụ của từng miền , nghĩa là chủng sinh phải học biết lịch sử, mục đích và phương pháp hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, những hoàn cảnh xã hội, kinh tế và văn hoá của dân tộc mình để đối thoại. Họ cũng phải được huấn luyện về phương diện kinh tế nữa (s. 16).
b/ Thứ đến là đào tạo các giảng viên giáo lý. Việc huấn luyện phải được kiện toàn và thích nghi với tiến bộ văn hoá; phải có nhiều trường học thuộc giáo phận và miền; phải cung cấp cho họ một khoản thù lao cân xứng. Nếu thấy thuận tiện thì nên công khai cử hành một nghi lễ phụng vụ để trao bài sai hầu tạo uy tín cho họ (s. 17).
c/ Cuối cùng là đời sống tu trì. Đời sống tu trì không những cần thiết cho hoạt động truyền giáo mà còn bày tỏ bản tính sâu xa của ơn gọi Kitô giáo (s. 18)

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.