Truyền Thống Gia Đình Việt Nam Và Những Giá Trị Kitô Giáo

Athanasio Nguyễn Quốc Lâm

Đứng trước những thách thức của cuộc sống hiện tại với những xáo trộn, thậm chí đảo lộn về các giá trị trong hầu hết các lãnh vực, từ nhân bản cho đến đạo đức, tinh thần, vấn đề “Truyền Thống” lại được nhắc đến như nền tảng cần thiết hay ít nhất như qui chiếu căn bản giúp ổn định trật tự cũng như định ra phương hướng cho đời sống của xã hội cũng như của mỗi gia đình.

I. VẤN ĐỀ “TRUYỀN THỐNG” TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI

  1. Đòi hỏi từ cuộc sống

Đứng trước những thách thức của cuộc sống hiện tại với những xáo trộn, thậm chí đảo lộn về các giá trị trong hầu hết các lãnh vực, từ nhân bản cho đến đạo đức, tinh thần, vấn đề “Truyền Thống” lại được nhắc đến như nền tảng cần thiết hay ít nhất như qui chiếu căn bản giúp ổn định trật tự cũng như định ra phương hướng cho đời sống của xã hội cũng như của mỗi gia đình. Một nét đặc trưng của thời “hậu hiện đại” (khôi phục lại giá trị của Truyền Thống trước cơn khủng hoảng mất định hướng – Charles Taylor, Gadamer) hoặc thời “hậu cách mạng”, nỗ lực khôi phục lại những giá trị “truyền thống”, sau một thời muốn xóa bỏ mọi tàn tích…

Văn kiện của Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội tại Á Châu cũng như Giáo Hội tại Việt Nam cũng không ngừng nhắc đến các “giá trị truyền thống”, đặc biệt là “Truyền Thống Gia Đình” như một yếu tố thiết yếu để củng cố và phát triển đời sống con người trong thế giới hiện đại, một thế giới mà mọi vấn đề đều mang hai chiều kích căn bản: cá vị và phổ quát, mỗi con người và mọi con người. Nói khác đi, không thể phát triển con người nếu không trở lại với những giá trị đã góp phần tạo nên lịch sử tinh thần của nhân loại và đàng khác, đặt trong viễn tượng Đức Tin Kitô Giáo cũng như từ những kinh nghiệm lịch sử, con người cần phải được nhìn nhận và phát triển vừa theo chiều kích cá vị, nghĩa là phẩm vị của từng con người cụ thể, vừa theo chiều kích phổ quát, nghĩa là tất cả nhân loại. Chính trong bối cảnh này mà “gia đình” trở thành như “chìa khóa” cho hiện tại và tương lai của con người.

“Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu đã tóm tắt những giá trị văn hóa Á châu bằng những nét như: yêu thích thinh lặng, và chiêm niệm, đơn giản, hòa hợp, ly thoát, bất bạo động, cần cù, có kỷ luật, sống thanh đạm, khao khát học tập và tìm tòi triết lý… Nổi bật giữa những nét đặc trưng ấy là giá trị gia đình luôn được đề cao. Quả thế gia đình chính là chiếc nôi sản sinh những vĩ nhân và các anh hùng dân tộc. Gia đình đã từng là cột trụ chống đỡ cho quê hương đất nước trong những thời kỳ khó khăn. Gia đình chính là nơi chuyển đạt những giá trị nhân bản qua các thế hệ…” (Đề Cương số 5, trg. 19).

“Đời sống gia đình Việt Nam đang trải qua nhiều biến đổi. Mô hình truyền thống về gia đình đang lỏng lẻo dần… Trước những tiêu cực đó… Giáo Hội vẫn minh định gia đình là Giáo Hội tại gia và là nền tảng của Giáo Hội và Xã Hội.” (Đề Cương, số 39, trg. 65)

  1. Khái niệm “Gia đình” và “Truyền thống”

Dù kiểu nói “Truyền Thống – Gia Đình” không phải là khó hiểu, nhưng có lẽ chúng ta cũng nên minh định rõ hơn ý nghĩa của nó trên bình diện khái niệm, bởi lẽ “gia đình” cũng như “truyền thống” có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo bình diện hoặc tùy theo viễn tượng mà chúng ta muốn đặt vào.

a/  Gia đình

  • Bình diện “nhân sinh”: Gia đình là một cộng đồng hình thành hết sức “tự nhiên”. Thật vậy, con người tự nhiên là con người sinh ra, lớn lên và kết thúc đời sống trong mối liên hệ gia đình. Trên bình diện tự nhiên, gia đình nhất thiết là giới hạn, thậm chí là đóng kín. Liên hệ tự nhiên là liên hệ máu mủ, không ai khác có thể xen vào.
  • Bình diện “nhân văn và nhân linh” (culturel – spirituel): Gia đình không chỉ theo nghĩa tự nhiên. Lập gia đình là cả một công trình mang chiều kích nhân linh, nghĩa là phải xây dựng và kiến tạo dựa trên những giá trị nền tảng về nhân bản cũng như về đạo đức. Tuy nhiên, gia đình trên bình diện nhân văn – nhân linh, có thể phát triển theo hai hướng, khép kín hoặc rộng mở. Gia đình là một cộng đồng “khép kín” khi nó chỉ dừng lại ở “gia đình mình” hay “gia tộc” của mình. Gia đình khép kín có thể mang ý nghĩa tích cực (vì gia đình, vì danh dự gia đình) nhưng cũng có thể mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ biết đến gia đình mình và do đó trở thành một thứ “ích kỷ tập thể” (Đề Cương số 5, trg. 20). Đây có lẽ là điểm đáng để suy nghĩ nhất, bởi lẽ, gia đình trong truyền thống Á châu cũng như Việt Nam thường khép kín hơn là rộng mở: vun vén tất cả cho gia đình, gia tộc hay dòng tộc của mình. Danh dự, danh giá, vị thế, uy thế đều ở đó và cả động lực sống, động lực vươn lên cũng là ở đó.
  • Tuy nhiên, gia đình “có thể” là một khái niệm rộng mở, hay “thăng hoa” đến mức bao trùm cả nhân loại qua kiểu nói “gia đình nhân loại”. Nói là “có thể” vì đây vừa là viễn tượng đẹp nhất cho nhân loại, nhưng đồng thời phải hết sức dè dặt, bởi lẽ trong suốt dòng lịch sử, nhân loại không thiếu những ý thức hệ rao giảng về một cộng đồng nhân loại đẹp như là “gia đình”, thế nhưng thực tế cho thấy, “tương lai ca hát” đó thường kết thúc với bi kịch, nếu không muốn nói là thảm kịch chỉ vì không kết hợp nổi hai cấu tố hết sức tương phản trong gia đình: tôi và chúng ta. Nhân loại đến hôm nay vẫn đứng trước hai nguy cơ đối nghịch: hoặc cá nhân cực đoan (egoisme/esprit tribal) hoặc tập thể cực đoan (collectivisme). Quả thực, gia đình “tự nhiên” có khả năng kết hợp cách rất “tự nhiên” hai cấu tố đó: mỗi thành viên trong gia đình là “độc đáo và độc nhất”. Cha mẹ, con cái, anh em, mỗi người đều có một chỗ đứng bất khả thay thế. Khác với mọi thứ cộng đồng khác, chỉ trong gia đình mới có lối nhìn nhận về con người vì chính người đó (vì là cha, là mẹ, là con…) chứ không bằng điều gì khác (tài năng, sở hữu, danh vị), đến nỗi, thành viên càng yếu kém thì càng được thương yêu, chăm sóc. Đàng khác, mỗi người trong gia đình đều cảm thấy “gia đình mình” mới là chính yếu, mới lớn hơn tất cả và cần phải được giữ gìn, bảo vệ. Gia đình – xét như một toàn thể – trở thành lẽ sống, động lực sống cho mỗi thành viên trong gia đình. Nói khác đi, chính trong “cuộc sống” gia đình, “không khí gia đình” mà các chiều kích “duy nhất” và phổ quát”, “cá vị và cộng đoàn” (personne/communauté) có được mối tương quan hỗ tương trọn vẹn nhất và đúng nghĩa nhất.
  • Như thế tất cả vấn đề là, làm sao có thể chuyển từ một “gia đình tự nhiên” vốn khép kín sang một gia đình nhân loại, có khả năng ôm lấy mọi con người, không tiên thiên loại trừ ai? Những phân tích trên đây không nhằm giải đáp cho bằng làm sáng tỏ một điều: nếu truyền thống gia đình của chúng ta là một truyền thống “khép kín”, nghĩa là nói cho cùng, quan tâm hàng đầu vẫn là “mình”, gia đình, gia tộc, dòng tộc hay thậm chí dân tộc “của mình” thì việc nhắc lại truyền thống gia đình như một yếu tố xây dựng hiện tại và định hướng cho tương lai là không đủ, cả cho xã hội lẫn giáo hội.

b/ Truyền Thống

  • “Truyền thống” theo nghĩa là “Traditum”: đây có lẽ là nghĩa “thông thường” nhất. Thông thường vì nghĩ đến truyền thống là người ta nghĩ ngay đến một số “điều” (nội dung) quá khứ để lại, chẳng hạn là kho tàng về khôn ngoan minh triết, các nghi thức, lề thói, hay nói một cách khái quát hơn là những gì thuộc về “văn hóa” của một cộng đồng hay một dân tộc. Tuy nhiên, “Truyền Thống” hiểu theo nghĩa này mới dừng lại ở khía cạnh “bên ngoài”, mới chỉ là những gì được “truyền khẩu” hoặc được ghi thành văn và là đối tượng của “ý thức”. Khôi phục lại “truyền thống” theo nghĩa này nói cho cùng vẫn là dễ dàng, vì chỉ cần thu thập lại, in lại và quảng bá các “tài liệu” (documents, archives) là đủ!
  • “Traditum” còn có thể hiểu một cách sâu xa hơn theo nghĩa tác động của truyền thống trong lịch sử (Traditio/Wirkungsgeschichte): “La culture… c’est ce qui demeure dans l’homme lorsqu’il a tout oublié” (Édouard Herriot, Notes et maximes inédites, Paris, Hachette, 1961, p.46). “Truyền Thống là những gì còn “lưu lại” nơi con người sau khi đã quên đi tất cả”. Nói như thế cũng có nghĩa là, truyền thống phải là điều ghi sâu nơi trong tâm thức cũng như trong cuộc sống mỗi người chứ không chỉ nằm trên bình diện ý thức. Theo nghĩa này, truyền thống không là đối tượng của ý thức cho bằng là cái đã góp phần kiến tạo nên ý thức. “Truyền thống” đề ra những giá trị hay nói đúng hơn tạo ra cả một bầu khí tinh thần, và bầu khí đó chi phối cách sâu xa lên cách suy nghĩ, cách sống, cách hành xử của con người dù con người đó có ý thức hay không ý thức. Truyền thống là một thứ “tinh thần khách thể” (Hegel), hay một thứ “chân trời” (Gadamer) bao trùm và chi phối lên ý thức con người. Vì là hữu thể lịch sử, nghĩa là luôn định vị trong thời gian, trong chuỗi nối tiếp các thế hệ, con người không bao giờ sống và suy nghĩ từ số 0. Nói theo kiểu của Gadamer: “Lịch sử không thuộc về chúng ta cho bằng là chúng ta thuộc về lịch sử […] Chính vì thế mà những “pré-jugé” (định kiến, conscience passive) của cá nhân tạo nên thực tại lịch sử của cá nhân đó hơn là những “jugement” (phán đoán, conscience active, reflexive) của anh ta” (x. H.-G. Gadamer, Vérité et Méthode, du Seuil, Paris, p. 298). Vì thế suy nghĩ về truyền thống là suy nghĩ về những gì đang tác động lên cách sống, cách hành xử của chúng ta hơn là tìm lại những “tài liệu cổ”.
  • “Truyền Thống” theo nghĩa “Transmission”.

Con người là hữu thể lịch sử, do đó chỉ có thể khẳng định mình trong hiện tại cũng như hướng tới tương lai nhờ đối thoại với quá khứ. Thật vậy, truyền thống không chỉ là một nội dung mà còn là một tương quan năng động giữa (người) thông truyền (transmetteur) và người nhận lãnh (receveur). Theo nghĩa này, “Traditum” không thể hiểu như một thứ “quyền lực” vô hình của quá khứ áp đặt lên hiện tại nhưng như một kho tàng mà con người hiện tại với tất cả tự do và trách nhiệm có thể kín múc những gì cần thiết cho cuộc sống.

Điều này có nghĩa là, nếu con người hiện tại không còn thấy “Truyền Thống” đem lại ý nghĩa (make sense) hay không còn thấy đó như là điều quí giá cho cuộc sống thì “Truyền Thống” tự nó sẽ tiêu vong. Viên ngọc mà không còn ai muốn tìm kiếm thì không còn thực sự là viên ngọc nữa. Hơn nữa, một cộng đồng xây dựng trên truyền thống không còn tôn trọng những giá trị mà truyền thống chứa đựng thì chính cộng đồng đó cũng sẽ rã tan. Chúng ta đừng quên rằng, một trong những chức năng chính của truyền thống là qui tụ và xây dựng cộng đoàn (qui tụ những con người cùng chia sẻ cùng một giá trị). Một dân tộc không còn gìn giữ những giá trị kiến tạo nên dân tộc đó (bản sắc) hay một cộng đoàn kitô hữu không còn lưu giữ những giá trị làm nên cộng đoàn kitô hữu thì khó có thể nói đến tương lai của dân tộc hay cộng đoàn như thế.

II. TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Từ những phân tích trên về “gia đình” và về “truyền thống”, chúng ta có thể nói gì về “Truyền Thống Gia Đình Việt Nam” ?

  • Xét theo nghĩa “Traditum”: những giá trị truyền thống về gia đình mà cha ông để lại, qua ca dao tục ngữ, qua các tập tục lề thói… quả thực rất đẹp và phong phú, nhưng vẫn có điều, đó vẫn là vấn đề lớn đối với chính người việt nam. Dù rất hãnh diện về văn hóa, về bản sắc dân tộc của mình, nhưng những công trình thu tập, nghiên cứu, phổ biến cho đến nay vẫn hết sức rời rạc, manh mún. Muốn hiểu về truyền thống gia đình, về văn hóa việt nhiều khi phải nhờ đến những tài liệu, công trình nghiên cứu của người ngoại quốc! Đó là chưa kể, ký ức về truyền thống, về văn hóa của chính người việt đang dần dần mai một trong tâm trí các thế hệ trẻ.
  • Xét theo nghĩa “lịch sử tác động” (Wirkungsgeschichte) của truyền thống lên cuộc sống thực thì có thể nói rằng : tuy vẫn còn lưu giữ một số những giá trị truyền thống như lòng hiếu thảo, lòng kính trọng đối với người khác, hiếu hòa, nhường nhịn, thương người như thể thương thân, “lá lành đùm lá rách”, lòng hiếu khách, hòa nhã, “một sự nhịn chín sự lành”… (x. Đề Cương, số 5 Thực Trạng Văn Hóa, trg. 19), nhưng do nhiều tác động trên bình diện chính trị, xã hội, cũng như sự thay đổi về cấu trúc xã hội (đô thị hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa) những giá trị đó ngày càng mờ nhạt, nếu không muốn nói là chỉ còn trong sách vở hơn là trong thực tế: gia đình ngày càng phân tán, cuộc sống trở thành nơi dành dật, tranh đoạt, làm sao để vinh thân phì gia, bất chấp tất cả…
  • Có thể rút ra hai điều từ thực trạng xã hội việt nam hiện tại: một đàng có lẽ các giá trị truyền thống không còn đủ sức thiết phục (thiếu nền tảng vững chắc), không còn tác động bao nhiêu đến cuộc sống mỗi người cũng như của cả xã hội và đàng khác, chính những giá trị truyền thống của chúng ta cũng cần phải được đón nhận với óc biện phân, phản tỉnh (esprit critique) vì nếu không được nâng cao, biến đổi, những giá trị đó không còn đủ trả lời cho những thách đố của hiện tại và tương lai. Thật vậy, như đã nói trên, truyền thống gia đình việt nam nói chung khép kín hơn là rộng mở, nghiêng về danh dự, và quyền bính hơn là tôn trọng con người vì nhân phẩm của họ. Điều này ảnh hưởng lên mọi lãnh vực, từ bình diện nhân bản cho đến lãnh vực trí thức, tinh thần. Đơn cử cụ thể: người ta đối xử rất khác nhau tùy theo người bị đối xử thuộc gia đình, gia tộc hay dòng tộc của mình hay không (esprit tribal, nhất thân nhì thế), hoặc tùy theo “địa vị” của người đó trong xã hội. Đi học thì nghĩ đến bằng cấp, nghĩa là danh dự cho bản thân và gia đình hơn là mong đáp ứng lại những nhu cầu hay đòi hỏi của xã hội hay của con người nói chung. Học thì phải trường nổi tiếng nhất, điểm tốt nhất, bằng cao nhất… và như thế là… mãn nguyện cho mình cũng như cho cả “tông ti họ hàng”! Xây nhà thì phải nổi nang nhất, thậm chí khác biệt nhất, bất kể cộng đồng chung quanh ra thế nào. Làm sạch nhà mình bằng cách quét rác sang nhà người khác! Cứ xem người việt xây nhà thì biết quan niệm của họ về gia đình cũng như về cộng đồng xã hội!
  • Ở điểm này có lẽ chúng ta nên có cái nhìn quân bình và công bình hơn đối với truyền thống gia đình trong các xã hội Âu Mỹ vốn chịu ảnh hưởng sâu xa của văn hóa kitô giáo. Những giây phút quây quần, xum họp gia đình, hoặc những dịp nhớ đến người thân, đối với họ vẫn là điều hết sức thiêng liêng (Noel, đầu năm dương lịch, sinh nhật) và đàng khác, cách thức đối xử của họ trong gia đình dựa trên sự tôn trọng nhiều hơn là quyền bính. Con cái tôn trọng cha mẹ và ngược lại cha mẹ tôn trọng con cái. Con cái trách cứ cha mẹ ngay cả về những giá trị căn bản như : tôn trọng sự thật, tôn trọng công ích, tôn trọng môi trường… là chuyện bình thường! Đàng khác, môi trường gia đình truyền thống của Việt Nam khó tạo ra những con người biết sống tự lập, chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình. GS Michael Douglass (Trung tâm Nghiên cứu toàn cầu hóa, ĐH tổng hợp Hawaii, Mỹ), trong bài phỏng vấn về thiết kế đô thị (Hànội) trên vietnam net ngày 4/11): “một điểm khác biệt nữa của Việt Nam là các bạn có thể xin tiền của bố mẹ, anh chị… để mua sắm một căn nhà rất sang trọng. Bạn sự dụng những mối quan hệ truyền thống theo cách không thể có ở các nước phương Tây !”.

III. TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN CỦA KITÔ GIÁO

  1. Xét một cách tổng quát, truyền thống (văn hóa) việt nam nói chung và đặc biệt là truyền thống gia đình việt nam có sự tương hợp căn bản với các giá trị kitô giáo. Thật vậy, những đức tính nền tảng như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, hay các nguyên tắc ứng xử dựa trên “tình nghĩa”, trên chữ Tâm…cho thấy truyền thống người việt rất gần với Tin Mừng, nếu không muốn nói là một “lối mở” hay một “dẫn nhập” hết sức phù hợp và hài hòa với các giá trị Tin Mừng. Đàng khác, mối tương quan giữa cha mẹ với con cái cũng như tương quan giữa các thế hệ không chỉ dừng lại trên bình diện đạo đức mà còn mở ra với chiều kích tôn giáo (thờ ông bà). Dù không bao giờ đồng hóa hay lẫn lộn Tổ Tiên với “Ông Trời”, người việt coi mối tương quan giữa các thế hệ là vô cùng thiêng liêng. “Người chết nối linh thiêng vào đời” ! (Trịnh Công Sơn).
  2. Vậy, liệu những Giá Trị theo Tin Mừng có thể mang lại điều gì (gìn giữ, nâng cao – Aufhebung) cho truyền thống gia đình việt nam ? Vì là một vấn đề quá rộng lớn, chúng ta tạm giới hạn ở ba khía cạnh căn bản : ý thức cá vị (personne) – ý thức cộng đồng – ý thức trách nhiệm. Có thể coi đây là những giá trị tinh thần căn bản nhất mang chiều kích gia đình mà kitô giáo đem lại cho nhân loại. Thật vậy, cấu trúc căn bản của niềm tin kitô giáo là “cấu trúc gia đình” : trong chính mầu nhiệm Thiên Chúa [Cha Con và Thánh Thần] cũng như trong Nhiệm Cục Cứu Độ [để mọi người trở nên con của Thiên Chúa và trở thành anh em một nhà]. Trong viễn tượng đó, mỗi người đều là duy nhất, đều đáng được thương yêu và tôn trọng vì chính phẩm giá của họ [cá vị] đồng thời mọi người được kêu gọi nên một trong mọi sự [cộng đoàn], đến nỗi, không một điều gì xảy ra với con người (cộng đoàn, nhân loại) mà lại không đụng chạm sâu xa đến mỗi người (Gadium et Spes: không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ). Chính vì một gia đình như thế mà con người được kêu gọi sống với tất cả trách nhiệm của mình, trách nhiệm với bản thân; trách nhiệm với tha nhân và trách nhiệm với cộng đồng (nhân loại).
  3. Ý thức về nhân vị (nhân phẩm/nhân quyền): Tuy thường nói đến chữ “Nhân” chữ “Nghĩa”, nhưng trong thực tế, cách nhìn nhận cũng như cách đối xử “truyền thống” của người việt chịu ảnh hưởng sâu xa của mối tương quan gia đình theo nghĩa hẹp. Gia đình theo “nghĩa hẹp” nhấn mạnh trước hết đến mối liên hệ máu mủ, huyết thống. Vì thế mà những gì liên hệ đến gia đình, dòng tộc thì lấy làm trọng còn những gì hoặc những ai không ở trong mối liên hệ đó thì không “lấy làm điều”, nghĩa là có thể dửng dưng, không cần quan tâm đến. Mối liên hệ “thân, thế”, “con cha, cháu ông” chi phối lên mọi lãnh vực trong xã hội và trở thành lời biện minh, thậm chí là biện chính cho hành động hay cách cư xử có khi rất bất công, bất chính đối với người khác. Nói khác đi, người ta đối xử với nhau không qui về “nhân phẩm”, “nhân quyền” của mỗi một con người, mà thường dựa trên mối liên hệ “thân, thế”. Còn trong chính gia đình thì sự kính trọng thường lấn át sự tôn trọng, quyền bính làm mất đi khả năng lắng nghe, đối thoại, nghĩa là một tương quan hai chiều giữa Chồng – Vợ; Cha – Con; Anh – em… Sự thuận hòa, êm ấm trong gia đình nhiều khi được bảo đảm hay duy trì bằng khả năng “nhắm mắt”, “chịu đựng cho xong” hơn là bằng những khả năng khác…

Tôn trọng con người trước hết và sau hết là vì chính nhân phẩm, nhân quyền của họ, dù là trong hay ngoài gia đình, đó là điều mà đức tin kitô giáo có thể đóng góp cho truyền thống (văn hóa) việt.

  1. Ý thức cộng đồng: cũng vì quá nghiêng về gia đình theo nghĩa khép kín nên ý thức cộng đồng hết sức lu mờ, chưa thực sự trở thành ý thức “truyền thống” của người việt. Tất nhiên, “gia đình khép kín” ở đây có thể áp dụng cho những quan niệm mang tính chất cục bộ, địa phương và ngay cả là chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nét đặc trưng của lối quan niệm này là sự phân biệt triệt để giữa “mình” (ta !) và những gì “không thuộc về mình” (gia đình, dòng tộc, địa phương, dân tộc), hệ quả đương nhiên của nó là luôn luôn có những điều hoặc những kẻ bị loại trừ, bị đẩy ra ngoài lề, hoặc không được quan tâm, tôn trọng chỉ vì không thuộc mối liên hệ đó. “Không có bãi rác nào lớn như ở Việt Nam”! Một kiểu trào phúng có hơi thái quá nhưng cũng nói lên phần nào sự thật: vun vén cho mình, còn cái gì của ai khác thì mặc kệ. Cần phải thêm rằng, lối quan niệm chật hẹp này không chỉ tác hại ngoài xã hội mà còn ngay cả trong lòng giáo hội…

Một ý thức về “cái chung” vượt trên mọi “cái riêng”, ý thức về cộng đồng, ý thức về xã hội vượt trên mọi lợi ích, lợi lộc cá nhân, dòng tộc, một ý thức rộng mở và bao dung nhất lại không phải là điều mà chúng ta đang hết sức cần để xây dựng xã hội cũng như giáo hội?

  1. Ý thức trách nhiệm: đây là điều kiện thiết yếu để xây dựng con người (chủ vị) và cộng đồng (chung). Trách nhiệm, trong truyền thống Kitô giáo nhấn mạnh trước hết đến trách nhiệm cá nhân (chịu trách nhiệm về hành động cũng như cuộc sống của mình – câu chuyện Adam và Evà) trách nhiệm đối với tha nhân (như hình ảnh của chính Chúa – câu chuyện Abel và Cain, so St 9, 6 với với St 1,27, theo chú giải của Rabbi Jonathan Sacks cũng như của E. Levinas) và cuối cùng trách nhiệm đối với cả tạo dựng (Giao ước với Noê St 9, 8-16). Một chủ đề quá lớn, ở đây chúng ta chỉ đừng lại một vài khía cạnh liên hệ đến truyền thống gia đình Việt Nam.
  • Trách nhiệm cá nhân : phải nhận rằng, “truyền thống” gia đình Việt Nam không mấy thuận lợi cho ý thức trách nhiệm cá nhân. Cha mẹ hết lòng vì con, nhưng rất ít khi giúp con trưởng thành về trách nhiệm. Kinh nghiệm của nền văn hóa khác (Âu, Mỹ) : tuổi 18 là phải tự lo liệu lấy cuộc sống, dù cha mẹ thừa sức để tiếp tục bao bọc, hoặc cha mẹ giầu có đi nữa thì cũng chỉ chia vừa đủ để con có thể tự lập. Một khía cạnh khác, khi con cái sai trái thì cha mẹ thường tìm mọi cách để bảo vệ, bao che! Một trong những lý do chính có lẽ là vì…danh giá hay danh dự gia đình! (Âu Mỹ: con hư thì phải làm cho nó hiểu ra trách nhiệm của mình).
  • Trách nhiệm với tha nhân: người việt không thiếu lòng vị tha, thương yêu, đồng cảm, đặc biệt qua các biến cố (chiến tranh, thiên tai). Thế nhưng trong “đời thường” và nhất là qua những gì đang xảy ra hằng ngày trong xã hội việt nam hôm nay, có lẽ phải nói rằng, người việt chưa có truyền thống đối xử với tha nhân với sự nhạy cảm, tế nhị, tôn trọng. Lời chào, lời biết ơn, lời xin lỗi rất hiếm, đó là chưa kể những lời chửi rủa, nhục mạ, chỉ vì người ta “dám đụng đến mình”, bất kể là đúng hay sai, bất kể người đó là ai… Và thái độ dửng dưng, khoanh tay đứng nhìn, hay “tò mò đến coi” thảm kịch của người khác (tai nạn, bạo lực gia đình, bạo lực học đường) đến mức không thể hiểu nổi…
  • Trách nhiệm cộng đồng: khi xây dựng cộng đồng hay những công trình cộng đồng, điểm qui chiếu thông thường trong xã hội việt nam vẫn là “lợi lộc” hay “tiếng tăm, danh giá” cho bản thân hoặc gia đình hơn là ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Tất nhiên, nhu cầu “được nhìn nhận” là nhu cầu căn bản của con người, nhưng khi quá nhấn mạnh đến nó và nhất là trở thành động cơ chính yếu cho mối tương quan với cộng đồng thì việc đóng góp trở thành chuyện “ban tặng” thay vì là trách nhiệm. Điều người ta thường lãng quên hay chưa ý thức đủ đó là tầm quan trọng của cộng đồng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá thể trong cộng đồng. Cũng dễ hiểu bởi lẽ cũng chỉ gần đây nhân loại mới khám phá ra tầm quan trọng của môi trường, môi sinh cũng như mối tương tác giữa hành động của con người với môi trường sống của mình. Gìn giữ, bảo vệ, cùng chịu trách nhiệm về một bầu khí trong sạch lành mạnh là điều cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật, mỗi cá thể. Giữ gìn thiên nhiên không phải là chuyện con người “ban tặng” cho thiên nhiên cho bằng là bảo vệ chính điều kiện sống của mình. Quả thực, người việt chưa có truyền thống coi cái chung là quan trọng, lại thêm căn bệnh thâm căn cố đế là bệnh “sĩ diện, hư danh” nên cái gọi là tinh thần chung, ý thức chung, làm việc chung là điều hết sức khó, khó đến mức trở thành như nét “đặc trưng” hay một thứ “bản tính” của người việt chúng ta trên mọi lãnh vực!

IV. THAY CHO LỜI KẾT

Truyền Thống như viên ngọc quí ẩn sâu dưới ruộng. Không tha thiết tìm kiếm thì không bao giờ tìm thấy.

Truyền Thống như hạt giống gieo vào lòng đất, không vùi sâu thì mãi trơ trọi một mình, không bao giờ lộ ra mầm sống.

Truyền thống cần đến một mảnh đất tốt, nghĩa là phải chuẩn bị kỹ lưỡng và chăm sóc từng ngày.

Truyền thống không phải là câu chuyện của một thời, không là ý thức một ngày, cũng không phải là phong trào ai muốn khơi lên cũng được. Truyền thống cần đến những bàn tay biết đón nhận và gieo vãi, biết chờ đợi và hy vọng.

Số phận của hạt giống là không bao giờ được thấy cành lá hay bông hạt. Nhưng cánh đồng có chín vàng thì cũng từ khởi đầu rất nhỏ nhoi và vô cùng thầm lặng…