Tuổi Biết Buồn

Thuỵ Miên.

Ai xin phép để người viết khỏi phải lại chẳng biết buồn là gì, cho nên định nghĩa. Vì cái buồn tự ý đến với con người một cách vô cớ như bản nhạc đã được viết rằng: “Không biết đêm nay vì sao tôi buồn”. Chỉ biết cái buồn đến với con người ta từ thủa ấu thơ, khi đứa bé không được khoẻ trong mình, không được cha mẹ chiều theo ý nó muốn hay là khi chúng không được cha mẹ thương. Nhìn cái mặt ủ rũ kém vui của con trẻ, chúng ta biết ngay là nó buồn.

Cái buồn đến với trẻ học trò khi bị thày giáo phạt phải chép bài lại 20 lần vì không thuôc bài hay viết chữ quá xấu. Cái buồn của tuổi thanh niên, thiếu nữ khi nhớ người yêu, hay của những cặp vợ chồng đã buồn vì phải xa nhau. Cái buồn của những người già là cái buồn cô đơn, kẻ mất người còn ở lại dương thế.

Cái buồn được dùng để diễn tả nhiều tâm trạng khác nhau như: Buồn giận, buồn ngủ, buồn cười. Nó cũng được diễn tả tình trạng của cơ thể như buồn đi tiểu, buồn đi cầu, buồn ói.

Nói như thế  thì cái buồn gắn liền với cuộc sống của con người như hình với bóng. Nó đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc đời khi vui cũng như lúc sầu khổ. Nó làm cho chúng ta thêm chín chắn, thêm trưởng thành hơn, và nhất là nó giúp chúng ta tìm đến với Chúa và Đức Mẹ nhiều hơn.

Tôi thường đi đó đây, để học hỏi và lắng nghe những câu chuyện buồn vui của đời để hiểu được lòng người và của chính mình. Xin kể một chuyện buồn của các cụ tuổi già: Hôm ấy tôi di dự lễ ngày Chúa Nhật, một cụ bà khoảng trên 70 bước vào nhà thờ và ngồi hàng ghế sau lưng của tôi. Tôi nghe tiếng chào hỏi của bà với một người bạn già khác như sau:

  • Dạo này chị có khoẻ không?
  • Dạ! cũng khoẻ, nhưng buồn lắm chị, tiếng bà bạn trả lời.
  • Ủa sao vậy! Chị ở chung nhà với các con cháu cơ mà.
  • Vì ở chung nên tôi mới buồn. Chị nghĩ coi! Tui tối ngày phải lo ăn, lo uống cho ông, cho con, cho cháu. Tối đến thì cha con ngồi nhậu với nhau, có ngó ngàng gì đến tôi đâu mà không buồn?

À thì ra thế! Cứ tưởng về già thì sẽ được hưởng hạnh phúc, chứ có ai ngờ lại bị lãng quên.  Tuổi càng già, càng cần có nhau và càng cần hạnh phúc hơn bất cứ tuổi nào khác trong cuộc đời. Vì họ cả đời, đã hy sinh hết mình cho chồng con, thế mà họ chỉ  cần một chút chăm sóc của chồng và con, mà cũng bị quên lãng.

Đời sống hôn nhân là cần được nương tựa nhau lúc tuổi già, lúc sức yếu, chứ lúc còn khoẻ thì cả hai người đâu có màng gì thân xác, sức khoẻ, thời giờ để lo cho nhau và cho con cái. Ấy vậy mà lũ con trai chỉ biết tìm vui với bố qua các bữa ăn, mà quên đi sự chăm sóc cho người mẹ. Bà ấy thật đáng tôi nghiệp thay.

Chuyện buồn tuổi già không dừng ở đây, mà nó lan tràn cả sang các ông như hai câu truyện sau đây:

Chuyện thứ nhất là chuyện ngày xưa xửa là xưa. Mẹ tôi kể rằng, Bà nội của tôi rất ư là tính toán với ông nội của tôi. Hễ hôm nào mà ông đi lưới cá được nhiều, thì bà sai mẹ tôi đi mua rượu cho ông uống lúc ăn cơm. Còm hôn nào được ít, hay không có cá, thì ông nội của tôi chỉ biết ngửi chai không còn rượu mà thôi. Có thể vì hoàn cảnh nghèo mà bà nội của tôi đã làm thế.

Còn chuyện thời nay thì lại khác: Có đứa con gái nói với mẹ nó thế này: “Mẹ dạo này nấu ăn nhiều chất mỡ quá, khiến con thấy bố trông phổng phao hẳn ra”. Thế là tự dạo nghe con gái nói với bà như vậy. Bà lão bèn áp dụng phương pháp kiêng ăn dầu, mỡ. Đã thế bà lão lại còn áp dụng phương pháp ăn theo tiêu chuẩn, mà cho ông lão ăn mỗi bữa lưng chén cơm. Ông lão đang khoẻ mạnh, tự dưng yếu hẳn đi, tối ngày chỉ buồn ngủ, mệt mỏi và hết muốn làm việc nặng, hết muốn giao tiếp bạn bè. Đã thế bà lão lại nghe bạn bè về cấm ông lão không được “vui say” với bạn bè nữa. Mỗi lần gặp gỡ bạn bè, có vui  và than thiết lắm thì chỉ được uống tiêu chuẩn 1 chai bia mà thôi.

Ối giời ơi! Thế thì còn gì vui nữa mà chẳng buồn, vì “nam vô tửu như cờ vô phong”. Có lẽ đứa con gái chưa hiểu tuổi già, chẳng hiểu đàn ông cho nên nó xúi mẹ nó kiêng cữ ăn uống cho bố nó. Có lẽ cuộc sống bây giờ người đàn ông Việt đã hết bị chết sớm vì chiến tranh, cho nên người ta ham sống lâu cho được gọi là trường thọ. Cũng vì thế, mà nhân loại ham sống nơi trần gian này, dù là họ biết cuộc sống này chỉ là tạm bợ. Thú thật mà nói ham sống lâu là do các bà chứ cánh đàn ông chúng tôi chỉ muốn sống hùng, sống mạnh và sống có ích cho gia đình và cho đời mà thôi.

Xin hãy nhìn những cơn sóng của biển, cho dù là cơn sóng to hay cơn sóng nhỏ, chúng đều tan biến vào dòng nước mênh -mông của biển, sau khi chúng đã mang được nước vào bờ. Làm thân phận đàn ông, làm cha trong gia đình cũng giống như những cơn sóng biển ấy, họ được sinh ra đời, đi vào đời và rồi tan biến trong đời một cách âm thầm, có may chăng chỉ còn là tiếng sóng vỗ do gió thổi mà thôi. Biển không có gió, thì làm sao có sóng. Cờ không có gió, thì làm sao cờ bay và có tiếng kêu phành phạch, và đàn ông không có rượu thì còn đâu là dũng mạnh. Tôi bỗng dưng nhớ lại chuyện vượt biên 1983. Ngày ấy chiếc thuyền của tôi tàu đánh cá Kiên Giang bắt, và bị kéo về gần đảo Phú Quốc rồi họ thả. Chiếc thuyền đi lạc hướng về cửa biển Ba Động, thuộc tỉnh Trà Vinh. Tôi được một người dân cứu và đưa tôi dấu ở một cù lao hoang. Anh ta hẹn tôi vào tôi mai sẽ đến đưa tôi về đất liền. Tối hôm sau anh ta chèo thuyền đến nhưng hơi trễ, có thêm một người thanh niên khác nữa cùng đi với anh. Anh ta nói chuyện với tôi sặc mùi rượu và giải thích: Em đến trễ vì cần phải uống chút rượu với thằng em ruột để nhờ nó giúp một tay và thêm tinh thần. Ai cũng biết là giúp đỡ người vượt biên lúc ấy, cũng bị kết tội đồng loã. Cũng nhờ chút men rượu ấy mà họ dám làm việc nguy hiểm đến tính mạng của họ để cứu thoát tôi. Anh ta là người lính y tá của quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã tự nguyện giúp tôi, khi anh ta biết tôi là Sĩ quan Trợ Y. Chuyện chỉ có thế mà thôi, nhưng nhờ rượu mà người anh em ấy có can đảm đã cứu được sinh mạng tôi thoát khỏi vòng vây của công an biên phòng vào đêm hôm ấy.

Bạn già của tôi, bây giờ còn sống thì đã ít.

Chúng tôi lại ít có được cơ hội để uống với nhau cốc rượu. Ôi sống như thế thì bảo sao cánh đàn ông chúng ta lại chẳng mong mau sớm được về trời ngồi uống rượu với Chúa. Nếu ai không tin thì cứ thử làm một cuộc thống kê mà coi, con số người đàn bà goá nhiều hơn số đàn ông goá. Đặc biệt trong cuộc sống tha hương ở các nước Tây phương, cánh đàn ông chúng ta còn chịu cảnh khác biệt văn hoá, luật lệ của đất nước xứ người. Nào là quyền bình đẳng, nào là luật bảo vệ phụ nữ để tránh khỏi bị bạo hạnh, nào là luật ly dị… Cho nên tình yêu của mọi gia đình, của vợ chồng cũng dần dần bị biến đổi theo thời gian.  Ngày xưa, cảnh chồng chúa, vợ tôi thì nhiều, do ảnh hưởng bởi Khổng giáo. Thế nhưng, về sau này thì chính mắt tôi đã thấy, khi tôi đạp xe đi mua mật mía của lò đường ở Tân Vạn về nấu kẹo. Một người phụ nữ thân hình to béo cầm chổi chà quật túi bụi lên đầu người đàn ông thân hình gầy gò đang ngồi trên tấm phản gỗ ngoài phòng khách, ngày ấy mọi nhà thường mở toang cửa chính cho có ánh sáng mặt trời chiếu vào nhà.

Bây giờ, hiếm tìm thấy gương sống của người phụ nữ Việt Nam cần mẫn, chịu đựng, khổ cực vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai của con trẻ như thời của các cụ tuổi bảy mươi. Người phụ nữ thường dùng quyền “bất khả xâm phạm của nước Úc”, quyền “nam nữ bình đẳng của quốc tế”, để làm những điều mà tôi đã nghe trong chuyện cười của hội sợ vợ thí dụ như những mẩu chuyện: “Chết mày chưa, em chừa rồi”. Ngày nay vợ bắt chồng quỳ và tự tát vào mặt mình cho đến khi tím và sung phù hai má; Vợ cấm không cho chồng tiếp xúc với bố mẹ, anh em của nhà chồng, Vợ bắt chồnglàm việc này, việc nọ mà đáng ra người vợ nên làm; Hay người vợ cấm không cho chồng ân ái, và họ coi đó là chuyện bố thí mà họ có quyền ban cho người chồng. Họ tự ý ly dị, khi không còn tìm thấy thích thú hay sai bảo người chồng làm theo ý muốn của họ được nữa. Chả thế mà cánh đàn ông rủ nhau vào “Hội Sợ Vợ”, từ ngày họ đến sống ở các nước Tây phương này ngày càng đông. Trời ơi là trời, còn đâu là đạo lý, luân lý của người Việt Nam. Nói như thế, có người lại cho rằng chỉ có lũ quân vô đạo hay là đạo nào đó, chứ người Công giáo thì… Thật sự thì cái hiện tượng này đang xảy ra cho tất cả mọi lứa tuổi, mọi người tha hương và ở tất cả mọi tôn giáo.

Giáo hội và đặc biệt các cha quản nhiệm đã có giải pháp nào chưa, hay chỉ lo xây nhà thờ cho lớn mà quên đi vấn nạn về luân lý này. Người châu Á đã bị đồng hoá với các suy đồi của người Tây phương, để gây ra vấn nạn nghịch lý này trong xã hội hiện tại.

Nói như thế thì phản ứng của các ông chồng ra sao?

Nhẹ nhất là buồn, trầm cảm, sống tách biệt với xã hội, với người thân và với bạn bè. Nặng hơn thì phải nhập nhà thương điên. Nếu có can đảm hơn chút nữa thì ‘tắt đèn làm lại từ đầu’.

Nói về chuyện buồn thì chúng ta cũng đã hiểu là nó len lỏi vào hồn của mọi người, các thánh nhân cũng bị buồn, và ngay cả Đức Mẹ cũng bị buồn muôn thủa. Đức mẹ buồn từ khi nghe sứ thần Gabrie truyền tin về việc mang thai bởi Đức Chúa Thánh Thần. Những lời đồn sẽ được lan ra và Đức Mẹ sẽ phải chịu sử tội theo luật hình ném đá thời ấy. Mẹ đã buồn vì người bạn đời, gia đình hiểu lầm. Nhưng với Đức Tin vào Thiên Chúa tuyệt đối của Đức Mẹ mà Người đã chấp nhận vâng theo thánh ý: “Này tôi là tôi tá của Đức Chúa Trời, tôi xin vâng như lời thánh thiên thần truyền”.

Mẹ buồn hơn nữa khi ông già Simeon đã bồng ẵm Chúa Hài Nhi, và ông đã nói lời tiên tri với Đức Mẹ: “Còn phần Bà thì như có lưỡi dao đâm thấu lòng Bà”.

Mẹ không buồn sao được khi ở tiệc cưới Cana, sau khi đã xin Chúa làm phép lạ vì chủ của tiệc cưới đã hết rượu, Chúa trả lời với Đức Mẹ: “Việc ấy can gì đến bà, giờ của tôi chưa đến”.

Mẹ không buồn sao được, vì sau 3 ngày long đong, vất vả đi tìm con trẻ. Khi gặp được Chúa Giêsu trong đền thờ Giêrusalem, và Chúa Giêsu trả lời rằng: “Cha mẹ không biết rằng, con còn phải lo việc của Chúa Cha trên trời nữa hay sao?”.

Mẹ không buồn sao được, sau bao nhiêu vất vả, chen lấn đám đông để tìm gặp Chúa trong đám đông dân đang nghe Chúa Giêsu giảng, có người nhắc Chúa rằng: “Kìa mẹ và anh em của Người đang đến gặp Chúa. Chúa trả lời với dân chúng rằng: “Ai là mẹ ta, ai là anh em ta? Những người nghe lời Ta giảng và thực hành thì kẻ ấy là mẹ Ta, là anh em của Ta”.

Những lời nói ấy đã khiến Đức Mẹ buồn, nhưng khi Đức Mẹ chứng kiến cảnh Chúa Giêsu chịu đánh đòn, chịu đóng đinh trên thập giá, và nhất là khi thấy con tắt thở trên cây thập giá, thì cái buồn ấy to tát là chừng nào, cái buồn của mẹ muốn chết thay cho con của mình, cái buồn ấy khi thấy các lời tiên tri được ứng nghiệm, cái buồn ấy như xé nát tâm hồn của Đức Mẹ. Nước mắt của Đức Mẹ tuôn chảy không ngừng. Mẹ sợ hãi, kinh hoàng khi thấy con của mình bị người đời xử án vì ghen ghét một cách dã man như thế.

Nỗi buồn của Đức mẹ vẫn nối dài muôn thủa cho đến tận thế. Chính vì lòng thương xót của Thiên Chúa muốn cứu chuộc nhân loại. Cũng chính vì tội lỗi của nhân loại, và sức mạnh cám dỗ của ma quỷ đã khiến chúng ta quên Lời răn của Đức Chúa Trời, khiến nhân loại bỏ Chúa và chạy theo và làm tôi Tiền bạc. Chúng ta lại kéo Chúa Con từ trời cao xuống để đóng đinh Chúa hàng ngày, hàng nhiều lần, và cũng chính vì thế mà nỗi buồn của Đức Mẹ càng thê thảm hơn. Cảnh người lính chết hai lần do đạn của quân thù và xe chở quan tài từ mặt trận về nhà lại bị mìn gài trên đường của quân thù làm cho nổ tung, đã làm cho cõi lòng của người thân tan nát. Nếu chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu phải chịu khổ nạn mỗi khi nhân loại phạm tội, thì sẽ hiểu được nỗi buồn của Đức mẹ kèo dài và to lớn biết bao.

Thánh lễ Misa mà chúng ta được hồng phúc tham dự, đã tái diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cho chúng ta cảm nhận được tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với nhân loại. Hơn thế nữa cho chúng ta hiểu được nỗi buồn vô hạn mà Đức Maria phải chịu đựng cho đến ngày tận thế, cái ngày mà thế gian này không còn ai sống sót nữa. Hỡi những ai đang buồn phiền, hãy chạy đến cùng Đức Mẹ, để lắng nghe tiếng Mẹ Maria tâm sự với chúng ta. Một nỗi buồn không dính dáng đến tội lỗi cá nhân của Đức Mẹ. Còn nỗi buồn của chúng ta, không ít thì nhiều cũng có nguyên nhân, cũng có một phần do lỗi phạm của chúng ta, vì các cụ thường nói: “không có lửa làm sao có khói”.

Có người cho rằng ngày nay không có gương sáng mà chỉ toàn là gương tối. Hãy tìm đọc các gương sống đạo của các Thánh để mà học hỏi. Ngay từ thời gian đầu truyền giáo của các cha Thừa Sai Paris, các ngài đã viết sách ‘Hạnh các thánh’ bằng tiếng Nôm, để cho giáo dân đọc và bắt chước gương sống đạo của các ngài (thời ấy người Việt chúng ta còn viết bằng chữa Nôm).

Thời nay, với máy móc điện tử tối tân thì báo chí chỉ viết đa số những tin tức lố lăng, khiến người đọc, người nghe càng thấy tức mà thôi. Chứ có mấy ai (kể cả các cha Việt Nam) chịu viết, chịu ghi lại những gương sống đạo tốt lành đâu. Phải chăng đây là sự thiếu xót trong phương pháp truyền giáo, trong công việc thực hiện di chúc của Chúa Giêsu.

Khi mọi người hiểu được nỗi buồn của mình chỉ là nỗi buồn nhỏ của nỗi buồn nhân loại trong thế giới. Với tâm trạng ấy, người Công Giáo chúng ta phải tìm ra một chân lý sống, để có thể nói được rằng: “Buồn ơi! Ta chào và bái bai mi”, để vui và sống.

Trước hết chúng ta vui vẻ chấp nhận nỗi buồn là một phần của cuộc sống, để học hỏi kinh nghiệm sống và trưởng thành hơn trong thân phận làm người. Thí dụ khi ta chạy xe quá tốc độ bị máy ghi tốc độ chụp được, giấy phạt tiền và điểm lái xe bị trừ gởi tới nhà. Chúng ta buồn vì bị mất tiền, mất điểm.Nỗi buồn ấy giúp chúng ta có kinh nghiệm lái xe tốt, cẩn thận hơn và an toàn hơn.

Hoặc khi chúng ta buồn vì đậu xe ngoài đường bị người khác cọ quẹt làm hư xe mà chúng ta không biết là ai. Thì buồn và lo lắng làm chi, nếu không đóng bảo hiểm xe hai chiều thì tốt nhất hãy bỏ tiền túi ra mà sửa chữa là xong. Vì trong cuộc sống của chúng ta cần phải có những khoảng tiền phải chi cho những việc lãng nhách, không tên.

Buồn giúp ta học được các nhân đức yêu thương, khiêm nhường, nhẫn nhục, tha thứ như trong hạnh Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, câu chuyện khi chị thánh giặt quần áo bị chị nữ tu đứng bên cạnh cố tình vò mạnh tay, khiến các nước xà phòng bắn vào mặt của chị thánh Têrêsa.

Buồn sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm sự, và cảm thông với những người đang sầu khổ. Khiến chúng ta nhận thức được việc an ủi kẻ âu lo, và giúp họ tìm được bình an trong tình thương của Thiên Chúa là điều quan trọng trong công tác tông đồ giáo dân. Hơn thế nữa là chúng ta biết khóc với người khóc là xứng đáng làm con của Thiên Chúa, và được gia nghiệp là Nước Trời.

Một cách giải quyết nỗi buồn siêu đẳng hơn là chúng ta đừng để Chúa phải buồn. Đó là nhân loại biết thương yêu nhau, sống chân thật giúp đỡ nhau, biết tôn thờ một Thiên Chúa là cha chung của nhân loại và mọi loài thụ tạo.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp cho bạn hiểu biết nỗi buồn của mình thật bé nhỏ, thật mau chóng qua đi, khi chúng ta so sánh nỗi buồn vô hạn của Thiên Chúa và của Đức Mẹ. Hy vọng lời nhắn nhủ của Đức Trinh Nữ Maria  ngày xưa ở làng Fatima: Hãy ăn năn, đền tội; Hãy tôn sung Mẫu Tâm; Hãy năng lần hạt Mân Côi. Sẽ được mọi người sử dụng làm phương thuốc chữa nỗi buồn của chúng ta.

Thuỵ Miên.

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.