Vai trò của vị Thủ lãnh Giáo Hội qua các thời đại

DẪN NHẬP

Giáo Hội là một thực tại vừa hữu hình vừa thiêng liêng có Chúa Giêsu là Đầu. Xét về phương diện trần thế, cũng như các tổ chức khác trên trần thế, Giáo Hội cũng có cơ cấu phẩm trật, cho nên Giáo Hội cũng có vị Thủ lãnh để lãnh đạo và điều khiển. Đó là Đức Giáo Hoàng. Tên gọi của vị thủ lãnh Giáo Hội từ thời Thượng cổ, qua Trung cổ, Cận và Hiện đại đến nay có những biến chuyển thế nào; vị Thủ lãnh Giáo Hội thực thi vai trò của mình ra sao… Chúng ta cùng nhau rảo bước qua dòng lịch sử, khởi từ vị Thủ lãnh Phêrô tới Đức Giáo Hoàng đương kim của chúng ta.

NỘI DUNG

Thượng Cổ Kitô Giáo

1. Thời kỳ Hy – La ( 30-313)

Theo truyền thống Giáo Hội, Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội vào khoảng năm 30 tại Giêrusalem, và đã đặt Phêrô làm thủ lãnh Giáo Hội: “Anh là Phêrô nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, thầy sẻ xây Hội Thánh của thầy và quyền lực tử thần sẻ không thắng được” (Mt 16,18; Ga 1,42).

Điều đó cho thấy rằng, chính Chúa Kitô là Người đã chọn thánh Phêrô là anh cả các tông đồ và đứng đầu Hội Thánh hữu hình.

Như thế, vị giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội và thời thượng cổ là thánh Phêrô với ngai toà đầu tiên được đặt ở Antiôkia, vì có những cuộc bách hại tại Giêrusalem. Vai trò của Phêrô thời gian này là giảng dạy Chúa Kitô tử nạn và phục sinh. Ngài điều khiển cộng đoàn ngay trong các vấn đề vật chất, giải quyết cuộc tranh tụng về lề luật giữa người Do thái – Kitô giáo với anh em lương dân trở lại. Ngài có toàn quyền xét xử và truyền lại những quyền đó cho các vị Giáo Hoàng kế tục ngài.

Với hai lần đến Rôma, lần đầu dưới triều Hoàng đế Claudius với ông Marcô. Từ đó trở đi, thành phố Rôma đã trở thành trung tâm rao giảng Kitô giáo, và là trung tâm của Giáo Hội. Thánh Phêrô trở lại Rôma lần hai vào năm 64 và chịu tử đạo năm 65 do cuộc bách hại của Nêrô. Sau khi ngài qua đời với tư cách lá Giám mục Lamã, những đấng kế vị ngài như: Linus, Clémente… luôn chủ trương Lamã có quyền trên các giáo hội khác. Trong giai đoạn này, vai trò của các ngài là phải vất vả giữ gìn đức tin cho Giáo Hội, nâng đỡ các tín hữu trước những cuộc bách hại dữ dội của các Hoàng đế Nêrô (54-68), Septime Sévère (193-211), Dèce (249-251) Velérien (253-260), Dioclétien (284-305)… Đồng thời phải đương đầu với những lạc thuyết chống lại đức tin nguyên tuyền.

2. Giáo hội trong đế quốc La Mã Kitô giáo (313-476)

Từ sau thời Hoàng đế Constantinô với chiếu chỉ Milanô tha đạo (313), Giáo Hội phát triển và vai trò của Giáo Hoàng được củng cố. Tại Tây phương, một mình Đức Giáo Hoàng là chủ, ngài được tuyển chọn từ dân chúng và các Giám mục tỉnh, không có tranh chấp quyền ưu tiên. Lần đầu tiên quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng được chính thức công nhận (341) tại Công đồng Sardigne. Khuôn mặt tiêu biểu là Giáo Hoàng Lêon Cả, ngài đã xác định các Linh mục không kết hôn. Vào thời này, các Giáo Hoàng đã bắt đầu tổ chức Giáo Hội theo mô hình quốc gia.

Vai trò các giáo hoàng trong thời thượng cổ chủ yếu lo việc rao giảng. Giữ vững đức tin tinh tuyền của Kitô giáo, hầu hết phải hoạt động đương đầu với tinh thần ngoại giáo, xác định lễ Phục sinh: Giáo Hoàng Soter (Giáo hoàng thứ 12) dời ngày lễ Phục sinh 14 tháng Nisan sang chủ nhật kế tiếp. Hay xác định lễ vật được làm phép trong thánh lễ… Các Giáo Hoàng cũng lo xây dựng Giáo Hội từ những vùng đã bị tàn phá do các Hoàng đế ngoại đạo.

Trung Cổ Thời Đại.

1. Các nền tảng của trung cổ thời đại ( thế kỷ V-X)

Vai trò của Giáo Hoàng trong thời Trung cổ đã có một bước tiến đáng kể trong thần quyền cũng như thế quyền.

Tước hiệu “Pape” dành riêng cho vị Giám mục Rôma, với tư cách là người kế vị thánh Phêrô và là thủ lãnh Giáo Hội hoàn vũ, xuất hiện vào thế kỷ thứ VI và ngày nay vẫn còn dùng để chỉ quyền tối cao của ngài.

Danh hiệu Pape được các vị thừa sai đã chuyển sang tiếng việt là Đức Giáo Hoàng, cũng dùng chỉ vị thủ lãnh của Giáo Hội, Đấng kế vị thánh Phêrô.

Đức Giáo Hoàng Grégoire Cả đã đặt nền móng cho thời Trung cổ. Ngài là muốn qui tụ tất cả quanh Lamã, đã tái thiết Lamã, điều khiển các cuộc truyền giáo ở Anh. Chính ngài với tinh thần khiêm tốn đã dùng kiểu ký “tôi tớ của các tôi tớ”, về sau các vị Giáo Hoàng kế tục đã sử dụng. Giáo Hội thời kỳ này cũng vẫn còn tình trạng các phó tế được bầu chọn làm Giáo Hoàng, vì quan niệm là giáo sĩ chỉ kết hôn với Chúa Kitô một lần mà thôi, phó tế mới chỉ là đính hôn.

Thời kỳ này Giáo Hội chưa có ảnh hướng lớn đối với thế quyền, còn lệ thuộc vương quyền. Nhưng kể từ Đức Giáo Hoàng Élienne II (752-757), Nước Toà thánh xuất hiện. Từ đây, Giáo Hội có hai lưỡi gươm đời và đạo, gươm đời giao cho vua, gươm đạo do Giáo Hoàng giữ. Giáo Hoàng có quyền tấn phong Hoàng đế và ngược lại Hoàng đế có quyền phê chuẩn việc tuyển chọn Giáo Hoàng. Vai trò của các ngài trong lúc này, lo gìn giữ mối hiệp nhất trong Giáo hội, chống lại những suy đồi từ hàng giáo sĩ, xác định quyền tuyệt đối của Đức Giáo Hoàng. Giáo Hoàng Nicolas I (856-867), dựa vào các Hoàng đế từ nhà Mérovingien, Carolingien và Đức quốc để xây dựng, gìn giữ và tổ chức Giáo Hội.

2. Giáo Hội dưới sự bảo vệ của Đức quốc (thế kỷ X-XI)

Vào thời này, Hoàng đế Otton I đa tăng thêm quyền lực cho các Giám mục bằng cách ban nhiều quyền lợi và đất đai, các Giám mục là các “Princes”.

Cũng cần nói thêm rằng, như thời Charlemagne, Hoàng đế được Đức Giáo Hoàng đặt vương niệm và được mọi người tuyên thệ trung thành. Việc bầu Đức Giáo Hoàng phải được Hoàng đế chấp thuận. Hoàng đế cũng nhận giải quyết mọi tranh chấp trong nội bộ Giáo hội. Các ông quan niệm Hoàng đế và Giáo Hoàng phải cùng lo hạnh phúc đời đạo cho nhân dân. Từ đây, ngôi Giáo Hoàng không còn là “mồi ngon” cho một phe nhóm hay một gia đình phong kiến nào nữa, được chuyển sang quyền bảo vệ của các vua Đức, Giáo Hoàng trở lại tình trạng nhu dưới triều Carolingien. Cụ thể là Otton I đã đặt lên ngôi Giáo Hoàng một giáo dân với danh hiệu Lêôn VIII (963-965) và người kế vị là Jean XIII. Còn Otton III (983-1002) đã can thiệp nhiều lần vào việc tuyển chọn Giáo Hoàng, Ông đã đặt Đức Grégoire (996-997) người Đức làm Giáo Hoàng. Đức Giáo Hoàng kế tiếp là Sylvestre II (990-1003), người Pháp dòng Biển Đức. Sau khi Hoàng đế và Đức Giáo Hoàng qua đời, ngôi Giáo Hoàng lại rơi vào ách thống trị của cánh Grescen Tius và gia tộc Tusculum. Sau này Henri III đã giải phóng hoàn toàn Ngôi Giáo Hoàng khỏi tình trạng lệ thuộc thảm thương vào phe nhóm. Ông đặt những vị xứng đáng lên Ngôi Giáo Hoàng, đặc biệt nhất là Giáo Hoàng Léon IX (1048-1054), người đã khởi đầu những cuộc cải cách mà Grégoire VII sẽ hoàn tất.

3. Trung cổ thời đại đúng nghĩa (thế kỷ XI-XIII)

Thế kỷ XI-XII có những bước tiến đáng kể về vai trò của vị Giáo Hoàng: Đức Nicolas II quyết định: Giáo Hoàng chỉ được đắc cử do sự chọn lựa tự do của các Hồng Y.

Đến thời Đức Grégoire VII mới thực sự có những cải cách mạnh mẽ: xác định luật độc thân, cấm nhận thánh chức do thế quyền. Ngài tuyên bố bãi bỏ việc các ông hoàng trao nhẫn gậy cho Giám mục. Từ đây, các Giám mục không còn nhận chức do vua, vua không còn quyền cắt đặt Giám mục. Chính ngài đã tuyên bố duy chỉ Giáo Hoàng La mã mới được mệnh danh là Giám mục hoàn vũ mà thôi. Ngài xác định chỉ có một quyền bính duy nhất là quyền Giáo Hoàng.

Các Giáo Hoàng kế tiếp: Đức Urbain II, Pio V còn phải đương đầu với Hồi giáo, và kêu gọi “Thập Tự Chinh” để cứu những vùng Đất thánh.

Kể từ thế kỷ XIII: Vai trò Đức Giáo Hoàng được xác định rõ ràng trên cả quyền đời lẫn quyền đạo. Công đồng chung Latran III (1179), Đức Giáo Hoàng Alexande III quy định việc bầu Giáo Hoàng do Hồng Y đoàn quyết định, và phải có 2/3 số phiếu mới thành. Trước đó, năm 1171, ngài ấn định việc phong thánh là độc quyền của Toà thánh.

Từ Giáo Hoàng Innocent III, Giáo Hoàng là chủ nhân của Tây phương có quyền trên cả vua và có quyền can thiệp vào mọi vấn đề xã hội. Việc cải tổ Giáo Hội nhờ các dòng tu, lập bộ giáo luật từ các sắc lệnh của các Giáo Hoàng và chống lại các lạc giáo quốc gia.

4. Thời hạ trung cổ

Dưới triều đại Giáo Hoàng Innocentiô III người ta có thể nói về sự thống nhất chính trị ở Châu Âu dưới quyền của Giáo Hoàng. Những cuộc thập Tự Chinh chống Hồi giáo và ngoại giáo đều nằm dưới quyền hướng dẫn của Giáo Hoàng. Nhưng chính lúc mà người ta ngỡ rằng tất cả đã đi đến sự thống nhất thì lại xuống dốc ở thời hạ trung cổ này.

Với nước Pháp và sự hỗ trợ của Pháp, ngôi Giáo Hoàng có thể chiến thắng trên nhà Hohenstaufer. Như thế ngôi Giáo Hoàng không còn chịu ảnh hưởng của nước Đức nhưng chịu ảnh hưởng của nước Pháp, Giáo triều được chuyển về ở Avignon nước Pháp, bởi lẽ bảy vị Giáo Hoàng trong thời kỳ này đều là của Pháp, cuộc lưu đày này là một ngón đòn kinh khủng giáng vào nội lực cũng như ngoại diện của ngôi Giáo Hoàng.

Về nội lực: Giáo Hoàng ra đi, giáo đô hoang vắng. Nước Toà thánh và trật tự Roma sụp đổ, lôi kéo theo quyền Giáo Hoàng.

Về ngoại diện ngôi Giáo Hoàng cũng bị sụp đổ: ngôi Giáo Hoàng chỉ còn dành riêng để phục vụ cho ước vọng của một quốc gia; quyền lực chính trị của ngôi Giáo Hoàng, uy quyền trên nước Toà thánh cũng sụp đổ; người ta quen dần lối nhìn Giáo Hoàng như một lãnh tụ chính trị; phương tiện cấm đoán và vạ tuyệt thông bị lạm dụng và mất đi hiệu năng cũng như quyền lực của ngôi Giáo Hoàng; ngay tại Avignon chính giáo triều chỉ chuyên tâm tích thu tiền bạc.

Trong thời kỳ này mũ Giáo Hoàng có thêm tầng thứ ba, từ nay việc bầu Giám mục được thay thế bằng việc cắt đặt bởi quyềnGiáo Hoàng “nhờ ân huệ Thiên Chúa và tông toà”.

Tranh chấp cuối cùng giữa ngôi Giáo Hoàng và ngôi Hoàng đế dẫn đến cuộc ly khai ở Tây phương và Giáo Hội xuất hiện ba Giáo Hoàng.

Chính trong thời kỳ này, xảy ra cuộc ly giáo tại Tây Phương kéo dài gần 40 năm. Đức Giáo Hoàng Urbain VI được bầu do áp lực của người Y(1387-1394).Vì thế, các Hồng Y ngoại quốc đã kéo xuống Anagni bầu Đức Giáo Hoàng Clément VII. Ngài cùng các hồng Y của mình sang lập Gióa triều tại Avignon và cuộc ly giáo bắt đầu.

Mãi đến năm 1414 công đồng Constance xác định Công đồng có quyền tối cao trong Giáo Hội, và bầu Đức Giáo Hoàng Martin V (1417-1431). Ngài chủ tọa luôn Công đồng, và ra nhiều sắc lệnh cải tổ rồi mới về Lamã đăng quang. Thời kỳ đại ly giáo chấm dứt. Chính Đức Giáo Hoàng Martin V đã loại bỏ quyền tối thượng của công đồng.

Cận, Hiện Đại Và Đương Đại

1. Thời kỳ tin vào mạc khải (thế kỷ XVI- XVII)

a. Phục hưng và nhân bản chủ nghĩa (1450 – 1517)

Đây được coi là thời kỳ “đêm tối” của Giáo hội với việc các Giáo Hoàng giây mình quá sâu vào chính trị, với nếp sống hưởng lạc, lợi ích gia đình dòng họ, và ưu tư kiếm tìm địa vị cho con cháu …. Các ngài đã phục vụ quyền lợi mình cách vô sĩ tới độ nhiều vị trong số các ngài đã hoàn toàn đánh mất tinh thần Đức Kitô. Những lạm dụng quái gở tại Avignon, ly giáo, mại thánh và con cháu giờ đây còn gia tăng bởi cuộc sống vô luân và phóng đãng, và bởi khát vọng biến các quốc gia của Giáo Hội thành lãnh địa riêng cho dòng họ Giáo Hoàng. Tất cả những tồi tệ này là bằng chứng khiến cuộc phục hưng chỉ còn lưu ý tới mọi việc trần thế mà thôi. Đức Alexandre VI là niềm tủi nhục của ngôi Giáo Hoàng: sinh ra trong một gia đình Marranos, dòng họ Borgia, Tây Ban Nha, Ngài là vị Giáo Hoàng của năm thánh 1500, của nạn mại thánh, của ngoại tình và của thuốc độc. Vai trò của vị Thủ lãnh lúc này dường như bị hạ xuống dưới mức thấp nhất.

Mặc dầu cuộc phục hưng đã thành công. Nhưng bất hạnh thay! Những mãnh lực kỳ vĩ hiện tại không quân bình. Thay vì tiên báo điều xây dựng, các tiền triệu chỉ loan báo tàn lụi và bão tố. Và bão tố đã xuất hiện cuộc cải cách của Luther.

b. Đoạn tuyệt với đức tin (thế kỷ XVI)

Cuộc cải cách Thệ phản là tai họa lớn nhất trong lịch sử Giáo Hội mãi tới hôm nay. Nó vừa là một sự kiện xã hội, vừa là một trào lưu tinh thần, chính trị và kinh tế, vừa là một trào lưu thần học và tôn giáo. Nó còn phức tạp do nhân cách đầy mâu thuẫn của Luther. Đây là một hình ảnh trung thành của thế kỷ XV đang kết thúc.

Tuy thế, người ta phải công nhận những cuộc tấn công Thệ phản đã giúp cuộc cải cách bên trong Công giáo tiến nhanh hơn. Kế vị Đức Léon X, “kẻ lợi dụng ngôi Giáo Hoàng”, là Đức Andrien VI (1522-1523). Ngài đã có đồng thời tinh thần trách nhiệm của một người Đức, chiều sâu tư tưởng của một nhà nhân bản và cảm thức gắt gao về Giáo Hội như một người Tây Ban Nha, sau hết, một lòng đạo đức trung thực và một nhiệt tình nóng bỏng đối với cuộc cải cách. Ngài là một dung mạo rất cao quý nhưng cũng rất bi đát đối với lịch sử.

Với Đức Paul III (1534-1549) có một sự chuyển biến. Bất chấp mọi trở ngại, Ngài đã khai mạc công đồng Trent năm 1545. Công đồng đã trình bày và, phần nào, định nghĩa Giáo Hội như một cơ chế cứu độ phổ quát, khách quan và được thiết lập trên ngôi Giáo Hoàng. Trước công đồng Vatican I, công đồng Trent là công đồng duy Giáo Hoàng nhất lịch sử.

Tuy vậy, cuộc cải cách nội bộ đã trở thành cuộc phản cải cách khi tôn giáo pháp đình La Mã đã được thiết lập (1542) bởi Carafa và trở nên tồi tệ khi vị sáng lập lại lên ngôi Giáo Hoàng với danh hiệu Paul IV (1555-1559). Tiếp đó, Pie V (1566-1572) đã lấy lại quan niệm trung cổ về ngôi Giáo Hoàng. Nhưng từ nay tinh thần thống trị mang sắc thái hoàn toàn khác hẳn: Đức Giáo Hoàng đã ý thức trách nhiệm của mình và đã quan niệm nhiệm vụ mình như nhiệm vụ tôn giáo. Pie V là một vị thánh. Chính với ngài mà ngôi Giáo Hoàng đã từ bỏ dứt khoát việc coi chính trị như phương tiện hành động duy nhất. Cũng chính ngài đã hoàn tất công cuộc cải cách đã được Công đồng Trent đề xướng.

2. Thời Hiện và Đương đại

Với cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Đức Pio XII chọn đường lối trung lập, vì người công giáo có cả hai bên chiến tuyến, đồng thời có thể làm trung gian hoà bình. Thời này, Đức Giáo Hoàng cho phép có nhiều thay đổi về Phụng vụ, quốc tế hoá Hồng Y đoàn, lập hàng giáo phẩm các nước truyền giáo.

Ngày 25.1.1959, đức Giáo Hàng Gioan XXIII triệu tập công đồng Vaticanô II, canh tân toàn thể Giáo Hội, đưa Giáo Hội đi vào một kỷ nguyên mới.

Sau Công đồng Vaticanô II, một luồng gió mới thổi lên trên Giáo Hội canh tân: cải cách, cải thiện, thích nghi, đối thoại, hòa đồng, dấn thân,…, đó là những danh từ rất quen thuộc trong hoạt động cũng như trên sách vở báo chí của thời hậu Công đồng. Với chủ trương và đường lối canh tân cởi mở này, không ai không nhận ra Giáo Hội Công giáo đang dần dần chuyển mình theo hướng “đem đạo vào đời” chứ không phải “đem đời vào đạo” như thời Trung cổ.

Sau cùng, với biến cố Đức Gioan Phaolô II qua đời, đã cho thấy vai trò, ảnh hưởng lớn lao của Đức Giáo Hoàng trên toàn thế giới. Vai trò của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là canh tân Giáo Hội theo hướng Vaticanô II vạch ra, đẩy mạnh đối thoại liên tôn, đại kết, tăng cường các nỗ lực xây dựng hoà bình và công lý, giúp đỡ những người nghèo khổ trong các quốc gia đang phát triển. Ngài cũng ban hành nhiều thông điệp, tông hiến, tông thư,… hướng dẫn Giáo Hội đi vào thiên niên kỷ thứ ba.

Vai trò của đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thật đáng khâm phục, với những chuyến công du tới các nước, thăm viếng tín hữu, đặt định và tham dự các ngày lễ giới trẻ, khai mạc đại năm thánh 2000, ngài đã ngỏ lời xin lỗi thế giới vì những hiểu lầm trong quá khứ, … Tất cả nói lên tấm lòng người mục tử nhân lành cũng như vai trò của một người đứng đầu Hội Thánh. Nói thế cũng có nghĩa là vai trò của vị Thủ lãnh Giáo Hội đã đạt tới mức đáng khâm phục nơi ngài.

Trong thời gian này, chúng ta vui mừng vì đã có thêm một vị Thủ lãnh Giáo Hội nữa đã hoàn tất vai trò của mình. Đồng thời mừng Đức Tân Giáo Chủ chúng ta, Đức Benedict XVI, tiếp tục thắp lên ánh sáng chân lý Đức tin để soi đường cho thế giới đang bao trùm với bóng đen của tội lỗi, của gian tà, của văn hóa sự chết. Nhất là dùng ánh sáng đó để soi cho Giáo Hội trước đám mây mù của tà thuyết tục hóa, nguy cơ của tương đối chũ nghĩa,, vật chất chũ nghĩa, hiện đại chũ nghĩa cùng những đòi hỏi phi luân của thời đại về tự do phá thai, ngừa thai… Bên cạnh đó những đòi hỏi phi lý của một thiểu số cấp tiến muốn bỏ luật độc thân Giáo sĩ, đòi cho nữ giới làm Linh mục…

KẾT LUẬN

Con thuyền tư duy nhỏ bé của Giáo Hội và vai trò của vị Thủ lãnh, từ khởi thủy nơi Phêrô cho tới nay, đã nhiều lần bị sóng gió bên trong cũng như bên ngoài uy hiếp hòng nhấn chìm. Vai trò của vị Thủ lãnh cũng bao phen thăng trầm theo thời cuộc. Thế nhưng con thuyền Giáo Hội mà vị Thủ lãnh cầm lái, dưới ánh sáng soi đường của Thánh Thần Thiên Chúa, đã và đang vượt qua bao hiểm nguy, bao thế lực mưu toan đạo đời.

Biển đời vẫn còn đó với bao nguy hiểm đang chờ đón. Thế nhưng nhìn vào lịch sử Giáo Hội, giúp chúng ta vững tin vào vai trò của vị Thủ lãnh dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Chúng ta cũng có quyền hy vọng vị Tân Thủ lãnh của chúng ta cũng sẽ dẫn dắt Giáo Hội dưới ánh sáng chân lý, hướng thẳng về bến quê bình an, nơi vị “Thủ lãnh Phêrô” đang chờ đón chúng ta.

Tu sĩ Phaolô Đậu Quốc Khánh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Joseph Lorzt (Lm. Ngô Văn Nhơn chuyển ngữ) – Lịch sử Giáo hội Công giáo – ĐCV Huế – lưu hành nội bộ.

Lm. Anrê Ngô Văn Nhơn – Giáo hội Việt Nam Công giáo sử lược – lưu hành nội bộ.

Lm. Bùi Đức Sinh – Lịch sử Giáo hội Công giáo, 2 tập – Veritas Edition – Canada 1999.

Trích từ thanhlinh.net

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.