Bài Chia Sẻ Lễ An Táng Cha Bart San

FR. BARTHOLOMEW (BART) SAN R.I.P. 10/10/2019 AGED 71

PONTIFICIAL FUNERAL MASS

FOR THE REPOSE OF THE SOUL OF

FR. BART SAN

OUR LADY OF LA VANG SHRINE, KEYSBOROUGH FRIDAY 18TH OCTOBER 2019 AT 10:30AM

Homily – Fr. Brendan Hayes

Bài chia sẻ của Cha Brendan Hayes Chuyển ngữ: Ann Nguyễn

Lời Giới Thiệu.- Nhân lễ Giỗ 100 ngày của Cha Bart San (18.01.2020), chúng tôi gởi đến bạn đọc Bài Chia Sẻ trong Thánh Lễ An Táng (18.10.2019) Cha Bart Huỳnh San do Cha Brendan Hayes, là người sống chung với ngài trên cùng một tầng nhà Chủng Viện Corpus Christi tại Clayton từ năm 1974 đến 1976, thời điểm chưa có người Việt Nam nào ở bên cạnh để chia sẻ với ngài, nhờ đó chúng ta mới biết được tâm trạng của ngài trong ngày 30 tháng tư 1975, một biến cố trong đời ngài mà ngài không bao giờ kể lại cho bất kỳ ai, ngay cả với người thân thương trong gia đình. Và gián tiếp, chúng ta mới hiểu tại sao hai áo lễ của ngài có may dải cờ vàng, một cho ngày Thụ phong Linh Mục, một cho ngày Lễ mở tay.

Có người góp ý rằng di ảnh của ngài trong Thánh Lễ An Táng nhìn quá trẻ, không hợp với tuổi đời khi ngài ra đi.

Đúng thế, quá trẻ vì đó là hình của ngài trong Thánh Lễ Tạ Ơn đầu đời Linh mục 1979 vào lúc ngài mới 31 tuổi đời, và ngài ra đi sau khi cử hành Lễ Tạ Ơn 40 năm Linh mục hai tháng, hưởng thọ 71. Hình này luôn thân thiết đồng hành với ngài đến bất cứ nơi nào ngài được bổ nhiệm. Chiếc áo lễ nói lên ngài là Chiến Sĩ Tin Mừng, màu cờ trên áo lễ nói lên ngài là Chiến Sĩ Tự Do.

Gia đình đã chọn hình này là một việc làm đúng đắn và hoàn hảo để nói về đời sống linh mục của ngài là “Mục Tử và Chiến Sĩ Tự Do” (A Priest and a Freedom Fighter). Đời ngài luôn là một Chiến Sĩ kiên cường cho yêu thương và hy vọng của Nước Trời, và là một Chiến Sĩ hăng say cho nhân quyền và tự do của Nước Việt Nam thân yêu.

Bài chia sẻ của Cha Brendan Hayes

Kính thưa Đức Tổng Giám mục Peter, các Giám mục, các Linh Mục và Tu Sĩ Nam Nữ cùng toàn thể ông bà anh chị em thân mến. Chúng ta vừa được nghe những lời tâm tình của Veronica, người cháu gái yêu quý của Cha Bart, cô đã thay mặt gia đình và tất cả chúng ta để nói về cuộc đời của Cậu mình. Về phần tôi, tôi cũng muốn chia sẻ một đôi lời về ngài

Hôm nay, chúng ta hiện diện tại Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang này để cử hành Thánh lễ An Táng cho Cha Bart Huỳnh San. Cha vẫn thường được các linh mục và nhiều người ở đây gọi là Cha Bart San.

Chúng ta tưởng nhớ và khen ngợi một người đã qua đời với tất cả lòng yêu mến cùng trân trọng, gởi gắm họ vào sự quan phòng, chăm sóc và thươnga xót của Thiên Chúa

Đối với nhiều người, lễ tưởng nhớ là dịp cho mọi người tụ họp lại trong buổi tiễn đưa người quá cố, cùng nhau vui đùa, và khi chia tay ra về, họ cảm thấy cõi lòng được an vui và ấm áp. Đôi khi người ta nói rằng họ muốn tổ chức một đám tang long trọng để khen ngợi cuộc đời của người quá cố. Tôi thiết nghĩ không phải chỉ để nhắc những chuyện đã qua mà còn là nói đến những việc sẽ xảy ra trong tương lai. Vì chúng ta tin vào sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, nên khi làm lễ tưởng niệm và khen ngợi người quá cố, chúng ta học hỏi về cuộc đời của họ và xin Thiên Chúa đón nhận họ vào cuộc sống vĩnh cửu cùng an hưởng hạnh phúc bên Ngài.

Tôi cũng tin, và tôi chắc chắn rằng tôi sẽ chia sẻ với bạn, là cái chết của một người tốt giúp chúng ta tin tưởng hơn vào lời hứa của Chúa, và tin tưởng rằng Chúa nhân từ nhìn đến những nỗ lực của chúng ta để giúp chúng ta trở thành những Kitô hữu trung thành khi chúng ta đang sống trong thế giới này.

Cha Bart San không muốn có điếu văn trong đám tang của mình. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể hiểu lý do. Cha Bart là một người trung thực, nhận thức được ưu điểm và khuyết điểm của mình. Cha cũng đã hoàn toàn tận tâm với cuộc sống của mình là một Linh mục của Giáo Hội và là một đầy tớ của người cha yêu thương.

Vì vậy, Cha Bart không muốn một điếu văn tập trung khen ngợi ngài là một người đàn ông tuyệt vời như thế nào. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể ngẫm nghĩ về cuộc sống của Cha Bart San và đánh giá cao sự chân thành, trọn vẹn và khiêm nhường của ngài tận tụy cho cuộc đời và cho sứ vụ mục tử của mình. Cha yêu thích Thánh Kinh, những lời Chúa trong Kinh Thánh, cha đã suy gẫm và viết rất nhiều về sự hiểu biết của mình về mục đích của Thiên Chúa. Cha đã có lòng sùng kính tuyệt vời đối với Đức Mẹ từ thời thơ ấu.

Tôi đã sống với Cha Bart trong chủng viện Corpus Christi tại Clayton trong khoảng ba năm từ năm 1974 đến 1976. Cha Bart là một sinh viên trong một nhóm nhỏ sinh viên Việt Nam đã được gửi đến Melbourne để học bởi Đức Giám mục Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, thuộc Giáo phận Nha Trang, sau này trở thành Hồng y.

Lúc đó là thời cao điểm của cuộc nội chiến ở Việt Nam, giữa chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam và Cộng sản kiểm soát miền Bắc Việt Nam. Khi Cha Bart nhận được tin Sàigòn rơi vào tay Cộng Sản ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cha Bart đã giam mình trong phòng chủng viện ba ngày. Chúng tôi sống trên cùng một tầng lầu, Cha không tiếp xúc với bất kỳ ai, nhịn ăn bởi vì quá đau buồn, chỉ cầu nguyện một mình với Chúa. Cha Bart không biết tin tức gì về gia đình và bạn bè ở Việt Nam. Sau đó, Đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận và cha mẹ của ngài đã viết thư nói rằng không được liên lạc với họ, vì rất nguy hiểm. Và Đức Giám mục tất nhiên như chúng ta biết Ngài đã bị giam tù trong 13 năm, trong thời gian đó 9 năm bị biệt giam. Chỉ vài năm sau đó, cha mẹ và một vài thân nhân của Đức Giám Mục Thuận được đến Úc.

Chúng ta thấy rằng, đây không phải là một điếu văn đơn giản. Các bài đọc được lựa chọn bởi gia đình cho Lễ An táng, nói về đau khổ, về đức tin và tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi người trong và qua Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Cha Bart đã nói Cha rất hạnh phúc (trong những ngày cuối đời). Vì vậy, khi chúng ta nhìn vào Sách Ai Ca (Lamentations), đó không phải là cuốn sách mà chúng ta đọc hàng ngày, nhưng tôi nghĩ đã được chọn rất thích hợp, bởi vì khi chúng ta nghe bài đọc trong Sách Ai Ca (Lamentations), chúng ta nghĩ về Cha Bart và rất nhiều người Việt Nam.

Ngôn Sứ Giêrêmia nhìn vào thành phố Jerusalem đổ nát do bị kẻ thù của dân Chúa tàn phá. Giêrêmia khi nhìn vào thành phố đã thốt lên rằng. “Tâm hồn tôi không còn bình yên. Tôi đã quên hạnh phúc. Có thể có điều gì tốt từ sự hoang vắng và bất hạnh này không? Giêrêmia nói “Tôi sẽ nói chuyện với chính tâm hồn tôi và tìm lại nó. Tôi sẽ tìm lại được hy vọng”. Hạnh phúc cho những ai tin cậy vào Chúa, và biết thinh lặng đợi chờ để được Chúa cứu.

Cha Bart San hiểu nỗi đau khổ và hy vọng đi cùng nhau như thế nào, và nhiều người trong số những người có mặt ở đây hôm nay cũng hiểu điều đó rất rõ. Đau khổ và hy vọng luôn đồng hành. Ngôn Sứ Giêrêmia đã chịu đau khổ rất nhiều vì niềm tin và sứ mệnh của mình để đem hy vọng cho dân tộc và khuyến khích các nhà lãnh đạo của dân mình biết phó thác và trông cậy vào Đức Giêsu Kitô,  Ngài là vị Ngôn Sứ tuyệt vời, là Đấng Cứu Thế, và là Con Thiên Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết cho chúng ta. Chúa Giêsu có thể không bị chết nếu Ngài thực sự muốn, nhưng Ngài chấp nhận những gì sẽ xảy ra với Ngài và chúng ta là những người đã chiến thắng. Định mệnh của chúng ta thuộc về Chúa và Cha Bart đã hiểu điều đó rất rõ.

Thánh Phaolô nói khi chúng ta nghĩ về số phận của Chúa Giêsu, hãy nhớ hy vọng không làm chúng ta thất vọng. Bởi vì tình yêu của Chúa đã được đổ vào tâm hồn chúng ta qua Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta. Cha Bart đã hiểu điều đó rất rõ. Và chúng ta cùng với ngài cũng đã hiểu điều đó.

Tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua cái chết của Chúa Giêsu, không chỉ vì người tốt mà còn vì cả người xấu nữa, vì Chúa muốn mọi người chúng ta trở thành một phần ân sủng của Thiên Chúa. Không có Chúa, sẽ có chiến tranh, có xung đột và hận thù, nhưng chúng ta được hòa giải với Chúa và với nhau thông qua Chúa Giêsu. Thật sự, chúng ta có thể thấy mỗi ngày khi chúng ta đọc báo, xem truyền hình và chúng ta thấy những gì đang xảy ra trên thế giới và ở ngay chính trên đất nước của chúng ta. Có rất nhiều công việc cần phải làm để đem đến sự hòa giải trong Chúa Giêsu. Đó là nhiệm vụ của chúng ta, sống và làm chứng cho sự hòa giải, hòa bình và tình yêu.

Cha Bart đã thấy được cuộc sống của chính mình, những gì đã đến và những gì đã xảy ra trên đất nước của mình. Đây là trận chiến của cuộc sống nhưng dưới sự bảo vệ của Thiên Chúa.

Trong một bức thư gửi Đức Tổng Giám mục Hart vào tháng 3 năm 2012, chỉ bảy năm trước, Cha Bart đã viết: “Tôi là một người lính của Chúa Kitô và Vương quốc của Ngài, tôi muốn sống và chết trong chiến trường của Chúa Kitô dưới sự lãnh đạo của vị tướng chỉ huy tôi”. Đó là ngôn ngữ mạnh mẽ. Nó được sinh ra từ ký ức chiến tranh, nhưng nó thể hiện hướng đi tuyệt vời, sự vâng phục và tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, Cha Bart đã vạch cho mình một tiến trình hành động và chắc chắn không có gì có thể tách Cha ra khỏi nó.

Để tưởng nhớ và tỏ lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang, Trung tâm Hành hương La Vang đã được thành lập ở Việt Nam vào cuối thé kỷ 18. Thật thích hợp  khi viên đá đầu tiên được đặt vào ngày 19 tháng 6 năm 1989, nhân dịp kỷ niệm năm thứ nhất phong thánh cho 117 Vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Đây chỉ là một nhóm nhỏ, còn rất nhiều Vị Tử Đạo khác. Rất nhiều điều đã được thực hiện và rất nhiều điều đang được thực hiện cho Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu cùng những ảnh hưởng của nó đang lan rộng tại Trung Tâm này mà nay được gọi là Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang

Cha Bart hiểu điều đó rất rõ. Nhiều người cũng vậy. Các bạn là những Kitô hữu Việt Nam đã làm giàu cho đất nước và giáo hội này, bởi sự hiện diện và đức tin của các bạn. Đừng bao giờ để bất cứ ai coi đó là điều hiển nhiên.

Vì vậy, bài Tin Mừng hôm nay đã nói lên điều đó. Tôi nghĩ đó là một bức tranh tuyệt vời về đức tin của Cha Bart, và nó rất thích hợp cho đám tang của Cha. Chúng ta chỉ nghe có 10 câu kể chuyện về Lazarô, Martha và Maria và Chúa Giêsu. Bài Tin Mừng này còn dài hơn thế năm lần. Chúng ta học được gì từ câu chuyện này? Chúa Giêsu biết Lazarô bị bệnh nhưng đã nhắn tin cho anh, đến gặp anh, biết anh không khỏe. Chúa Giêsu đã không vội vã đi đến đó. Tại sao vậy? Có phải Chúa không có quan tâm gì với bạn mình? Không, sự trì hoãn này có mục đích, Thánh Gioan đã viết nó rất khéo léo. Martha đã thưa với Chúa:  Em con đã chết bốn ngày rồi.

Nếu Thầy có mặt ở đây thì Thầy có thể đã làm được gì, nhưng cả bây giờ đây con biết Thầy sẽ làm điều gì đó. Đúng, Chúa Giêsu nói: Em con sẽ sống lại. Vâng, con biết, bà Martha nói: “em con sẽ sống lại trong ngày sau hết”. Và Chúa Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Nếu con tin điều đó, con sẽ có sự sống đời đời. Con có tin điều đó không?” Vâng, con tin, bà Martha thưa: “Con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, là Đấng phải đến trong thế gian này”. Chúng ta có thể thấy được tại sao Thánh Gioan đã viết nó theo cách này.

Martha đã tin tuyệt đối vào Chúa Giêsu. “Ngài là sự sống lại và là sự sống. Những ai tin sẽ có cuộc sống muôn đời”. Đó là đức tin của chúng ta, và đó cũng là đức tin của Cha Bart.

Tôi có thể kết thúc với một vài suy nghĩ khác. Khi chúng ta nhìn lại cuộc đời Cha Bart, điều này không xảy ra trước năm 2011, mà là 40 năm sau khi Cha Bart đến Úc, lần đầu tiên Cha mới có thể về lại Việt nam trong vòng 10 ngày để thăm thân nhân đau yếu. Vài năm sau đó, Cha Bart đã được nghỉ phép dài hạn (sabbatical leave). Ngài trở về thăm Nha Trang, đã đi Rome và cầu nguyện tại mộ của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, từng là Giám mục của Cha Bart ở Nha Trang, và sau đó được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Sài Gòn ngay trước khi Miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm, và từ đó bị tống vào tù.

Khi Cha Bart trở lại Úc, đó là một giai đoạn mới của cuộc đời Cha tại Rosebud. Đây là lần cuối cùng tôi gặp Cha Bart, khi tôi đến đây vào tháng 5 năm 2013 để ban Phép Thêm Sức. Tôi đã không gặp ngài một thời gian, nhưng khi gặp lại tôi nhận thấy ngài không đươc khỏe vì bị viêm khớp. Tôi bắt tay ngài rất nhẹ nhàng. Chúng tôi đã vui vẻ, nói chuyện, cười đùa với nhau. Nếu chúng ta so sánh bức ảnh Cha Bart ở trước mặt đây với diện mạo của tôi 40 năm về trước và hơn thế nữa, thì bây giờ chúng ta sẽ thực sự hiểu được Cha Bart như thế nào. Cả hai chúng tôi rất là đặc biệt, có thể nói là già hơn nhiều. Tôi nói tôi năm nay 70 tuổi và Cha Bart nói chính thức là 71 nhưng thực sự lớn hơn hai hoặc ba tuổi, vì không đăng ký khai sinh cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Tôi hỏi ngài về giáo xứ Rosebud, giáo dân, giáo viên và học sinh, Cha Bart nói rằng họ thực sự rất tốt. Nhìn sắc diện bên ngoài, chúng ta có thể nghĩ Cha Bart là một người đàn ông đau khổ nhưng thật ra ngài rất bình an với chính mình và với Chúa.

Vì vậy, tôi đã tự hỏi chính mình, và anh chị em hãy tự hỏi mình, chúng ta đã học được gì về tình yêu của Chúa và tình yêu của chính chúng ta từ tấm gương qua cuộc đời của Cha Bart San. “Ta là sự sống lại và là sự sống. Các con có tin điều này không? Vâng, Lạy Chúa, con tin.”

Sau cùng, tôi muốn tất cả những điều mà tôi đã chia sẻ, sẽ được thấy rõ hơn về đức tin của Cha Bart qua lá thư của Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đức Mẹ Fatima, Rosebud và bài viết từ trong tù của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Ngày sau khi Cha Bart qua đời, cô Hiệu trưởng đã viết thư cho các phụ huynh như sau: “Chúng ta sẽ nhớ cha vì cha luôn luôn nâng đỡ và khuyến khích nhà trường. Sự sốt sắng của cha trong khi dâng lễ và cầu nguyện phản ảnh chiều sâu đức tin và mối quan hệ của cha với Thiên Chúa. Cha điều chỉnh bài giảng của mình để thích hợp với trẻ em và cha thường luôn đi xuống khỏi bàn thờ để nói chuyện với chúng. Cha Bart là một người có tràn đầy niềm tin, đầy lòng trắc ẩn, cha luôn tỏ ra bình an trước những thử thách trong cuộc sống. Thật buồn cho chúng ta, cho gia đình và tất cả những người biết và yêu mến cha, vì cha không còn ở bên chúng ta nữa trong một ý nghĩa vật lý, nhưng chính cha Bart nghĩ rằng sự ra đi của cha là một điều tốt đẹp. Hôm qua sau khi kết thúc thánh lễ của trường, tôi đã yêu cầu các em hãy nhớ cha Bart trong những lời cầu nguyện. Dường như các em cầu nguyện cho cha được an nghỉ như cha hằng mong ước”.

Và Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận, đã viết vào ngày 7 tháng 10 năm 1976 từ phòng biệt giam của mình như sau: “Tôi hạnh phúc ở đây trong phòng giam này, nơi nấm trắng mọc trên chiếu ngủ của tôi, chứng tỏ Chúa đang ở với tôi, bởi vì Chúa muốn tôi sống với Chúa, Thiên Chúa của tôi. Tôi đã nói nhiều trong cuộc đời của tôi, bây giờ tôi không nói nữa. Đến lượt Chúa Giêsu nói chuyện với tôi. Tôi đang lắng nghe Chúa.”

Xin cho tôi tớ Chúa là Đấng đáng kính Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận gặp Cha Bart San tại cổng thiên đàng cùng với Thánh Phêrô dẫn đưa Cha Bart San đến cùng Thiên Chúa Hằng Sống.