Cầu Cho Cá Nhân Và Cộng Đoàn Biết Phân Định Thiêng Liêng

Trần Bá Nguyệt

Công Đồng Vaticanô II do Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII khai mạc ngày 11-10-1962.

Công Đồng được gọi là Đại Kết (Ecumenical Council) này chấm dứt đưới Triều Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ngày 08-12-1965. Công Đồng qui tụ 2.344 giám mục nghị phụ. Đã 53 năm, hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng Công Đồng vẫn còn rất mới đối với nhiều người vì chưa chắc đã có ai dám tự nhận là đã đọc hết và nghiên cứu hết những văn kiện đầy tín lý, triết lý và ý nghĩa của 16 Hiến chế, Sắc Lệnh, Tuyên Ngôn của Công Đồng, đặc biệt là những Văn Kiện liên quan đến vai trò và sứ vụ của người giáo dân mà Công Đồng gọi là Ơn Gọi Giáo Dân.

  1. Ơn gọi truyền giáo của giáo dân

Sắc Lệnh về Truyền Giáo (Ad Gentes) là một trong chín Sắc Lệnh của Công Đồng. Sắc lệnh gồm 6 chương được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và các Nghị Phụ ký ngày 07-12-1965, một ngày trước khi Công Đồng bế mạc.

Sắc lệnh Truyền Giáo AD GENTES (chương VI, Hợp tác, Mục VI) nói về bổn phận truyền giáo của giáo dân.

Từ lâu lắm rồi, người giáo dân ít ai nghĩ đến vai trò truyền giáo của mình. Sở dĩ như vậy là vì mặc dù nhận mình là Kitô Hữu (có nghĩa là “Bạn của Chúa Kitô”), nhiều giáo dân không có một ý thức rõ rệt về nhiệm vụ truyền giáo của mình. Trong cuộc sống ngoài xã hội, nhiều khi họ còn làm những chuyện ngược lại với Tình Yêu là lệnh truyền mà Thiên Chúa đã giao cho họ khi chịu phép Rửa Tội để làm con Thiên Chúa.

Họ có thể là những người đọc kinh thật nhiều, tham gia vô số hội đoàn, xung phong nắm giữ nhiều chức vụ, nhưng không phải là “men trong bột”, cũng chẳng phải là tấm gương sáng để những người chưa biết đạo nhìn vào đó mà nhận thấy hình ảnh của Thiên Chúa.

  1. Một vài việc làm cần xét lại

Đọc kinh thật nhiều để báo cáo. Có người báo cáo mỗi tuần đọc 50 tràng Mân Côi. Có người tham gia nhiều hội đoàn để mong khi chết “có nhiều người đến dự lễ tang và đọc kinh cho mình”. Có người dùng nhà Chúa, nơi gặp gỡ nhiều người, không phải để cầu nguyện, nhưng để nói xấu người khác, thêu dệt và lan truyền những chuyện “nghe nói” hay chuyện giựt gân về đời sống cá nhân hay gia đình của người khác. Có người in những tấm hình mấy em bé bệnh hoạn tật nguyền trên mạng rồi đến các cụ già, các bác lớn tuổi ăn tiền chính phủ để xin tiền, nói là để giúp cho việc cứu trợ bên Việt Nam, bên Cam-bốt, ngoài Bắc, trong Nam, trên Miền Thượng, hay cho nhà tu này, tặng nhà tu kia mà … kết cuộc, chẳng có một thư cám ơn của nơi nhà tu hay nhà trẻ khuyết tật cho biết đã nhận tiền. Rồi có chỗ, vài tháng sau, khi có người hỏi tiền trợ cấp đã gửi đến đâu thì cười trừ … “Ấy bác ơi, tội nghiệp lắm, cơ sở bị cháy hết rồi!” Huề vốn! Có cụ bà than thở, “Ấy cô ấy xin cho trại cùi, cho người tàn tật ở Việt Nam thì tôi cho vài trăm chứ có biết cô ấy dùng làm gì và cho ai đâu!!! Vì cô ấy có cho biết đã gửi cho nơi nào, cha nào hay nhà khuyết tật nào đâu!” Có người tổ chức Hội Bác ái mang danh cha này cha nọ, rồi thu tiền, chia cho người này, người nọ, mỗi năm báo cáo “Hết quỹ !!!” Lại xin tiền tiếp và lại chia nhau như “của chùa”. Có nơi, có nhóm, thâu tiền nhưng không bao giờ báo cáo cho những người đã đóng góp là tiền đã làm gì, cho những ai, còn bao nhiêu trong quỹ. Nếu có ai hỏi thì trả lời “huề vốn”: “Chuyện tiền bạc tế nhị lắm, miễn hỏi!!!” Một anh bạn dược sĩ khi về Việt nam được nhiều người nhờ một việc, “Anh vui lòng đến Anh B, chị C hỏi giùm xem có nhận được tiền xin trợ giúp hay không mà chúng tôi chẳng thấy một chữ cám ơn nào của các gia đình ấy!?” Tiền chùa mà, cứ xài “vô tư!!!”

  1. Linh đạo đời sống thiêng liêng

Ad Gentes, Chương IV, Mục III, viết, “nhà truyền giáo tương lai phải được huấn luyện về đường thiêng liêng và đạo đức để có thể thực hiện công việc cao quý này. Người ấy phải mau mắn có sáng kiến, kiên trì làm nên những việc phải làm, nhẫn nại khi gặp khó khăn, can đảm gánh chịu sự cô đơn, nhọc mệt, vất vả, vui vẻ tiếp xúc với mọi người. … Và như vậy, nhà truyền giáo phải là con người cầu nguyện.” (Bản dịch và Tóm Lược Ad Gentes của Cha Đỗ Xuân Quế, OP, trong Tủ Sách Loan Báo Tin Mừng.)

  1. Phát động việc tông đồ của giáo dân

“Hội Thánh  không được thiết lập thật sự, chưa sống trọn vẹn đầy đủ, chưa phải là dấu hiệu giữa loài người, bao lâu chưa có một bậc giáo dân đích thực làm việc và hợp tác với hàng giáo phẩm. Giáo dân là những tín hữu thuộc về Dân thiên Chúa, vừa thuộc về xã hội dân sự, thuộc về dân tộc mình. Họ sinh ra tại đó, thừa hưởng gia tài văn hoá của quê hương mình, gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc mình. Nhưng họ cũng thuộc về Chúa Kitô vì đã được sinh ra về đường thiêng liêng trong Hội Thánh, nhờ Đức Tin và Bí Tích Thánh Tẩy họ đã lãnh nhận (x. 1 Cr 15, 23). Bổn phận chính yếu của họ là làm chứng cho Chúa bằng lời nói và việc làm trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

“Các linh mục phải tôn trọng hoạt động tông đồ của giáo dân, phải huấn luyện họ về tinh thần trách nhiệm và tông đồ, đồng hành với họ trong các nỗi khó khăn, theo lời chỉ dạy trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn dân và Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo dân.” (sđd bên trên.)

  1. Câu chuyện của Triết Gia Socrates

Một hôm có người kể cho nhà hiền triết một câu chuyện “về người khác”. Nhà hiền triết chặn lại và hỏi người đó ba câu hỏi.

Thứ nhất, câu chuyện có liên quan gì đến tôi (tức là nhà hiền triết) không?

Thứ hai, câu chuyện có lợi gì cho tôi và anh không?

Thứ ba, câu chuyện ấy có thật không hay chỉ là chuyện “anh nghĩ thế hay nghe nói lại”?

Nếu cả ba câu hỏi đều được trả lời là “Không!” thì xin anh vui lòng đừng kể cho tôi nghe.

Chung quanh chúng ta có những người, đàn bà cũng như đàn ông, chuyên “buôn chuyện”. Người bình dân Việt Nam gọi là “Tám!” Nếu có ai  hỏi về nguồn gốc câu chuyện ở đâu thì được nghe câu trả lời, “ Ấy, nghe mấy đứa em nó nói!” Nhất là những chuyện tình cảm gia đình. Mấy “bà tám, ông tám” ở Việt Nam là những người mỗi ngày chờ tiền đôla bà con nước ngoài gửi về. Họ chẳng làm gì cả, mỗi này tụ tập nơi quán cóc, lề đường, góc chợ để “Tám!” Hết chuyện ông A bà B hay gia đình họ, lại đến chuyện “trong nhà ngoài ngõ”, kiểu một ngàn lẻ một chuyện cổ tích Á Rập, nói hoài không hết.

Ở bên Úc,”tám” là mỗi buổi chiều, hay sau những buổi họp mặt sinh nhật, tiệc tùng, … khi ăn uống no say, là anh  em ta bắt đầu “Tám”. Trong nhà thì phó mặc việc nhà, việc chỉ dạy bài học cho con cái, để lang thang sang chòm xóm buôn chuyện. Nơi nhà thờ, lẽ ra là chỗ cầu nguyện cho anh em mình, “tám” là moi móc, thêu dệt những chuyện xuất phát từ những nhóm “nhàn cư vi bất thiện” thích nghe nói về người khác, làm như mình là những kẻ sành đời, hiểu biết nhất. Nơi chợ búa, “tám” là những cô xồn xồn, single mom, hay những chú chàng đang đi tìm jobs, nhàn hạ chẳng biết làm gì nên rảnh rỗi một chút là “tám”.  Không tin, bạn cứ “gia nhập” một nhóm tụ tập đâu đó ngoài góc phố hay quán cà phê, trong các buổi chợ là thấy “tám” liền.

Trong đời sống làm việc, chúng tôi gặp một người bạn vong niên, Ông hơn chúng tôi một con giáp. Ông theo đạo thờ cúng tổ tiên. Ông nói Ông hiểu Kinh Thánh kha khá vì khi đi ở tù cải tạo, Ông bị nhốt chung với linh mục Lê Phong Thuận, (sau này là Giám Mục Cần Thơ – 1975. Ngài qua đời ngày 17-10-2010.) Mỗi lần nghe ai nói về một người khác là ông hỏi liền, “Cho tôi bằng chứng – Evidence!” Nếu không có bằng chứng hay chỉ là nghe nói lại là ông gạt ngay, không nghe nữa.

  1. Kết: Người Kitô Hữu giáo dân là ai, làm gì, với ai?

Ad Gentes, (Chương 2, Mục 1) ghi rõ: “Để có thể làm chứng cho Chúa Kitô cách hữu hiệu, các Kitô hữu phải tìm đến mọi người xung quanh với thái độ tôn trọng và yêu thương, phải ý thức về tư cách là thành viên của cộng đồng đang chung sống, tham gia đời sống văn hoá, xã hội qua những giao tiếp và hoạt động nhân văn; phải thân thiết với các truyền thống dân tộc và tôn giáo; hãy khám phá với niềm vui và trân trọng những hạt mầm của Lời Chúa đang tiềm ẩn trong đó; đồng thời cũng phải quan tâm đến những chuyển biến sâu xa đang diễn ra giữa các dân tộc, hãy nỗ lực giúp cho con người thời nay đừng vì quá chú tâm đến khoa học và kỹ thuật của thế giới hiện đại mà xa rời những thực tại tâm linh, nhưng biết khao khát mãnh liệt hơn nữa để đạt đến chân lý và tình thương như Chúa đã mặc khải. Chính Đức Kitô đã thấu suốt tâm tư của con người và dùng cuộc đối thoại mang đầy tính nhân bản để dẫn đưa nhân loại đến với ánh sáng thần linh. Cũng thế, những môn đệ đã thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô, cũng phải hiểu biết những người họ đang chung sống, hãy gặp gỡ trao đổi để qua cuộc đối thoại chân thành và kiên nhẫn, họ nhận ra những gia sản phong phú đã được Thiên Chúa trao ban cho các dân tộc; đồng thời cùng nỗ lực dùng ánh sánh Tin Mừng để chiếu soi, nâng cao và thu phục các gia sản đó vào chủ quyền của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ con ngưởi.”

“Họ cũng phải góp phần vào nỗ lực của các dân tộc đang đấu tranh chống lại đói nghèo, dốt nát và bệnh tật, để cố gắng kiến tạo những điều kiện sinh sống tốt đẹp hơn và củng cố hoà bình thế giới. (Sắc Lệnh Ad Gentes, Công Đồng Vaticanô II, Bản dịch của HĐGMVN, UB Giáo Lý Đức Tin, tr. 641 – 713.)